Từ khóa: chính phủ linh hoạt; đổi mới khu vực công; quản trị quốc gia; quản trị thích ứng; trách nhiệm giải trình.
Abstract: Rapid change is widening the gap between the emergence of public problems and the response cycle of public administration. This article clarifies “agile government,” distinguishes it from adaptive governance, digital government, and ad hoc responses, and proposes a framework suited to Viet Nam. Agile government is defined as an operating approach that enables the Government and public administration to anticipate change, make timely decisions, coordinate across boundaries, decentralize with safeguards, reconfigure resources, and learn continuously to create public value. The framework has three layers: a stable core of strategic goals, the rule of law, and public values; a flexible operating layer covering structures, processes, policy instruments, and resources; and a feedback loop connecting data, evaluation, learning, and accountability. The article identifies eight defining features, assessment criteria, and policy implications for adaptive institutions, mission-oriented coordination, decentralization, data governance, public workforce development, and controlled experimentation.
Keywords: agile government; adaptive governance; national governance; public sector innovation; accountability.
![]()
Những biến động địa chính trị, dịch bệnh, thiên tai cực đoan, chuyển đổi số và các mô hình kinh tế mới đang làm thay đổi điều kiện vận hành của chính phủ. Vấn đề công ngày càng lan truyền xuyên ngành, xuyên cấp và thay đổi ngay trong quá trình xử lý, trong khi thiết chế hành chính thường dựa trên phân công ổn định, quy trình tuần tự và trách nhiệm chia theo cơ quan. Sự lệch pha này làm tăng độ trễ chính sách, chi phí phối hợp và nguy cơ phân quyền không đi cùng điều kiện thực thi.
Quản trị thích ứng đòi hỏi chính phủ phản ứng trước thay đổi nhưng vẫn bảo vệ sự ổn định và trách nhiệm giải trình (Janssen & van der Voort, 2016). Nghiên cứu về “agile government” nhấn mạnh chu kỳ hành động ngắn, tổ chức liên chức năng, kết quả từng bước và cải tiến dựa trên phản hồi (Mergel et al., 2018, 2021). Tuy nhiên, các nguyên tắc từ phát triển phần mềm và quản trị doanh nghiệp không thể được sao chép máy móc vào khu vực công, nơi mọi hành động bị ràng buộc bởi thẩm quyền luật định, công bằng thủ tục, kiểm soát ngân sách và trách nhiệm xã hội. Trên thực tế, “agile” thường được vận dụng vào văn hóa làm việc, cơ chế hợp tác xuyên chức năng hoặc phương pháp quản lý công việc, tùy thuộc thể chế và văn hóa hành chính (Neumann et al., 2024).
Ở Việt Nam, Nghị quyết số 27-NQ/TW yêu cầu phát huy tính chủ động, sáng tạo trong khuôn khổ Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2022). Nghị quyết số 57-NQ/TW coi đổi mới phương thức quản trị quốc gia là nội dung của đột phá khoa học, công nghệ và chuyển đổi số, yêu cầu thể chế đi trước và khuyến khích đổi mới (Bộ Chính trị, 2024). Nghị quyết số 66-NQ/TW chỉ rõ hạn chế về phản ứng chính sách, phân cấp, phân quyền và thi hành pháp luật (Bộ Chính trị, 2025). Báo cáo chính trị tại Đại hội XIV của Đảng tiếp tục nhấn mạnh quản trị quốc gia hiện đại, phục vụ, kiến tạo; chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm và phân quyền gắn với trách nhiệm, nguồn lực, năng lực thực hiện (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026).
Các chủ trương đó tạo cơ sở quan trọng, nhưng “chính phủ linh hoạt” cần được định hình khung khái niệm, cấu trúc vận hành và tiêu chí đánh giá. Đồng nhất linh hoạt với phản ứng nhanh có thể hợp thức hóa quyết định vội vàng; đồng nhất với chính phủ số sẽ thu hẹp cải cách thành đầu tư công nghệ; gắn linh hoạt với cá nhân người đứng đầu sẽ khiến năng lực hệ thống phụ thuộc vào kinh nghiệm riêng.
Bài viết trả lời ba câu hỏi: khái niệm “chính phủ linh hoạt” nên được hiểu thế nào trong điều kiện Việt Nam; mô hình có đặc trưng và tiêu chí gì; cần ưu tiên thay đổi nào để tăng linh hoạt mà vẫn giữ kỷ luật và trách nhiệm giải trình. Trên cơ sở phân tích khái niệm, tổng hợp nghiên cứu và đối chiếu thể chế Việt Nam, bài viết xác định “chính phủ linh hoạt” như một năng lực thể chế, đề xuất kiến trúc ba lớp và tám nhóm tiêu chí có thể quan sát, đo lường.
“Chính phủ linh hoạt” có quan hệ gần nhưng không đồng nhất với quản trị thích ứng, chính phủ phản ứng nhanh, chính phủ số hoặc đổi mới khu vực công.
Quản trị thích ứng có phạm vi rộng, nhấn mạnh điều chỉnh thể chế và cân bằng giữa thay đổi, ổn định, trách nhiệm (Janssen & van der Voort, 2016); chính phủ linh hoạt tập trung vào năng lực vận hành của bộ máy hành pháp trong chu kỳ ngắn. Chính phủ phản ứng nhanh đặt trọng tâm vào tốc độ, trong khi linh hoạt còn bao gồm chất lượng quyết định, khả năng điều chỉnh và phục hồi. Chính phủ số cung cấp dữ liệu, kết nối và tự động hóa; sáu chiều chính phủ số của OECD là nền tảng quan trọng, nhưng số hóa một quy trình phân mảnh không tự tạo ra thích ứng (OECD, 2020). Đổi mới khu vực công tạo và áp dụng ý tưởng mới; linh hoạt giúp hệ thống lựa chọn, thử nghiệm, đánh giá, điều chỉnh hoặc chấm dứt sáng kiến.
Do đó, “chính phủ linh hoạt” là cấu trúc trung gian nối dự báo, thích ứng và đổi mới với hoạt động cụ thể của bộ máy hành pháp. Thuật ngữ này không làm thay đổi vị trí, chức năng và thẩm quyền hiến định của Chính phủ. Phạm vi phân tích gồm Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ và hệ thống hành chính do Chính phủ thống nhất quản lý, vì linh hoạt đòi hỏi kết nối trung ương - địa phương và giữa các cơ quan thực thi.
Trong điều kiện Việt Nam, có thể quan niệm: Mô hình “chính phủ linh hoạt” là phương thức tổ chức và vận hành của Chính phủ và nền hành chính nhà nước, dưới sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, trong khuôn khổ Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, có năng lực dự báo sớm, ra quyết định kịp thời, phối hợp xuyên ranh giới, phân quyền có kiểm soát, tái cấu trúc nguồn lực, thử nghiệm - học hỏi - điều chỉnh liên tục trên nền tảng dữ liệu và trách nhiệm giải trình, nhằm tạo ra giá trị công, phục vụ Nhân dân và thực hiện mục tiêu phát triển nhanh, bền vững.
Định nghĩa này xác lập bốn giới hạn. Đây là mô hình vận hành, không phải mô hình nhà nước mới hoặc tầng nấc tổ chức mới. Linh hoạt hướng tới giá trị công - chất lượng, công bằng, an toàn, chi phí xã hội và niềm tin - chứ không chạy theo tốc độ đơn lẻ (Moore, 1995). Linh hoạt phải được thể chế hóa bằng phạm vi, thẩm quyền, nguồn lực, thời hạn, ngưỡng rủi ro và dấu vết quyết định; vì thế đối lập cả với trì trệ lẫn tùy nghi. Cuối cùng, đây là thuộc tính của hệ thống: năng lực cá nhân không thể bù đắp cho quy trình cứng, dữ liệu chia cắt, nguồn lực không thể điều chuyển và trách nhiệm không rõ.
Mâu thuẫn trung tâm là phải thay đổi nhanh trong một hệ thống cần ổn định và giải trình được. Bài viết đề xuất kiến trúc ba lớp để xử lý quan hệ này.
Lõi ổn định gồm sự cầm quyền, lãnh đạo thống nhất của Đảng, mục tiêu chiến lược, lợi ích quốc gia, pháp quyền, quyền con người, quyền công dân, công bằng, liêm chính và giá trị công. Đây là “điểm neo” giới hạn mọi điều chỉnh.
Lớp vận hành linh hoạt gồm năm không gian có thể điều chỉnh: (1) linh hoạt về tổ chức: thành lập, điều chỉnh, giải thể nhóm nhiệm vụ theo thời hạn; (2) linh hoạt về quy trình: rút ngắn chu kỳ ra quyết định, cho phép điều chỉnh giữa chừng khi bối cảnh thay đổi; (3) linh hoạt về công cụ chính sách: thử nghiệm có kiểm soát trước khi luật hóa; (4) linh hoạt trong phân bổ nguồn lực: điều chuyển ngân sách, nhân lực trong giới hạn đã phê duyệt; và (5) linh hoạt trong tổ chức thực thi: trao quyền chủ động cho cấp gần vấn đề nhất. Linh hoạt, theo cách hiểu này, không đồng nghĩa với tùy nghi, không làm giảm nhẹ kỷ luật hành chính và không vượt khuôn khổ pháp luật; linh hoạt bền vững khi được thể chế hóa thành quy tắc rõ ràng về phạm vi, thời hạn và trách nhiệm giải trình. Mức linh hoạt phải tương xứng với năng lực và rủi ro.
Vòng phản hồi - trách nhiệm kết nối dữ liệu, tham vấn, theo dõi, đánh giá, học hỏi và giải trình. Vòng này giúp phát hiện sai lệch sớm, ghi nhận căn cứ và chủ thể quyết định; kinh nghiệm phải được chuyển hóa thành thay đổi trong quy tắc, quy trình thay vì dừng ở cá nhân (Argyris & Schön, 1996).
Lõi ổn định định hướng lớp vận hành; lớp vận hành tạo hành động; vòng phản hồi cung cấp bằng chứng để điều chỉnh và kiểm soát. Một lõi đủ vững tạo không gian chủ động; một vòng trách nhiệm đủ rõ làm cho trao quyền an toàn hơn.
Mô hình cần tuân thủ năm nguyên tắc. Một là, ổn định về mục tiêu và giá trị, linh hoạt về cách thức thực hiện. Hai là, thẩm quyền phải đi cùng nguồn lực, năng lực, dữ liệu và trách nhiệm; không giao nhiệm vụ mà thiếu điều kiện thực thi, cũng không trao quyền mà thiếu cơ chế kiểm soát. Ba là, dữ liệu và công nghệ hỗ trợ quyết định nhưng không thay thế trách nhiệm của chủ thể có thẩm quyền. Bốn là, thử nghiệm ở quy mô phù hợp, đánh giá sớm, mở rộng có điều kiện và dừng kịp thời khi rủi ro vượt ngưỡng. Năm là, đánh giá đồng thời tính hợp pháp, kết quả và giá trị công; không chuyển từ cực đoan “đúng quy trình nhưng không có kết quả” sang cực đoan “có kết quả bằng mọi cách”.
Một là, dự báo và chuẩn bị trước biến động. Năng lực này thể hiện ở theo dõi tín hiệu, phân tích xu hướng, kịch bản, bản đồ rủi ro, ngưỡng kích hoạt và diễn tập chuyển trạng thái. Nhờ đó, chính phủ chủ động định hình tương lai thay vì chỉ phản ứng (Tõnurist & Hanson, 2020).
Hai là, ra quyết định kịp thời nhưng có căn cứ. Chu trình chính sách gồm các vòng ngắn, kết quả kiểm chứng được và mốc điều chỉnh khi có dữ liệu mới. Tốc độ phải được xem cùng chất lượng, tính hợp pháp, khả năng đảo ngược và chi phí sai lầm.
Ba là, điều hành theo vấn đề và kết quả. Cơ chế nhiệm vụ liên ngành có thời hạn, một đầu mối kết quả, mục tiêu, dữ liệu và tiến độ chung được bổ sung cho quản lý theo ngành, cấp. Sự hợp tác đa chủ thể phải có quy tắc tham gia và trách nhiệm rõ (Ansell & Gash, 2008).
Bốn là, phân quyền có điều kiện và có khả năng thực thi. Quyền quyết định được đặt ở cấp gần thông tin nhất; trung ương thiết lập mục tiêu, tiêu chuẩn, nền tảng dùng chung và giám sát. Phân quyền phải tương xứng rủi ro, năng lực và đi kèm nhân lực, tài chính, dữ liệu.
Năm là, vận hành dựa trên dữ liệu và nền tảng số dùng chung. Dữ liệu được quản trị như tài sản công, có chủ thể chịu trách nhiệm về chất lượng, truy cập, liên thông và bảo vệ. Công nghệ hỗ trợ quan sát gần thời gian thực và dịch vụ theo sự kiện cuộc sống, nhưng không thay thế thể chế và con người.
Sáu là, tái cấu trúc nguồn lực theo nhiệm vụ. Nhân lực, chuyên gia, dữ liệu và kinh phí được điều phối cho nhiệm vụ ưu tiên trong giới hạn phê duyệt, thông qua ngân sách theo nhiệm vụ, mua sắm theo yêu cầu chức năng và nhóm chuyên gia có thời hạn.
Bảy là, thử nghiệm, học hỏi và cải tiến liên tục. Thử nghiệm có kiểm soát phải xác định phạm vi, thời gian, đối tượng, tiêu chí thành công, ngưỡng dừng, bảo vệ người chịu tác động và trách nhiệm quyết định. Giá trị nằm ở bằng chứng và khả năng chuyển bài học thành quy tắc chung.
Tám là, lấy giá trị công làm trung tâm và tăng cường trách nhiệm giải trình. Linh hoạt phải cải thiện kết quả nhưng giữ vững công bằng, liêm chính, an toàn và tính liên tục. Quyết định càng nhanh càng cần minh bạch, truy vết và xác định rõ trách nhiệm.
Các đặc trưng trên có thể được chuyển hóa thành khung tiêu chí đánh giá. Khung này không nhằm tạo thêm một cuộc đua xếp hạng, mà giúp cơ quan nhà nước xác định điểm xuất phát, phát hiện nút thắt và theo dõi năng lực cải tiến theo thời gian.
Bảng 1. Khung tiêu chí gợi ý đánh giá năng lực vận hành linh hoạt
|
Chiều năng lực |
Câu hỏi đánh giá trọng tâm |
Chỉ báo gợi ý |
|
Dự báo và quản trị rủi ro |
Có phát hiện sớm và chuẩn bị cho thay đổi? |
Thời gian cảnh báo; rủi ro có kịch bản, ngưỡng kích hoạt; mức cập nhật. |
|
Tốc độ và chất lượng phản ứng |
Từ nhận diện đến hành động có kết quả mất bao lâu? |
Thời gian xử lý; quyết định đúng hạn; chất lượng căn cứ; số lần phải sửa. |
|
Phối hợp theo vấn đề |
Nhiệm vụ liên ngành có mục tiêu, dữ liệu, đầu mối chung? |
Nhiệm vụ đúng hạn; mức rõ của đầu mối; thời gian chia sẻ dữ liệu. |
|
Phân quyền và năng lực thực thi |
Cấp được giao quyền có đủ điều kiện và trách nhiệm? |
Mức rõ thẩm quyền; nguồn lực đi kèm; việc phải xin lại; kết quả hậu kiểm. |
|
Dữ liệu và nền tảng số |
Dữ liệu có chất lượng, liên thông và được dùng trong quyết định? |
Tỷ lệ tái sử dụng; mức đầy đủ, kịp thời, chính xác; sự cố dữ liệu. |
|
Tái cấu trúc nguồn lực |
Nguồn lực có được điều phối theo ưu tiên và rủi ro? |
Thời gian huy động; nhóm liên chức năng; hiệu suất; mức dự phòng. |
|
Thử nghiệm và học hỏi |
Phản hồi có được chuyển hóa thành cải tiến? |
Thí điểm có đánh giá; điều chỉnh dựa trên bằng chứng; quyết định nhân rộng hoặc dừng. |
|
Giá trị công và trách nhiệm giải trình |
Kết quả có đi cùng pháp quyền, công bằng và liêm chính? |
Chi phí, thời gian, khả năng tiếp cận; mức hài lòng, công khai; sự cố; trách nhiệm. |
Nguồn: Tác giả đề xuất trên cơ sở tổng hợp Janssen và van der Voort (2016), Mergel và cộng sự (2018, 2021), OECD (2020) và World Bank (2025).
Việc áp dụng khung cần tuân thủ bốn yêu cầu. Thứ nhất, đánh giá theo nhiệm vụ và chuỗi kết quả trước khi tổng hợp ở cấp cơ quan; một chủ thể có thể linh hoạt trong cung ứng dịch vụ nhưng yếu trong phối hợp chính sách. Thứ hai, kết hợp dữ liệu định lượng với đánh giá pháp lý, phản hồi của đối tượng chịu tác động và phân tích trường hợp. Thứ ba, so sánh, và cải tiến của chính cơ quan thay vì chỉ so sánh thứ hạng giữa các địa phương có điều kiện khác nhau. Thứ tư, sử dụng chỉ số để học hỏi và quy trách nhiệm, không biến chỉ số thành mục tiêu tự thân dẫn đến lựa chọn việc dễ đo hoặc làm đẹp số liệu.
Một chu trình vận hành sáu bước có thể được dùng để quan sát các tiêu chí trong thực tế: phát hiện vấn đề; xác định đầu mối, thẩm quyền và nguồn lực; thiết kế phương án; thử nghiệm hoặc triển khai theo giai đoạn; đo lường kết quả và tiếp nhận phản hồi; quyết định điều chỉnh, nhân rộng hoặc chấm dứt. Mỗi bước phải có sản phẩm, thời hạn, dữ liệu và chủ thể chịu trách nhiệm. Điểm khác biệt so với quy trình tuyến tính là phản hồi được đưa vào ngay trong quá trình thực thi, song mọi thay đổi đều có căn cứ và được ghi nhận.
Việt Nam đang đổi mới mạnh và quyết liệt trong cải cách thể chế theo hướng kiến tạo phát triển. Những Nghị quyết chiến lược của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị trong năm 2025, 2026 (Nghị quyết số 57-NQ/TW, Nghị quyết số 66-NQ/TW, Nghị quyết số 68-NQ/TW, Nghị quyết số 19-NQ/TW…); Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025 đã tạo khuôn khổ chính trị, pháp lý cho thực hiện quyền hành pháp, quản lý nền hành chính, mô hình chính quyền địa phương hai cấp và phân định thẩm quyền (Quốc hội, 2025). Nghị quyết số 193/2025/QH15 cho phép thử nghiệm và chấp nhận rủi ro có điều kiện trong khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số (Quốc hội, 2025); Nghị định số 73/2023/NĐ-CP tạo căn cứ bảo vệ cán bộ đổi mới sáng tạo vì lợi ích chung (Chính phủ, 2023).
Nền tảng số đã tiến bộ nhưng sử dụng dữ liệu chưa đồng đều. Năm 2023, điểm Chỉ số Chính phủ số của Việt Nam đạt 0,40, cao hơn trung bình 0,37 của tám quốc gia Đông Nam Á được khảo sát; điểm Chỉ số dữ liệu mở, hữu ích và có thể tái sử dụng chỉ đạt 0,13, thấp hơn mức khu vực 0,22 (OECD/ADB, 2025). Khoảng cách này cho thấy nền tảng số chưa đồng nghĩa với chia sẻ và tái sử dụng dữ liệu. GTMI 2025 cũng chỉ mô tả mức trưởng thành GovTech, không xếp hạng hiệu quả chính phủ (World Bank, 2025).
Chính quyền địa phương hai cấp là phép thử đối với phân quyền. Nếu thẩm quyền không đi cùng nhân lực, tài chính, dữ liệu, nền tảng và hướng dẫn, điểm nghẽn chỉ dịch chuyển xuống cơ sở; nếu kiểm soát vẫn tập trung vào đầu vào, cấp dưới có thẩm quyền hình thức nhưng ít quyền chủ động thực tế.
Thứ nhất, ban hành khung vận hành “chính phủ linh hoạt”, không thiết kế thêm một mô hình tổ chức cứng. Khung cần thống nhất khái niệm, nguyên tắc, kiến trúc ba lớp, các chế độ vận hành, chu trình sáu bước và tiêu chí đánh giá. Phạm vi trước mắt nên tập trung vào nhiệm vụ liên ngành, biến đổi nhanh, có dữ liệu và đo lường được kết quả. Không nên đồng loạt gắn nhãn “linh hoạt” cho mọi hoạt động hành chính hoặc thành lập thêm cơ quan thường trực.
Khung cần phân biệt ba chế độ: thường xuyên để cải tiến hằng ngày; nhiệm vụ ưu tiên cho vấn đề liên ngành có thời hạn; khẩn cấp khi rủi ro vượt ngưỡng. Chế độ khẩn cấp có thể rút gọn quy trình theo luật định nhưng phải tăng ghi nhận, giám sát và đánh giá sau sự kiện, tránh kéo dài cơ chế đặc biệt.
Thứ hai, phát triển thể chế thích ứng trên nguyên tắc “ổn định chuẩn mực, linh hoạt công cụ và phương pháp”. Luật cần quy định rõ quyền, nghĩa vụ, thẩm quyền, giới hạn quyền lực, chuẩn kết quả và nguyên tắc bảo vệ đối tượng chịu tác động; các quy trình kỹ thuật biến đổi nhanh nên được điều chỉnh bằng tiêu chuẩn, hướng dẫn hoặc công cụ có khả năng cập nhật kịp thời. Việc chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm phải dựa trên phân loại rủi ro: lĩnh vực liên quan trực tiếp đến quyền con người, an ninh, an toàn hoặc nhóm yếu thế vẫn cần mức kiểm soát chặt; lĩnh vực có rủi ro thấp có thể tăng quyền tự quyết và hậu kiểm theo mẫu. Đánh giá tác động cần tiếp tục sau ban hành, với kế hoạch dữ liệu, mốc rà soát, cơ quan chịu trách nhiệm và tiêu chí sửa đổi hoặc chấm dứt. Thử nghiệm có kiểm soát có thể mở rộng thận trọng từ công nghệ sang một số quy trình quản trị, dịch vụ công hoặc phối hợp chưa có tiền lệ, trên cơ sở thẩm quyền rõ và bảo vệ người dân.
Thứ ba, bổ sung cơ chế điều hành theo nhiệm vụ và kết quả vào cơ cấu quản lý theo ngành, cấp. Đối với mỗi vấn đề phức hợp, cần xác định một chủ thể chịu trách nhiệm về kết quả toàn trình; các cơ quan tham gia chịu trách nhiệm phần việc theo thẩm quyền nhưng cùng sử dụng một bản đồ kết quả, tiến độ và dữ liệu. Nhóm nhiệm vụ là cấu trúc tạm thời, giải thể khi hoàn thành hoặc khi quyết định dừng; không trở thành tầng nấc trung gian mới. Người chủ trì phải có quyền tiếp cận thông tin, đề xuất điều phối nguồn lực và yêu cầu giải trình tiến độ. Có thể thí điểm với dịch vụ công theo sự kiện cuộc sống; điều phối ngập lụt, ô nhiễm hoặc thiên tai dựa trên dữ liệu; hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới theo một đầu mối; an sinh xã hội chủ động. Đây là các vấn đề đa chủ thể, có kết quả quan sát được.
Thứ tư, thực hiện phân quyền theo gói gồm thẩm quyền, nguồn lực, dữ liệu, năng lực và trách nhiệm. Bản đồ nhiệm vụ cần phân biệt: trung ương thống nhất; địa phương thực hiện theo tiêu chuẩn quốc gia; địa phương tự quyết; nhiệm vụ điều phối liên vùng. Mỗi nhiệm vụ phải có nguồn lực, tiêu chuẩn dịch vụ, hỗ trợ, giám sát và ngưỡng trung ương can thiệp. Mức phân quyền có thể khác theo độ sẵn sàng, nhưng quyền tiếp cận dịch vụ cơ bản phải thống nhất.
Thứ năm, xây dựng hạ tầng dữ liệu và năng lực phân tích như nền tảng của điều hành. Mỗi tập dữ liệu cần có cơ quan chịu trách nhiệm, tiêu chuẩn chất lượng, lịch cập nhật, quyền truy cập, cơ chế chia sẻ và bảo vệ. Chính phủ cần chuyển từ kết nối hệ thống theo từng dự án sang kiến trúc nền tảng dùng chung, cung cấp các thành phần có thể tái sử dụng cho bộ, ngành và địa phương. Trung tâm điều hành chỉ có giá trị khi dữ liệu gắn với ngưỡng cảnh báo, quy trình kích hoạt và người chịu trách nhiệm; màn hình nhiều chỉ số nhưng không dẫn đến hành động không tạo ra năng lực linh hoạt.
Sử dụng trí tuệ nhân tạo trong tham mưu và dịch vụ công phải minh bạch mục đích, kiểm soát dữ liệu và thiên lệch, bảo vệ thông tin cá nhân, có con người giám sát và xác định trách nhiệm cuối cùng. Công nghệ rút ngắn phân tích nhưng không thay thế phán đoán công vụ.
Thứ sáu, đổi mới quản trị nhân lực công và môi trường học hỏi. Khung năng lực cần bổ sung tư duy hệ thống, dự báo, dữ liệu, phối hợp, quản trị rủi ro và thiết kế thử nghiệm. Đào tạo chuyển sang tình huống, mô phỏng, dự án cải tiến và đánh giá sau khóa học. Lãnh đạo cần tạo môi trường an toàn để báo cáo vấn đề, nhận diện sai lệch sớm và điều chỉnh. Cơ chế bảo vệ cán bộ đổi mới phải thành quy trình áp dụng được. Quyết định được xem xét bảo vệ khi đúng thẩm quyền hoặc cơ chế thí điểm, vì lợi ích chung, dựa trên thông tin hợp lý, đã quản trị rủi ro, trung thực báo cáo và chủ động khắc phục. Đây là ranh giới giữa đổi mới có trách nhiệm với tùy tiện, vụ lợi.
Thứ bảy, thí điểm có thiết kế và đánh giá độc lập trước khi mở rộng. Giai đoạn đầu, Chính phủ nên lựa chọn số lượng hạn chế nhiệm vụ ở cả trung ương và địa phương, xác lập đường cơ sở theo tám chiều năng lực, công bố mục tiêu và đánh giá theo từng vòng ngắn. Mỗi thí điểm phải có quyết định cuối vòng: nhân rộng, điều chỉnh hoặc chấm dứt. Kết quả đánh giá cần xem xét đồng thời tốc độ, chất lượng, tính hợp pháp, chi phí, khả năng tiếp cận, sự hài lòng, rủi ro và trách nhiệm; không coi số lượng sáng kiến hoặc số thủ tục rút ngắn là thành công tự thân.
Sau khi có bằng chứng thực tiễn, khung tiêu chí có thể được tích hợp từng phần vào hệ thống đánh giá cải cách hành chính, chất lượng phục vụ và kết quả thực thi nhiệm vụ. Trong giai đoạn đầu, nên sử dụng như công cụ chẩn đoán và học hỏi hơn là xây dựng ngay một chỉ số tổng hợp để xếp hạng. Cách tiếp cận này giảm nguy cơ hình thức hóa và tạo điều kiện hoàn thiện phương pháp đo trước khi thể chế hóa rộng hơn.
Sự biến động nhanh của môi trường phát triển không làm mất đi giá trị của nền hành chính dựa trên pháp luật, tổ chức ổn định và trách nhiệm rõ ràng. Vấn đề là phương thức vận hành được thiết kế chủ yếu cho điều kiện ổn định cần được bổ sung năng lực dự báo, phối hợp, tái cấu trúc nguồn lực và học hỏi để xử lý các vấn đề liên ngành, biến đổi nhanh và chưa có tiền lệ. Vì vậy, “chính phủ linh hoạt” không phải là phủ định mô hình hành chính hiện hành, mà là một năng lực thể chế bổ sung nhằm rút ngắn khoảng cách từ nhận diện vấn đề đến hành động có kết quả. “Chính phủ linh hoạt” không phải là hành động nhanh bằng mọi giá, mà là hành động kịp thời trong khuôn khổ pháp quyền; phân quyền nhưng có kiểm soát; đổi mới nhưng gắn với trách nhiệm giải trình. Khi được thể chế hóa và thí điểm đúng cách, hướng tiếp cận này có thể trở thành một cấu phần quan trọng của quá trình đổi mới phương thức quản trị quốc gia, góp phần khắc phục độ trễ chính sách và tạo nền tảng thể chế để Việt Nam thực hiện mục tiêu phát triển nhanh, bền vững trong giai đoạn phát triển mới.
Đối với Việt Nam, điều kiện quan trọng đã hình thành từ chủ trương đổi mới quản trị quốc gia, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền, đột phá khoa học, công nghệ và chuyển đổi số, đổi mới xây dựng và thi hành pháp luật, phân cấp, phân quyền và tổ chức chính quyền địa phương hai cấp. Trọng tâm tiếp theo không nên là tạo thêm một chương trình cải cách hoặc một cấu trúc bộ máy mới, mà là thiết kế khung vận hành, lựa chọn nhiệm vụ thí điểm, trao quyền cùng nguồn lực và trách nhiệm, xây dựng nền tảng dữ liệu, phát triển năng lực công vụ và tổ chức vòng học hỏi có kỷ luật.
Giá trị cốt lõi của chính phủ linh hoạt có thể khái quát là: hành động kịp thời nhưng không tùy tiện; phân quyền chủ động nhưng không buông lỏng kiểm soát; thử nghiệm để học hỏi nhưng không chuyển rủi ro bất hợp lý cho xã hội; sử dụng dữ liệu và công nghệ nhưng không thay thế trách nhiệm con người. Nếu được thể chế hóa theo tinh thần đó, mô hình “chính phủ linh hoạt” có thể trở thành một hướng phát triển quan trọng của lý luận và thực tiễn quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả ở Việt Nam./.
--------------------------------------
1. Ansell, C., & Gash, A (2008), Collaborative governance in theory and practice. Journal of Public Administration Research and Theory, 18(4), 543-571. https://doi.org/10.1093/jopart/mum032
2. Argyris, C., & Schön, D. A (1996), Organizational learning II: Theory, method, and practice. Addison-Wesley.
3. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2022), Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
4. Bộ Chính trị (2024), Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
5. Bộ Chính trị (2025), Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
6. Chính phủ (2023), Nghị định số 73/2023/NĐ-CP ngày 29/9/2023 quy định về khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Nxb. Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội.
8. Janssen, M., & van der Voort, H (2016), Adaptive governance: Towards a stable, accountable and responsive government. Government Information Quarterly, 33(1), 1-5. https://doi.org/10.1016/j.giq.2016.02.003
9. Mergel, I., Ganapati, S., & Whitford, A. B (2021), Agile: A new way of governing. Public Administration Review, 81(1), 161-165. https://doi.org/10.1111/puar.13202
10. Mergel, I., Gong, Y., & Bertot, J (2018), Agile government: Systematic literature review and future research. Government Information Quarterly, 35(2), 291-298. https://doi.org/10.1016/j.giq.2018.04.003
11. Moore, M. H (1995), Creating public value: Strategic management in government. Harvard University Press.
12. Neumann, O., Kirklies, P.-C., & Schott, C (2024), Adopting agile in government: A comparative case study. Public Management Review, 26(12), 3692-3714. https://doi.org/10.1080/14719037.2024.2354776
13. OECD (2020), The OECD digital government policy framework: Six dimensions of a digital government (OECD Public Governance Policy Papers No. 2). OECD Publishing. https://doi.org/10.1787/f64fed2a-en
14. OECD/ADB (2025), Government at a glance: Southeast Asia 2025. OECD Publishing. https://doi.org/10.1787/bc89cb32-en
15. Quốc hội (2025), Luật Tổ chức Chính phủ số 63/2025/QH15 ngày 18/02/2025.
16. Quốc hội (2025), Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 72/2025/QH15 ngày 16/6/2025.
17. Quốc hội (2025), Nghị quyết số 193/2025/QH15 ngày 19/02/2025 về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc biệt tạo đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
18. Tõnurist, P., & Hanson, A (2020), Anticipatory innovation governance: Shaping the future through proactive policy making (OECD Working Papers on Public Governance No. 44). OECD Publishing. https://doi.org/10.1787/cce14d80-en
19. World Bank (2025), GovTech maturity index 2025: Tracking public sector digital transformation worldwide. World Bank Group. https://documents.worldbank.org/en/publication/documents-reports/documentdetail/099121725193511608.
PGS.TS Nguyễn Bá Chiến, Giám đốc Học viện Hành chính và Quản trị công, Ủy viên Hội đồng Lý luận Trung ương;
TS Trương Quốc Việt, Phó Trưởng khoa Khoa Hành chính học, Học viện Hành chính và Quản trị công
.
Tin tức cùng chuyên mục
Bài viết cùng tác giả