Làm rõ các căn cứ và bổ sung căn cứ tạm đình chỉ công tác
Điều 26 sửa đổi, bổ sung Điều 56 Nghị định số 170/2025/NĐ-CP tại Nghị định số 300/2026/NĐ-CP đã quy định cụ thể các căn cứ để thực hiện tạm đình chỉ công tác đối với công chức. Theo đó, công chức có thể bị tạm đình chỉ công tác khi có hành vi vi phạm về phẩm chất đạo đức, lối sống gây ảnh hưởng tiêu cực, tạo bức xúc trong dư luận, làm ảnh hưởng xấu đến uy tín của tổ chức và cá nhân. Bên cạnh đó, trường hợp công chức cố tình trì hoãn, đùn đẩy, né tránh trách nhiệm, không thực hiện công việc thuộc thẩm quyền theo chức năng, nhiệm vụ được giao cũng thuộc diện xem xét tạm đình chỉ công tác.
Nghị
định số 300/2026/NĐ-CP góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý đội ngũ
công chức, tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong thực thi công vụ
Nghị định số 300/2026/NĐ-CP cũng quy định trường hợp công chức có hành vi nhũng nhiễu, tiêu cực, gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức trong quá trình thực thi công vụ là một trong những căn cứ để áp dụng biện pháp tạm đình chỉ công tác. Đồng thời, công chức đang bị xem xét xử lý kỷ luật nhưng cố ý trì hoãn, trốn tránh việc chấp hành yêu cầu của cấp có thẩm quyền hoặc lợi dụng chức vụ, quyền hạn, ảnh hưởng của mình hoặc của người khác để tác động, gây khó khăn cho quá trình xem xét, xử lý vi phạm cũng thuộc trường hợp được xem xét tạm đình chỉ công tác.
Ngoài ra, Nghị định quy định việc tạm đình chỉ công tác đối với công chức bị kỷ luật đảng bằng hình thức cảnh cáo hoặc cách chức và đang trong thời gian chờ xem xét xử lý chức vụ chính quyền nếu việc tiếp tục công tác có thể ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động của cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, tổ chức, đơn vị. Bên cạnh các trường hợp cụ thể, Điều 56 còn quy định trường hợp khác theo quy định của pháp luật hoặc theo đề nghị của cơ quan có thẩm quyền. Việc quy định cụ thể các căn cứ nêu trên góp phần tạo cơ sở pháp lý rõ ràng cho việc áp dụng biện pháp tạm đình chỉ công tác, đồng thời bảo đảm tính thống nhất trong quá trình tổ chức thực hiện.
Một nội dung đáng chú ý của Điều 56 là quy định riêng về các trường hợp tạm đình chỉ công tác khi có dấu hiệu vi phạm nghiêm trọng. Theo đó, công chức bị khởi tố bị can để phục vụ công tác điều tra sẽ thuộc trường hợp thực hiện tạm đình chỉ công tác.
Bên cạnh đó, trong quá trình xem xét, xử lý hành vi vi phạm của công chức, nếu có cơ sở xác định phải xử lý kỷ luật từ hình thức cảnh cáo trở lên hoặc có dấu hiệu phải xử lý bằng pháp luật hình sự và cơ quan thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử hoặc thi hành án có văn bản đề nghị thì công chức cũng được xem xét tạm đình chỉ công tác. Việc bổ sung các căn cứ này góp phần bảo đảm quá trình xác minh, điều tra, xử lý vi phạm được thực hiện thuận lợi, khách quan và đúng quy định.
Xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu và quyền của công chức bị đình chỉ
Tại Điều 26 về việc sửa đổi, bổ sung Điều 56 quy định cụ thể thẩm quyền quyết định tạm đình chỉ công tác. Đối với công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý, việc quyết định tạm đình chỉ công tác thuộc thẩm quyền của người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền bổ nhiệm. Đối với công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý, thẩm quyền thuộc người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị sử dụng công chức. Đồng thời, Nghị định xác định rõ quyền hạn của người đứng đầu trong quá trình thực hiện việc tạm đình chỉ công tác. Theo đó, người đứng đầu được ban hành quyết định tạm đình chỉ công tác đối với công chức thuộc thẩm quyền mà không phải tiến hành thảo luận, biểu quyết trong tập thể lãnh đạo; được đề nghị cơ quan chức năng cung cấp thông tin, tài liệu hoặc yêu cầu kiểm tra, xác minh để làm rõ hành vi vi phạm; đồng thời có quyền yêu cầu công chức bị tạm đình chỉ chấp hành các yêu cầu của cơ quan chức năng hoặc người có thẩm quyền trong quá trình xác minh, xử lý. Việc quy định rõ thẩm quyền của người đứng đầu góp phần nâng cao trách nhiệm cá nhân trong quá trình xem xét, quyết định tạm đình chỉ công tác, đồng thời bảo đảm việc xử lý được thực hiện kịp thời khi có đủ căn cứ.
Bên cạnh việc quy định trách nhiệm của cơ quan quản lý, Điều 56 cũng xác định rõ quyền của công chức bị tạm đình chỉ công tác. Theo đó, công chức có quyền đề nghị người đứng đầu xem xét lại quyết định tạm đình chỉ nếu có căn cứ xác định việc áp dụng biện pháp này không đúng quy định. Trường hợp được cơ quan chức năng kết luận không vi phạm, không bị xử lý kỷ luật hoặc không bị xử lý hình sự thì công chức được khôi phục các quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Đối với chế độ, chính sách, Nghị định quy định công chức bị tạm đình chỉ công tác được thực hiện chế độ, chính sách như thời điểm chưa bị tạm đình chỉ. Riêng trường hợp bị tạm đình chỉ do bị khởi tố bị can hoặc theo quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng thì không tiếp tục thực hiện chế độ, chính sách kể từ khi có văn bản đề nghị của cơ quan tiến hành tố tụng và sẽ được khôi phục khi có văn bản xác định việc tạm đình chỉ là không có căn cứ. Quy định này vừa bảo đảm quyền lợi hợp pháp của công chức, vừa phù hợp với từng trường hợp tạm đình chỉ công tác.
Điều 56 tiếp tục làm rõ trách nhiệm của người đứng đầu trong quá trình thực hiện tạm đình chỉ công tác. Theo đó, khi có đủ căn cứ, người đứng đầu phải kịp thời ban hành quyết định tạm đình chỉ công tác; trường hợp việc tạm đình chỉ không đúng quy định hoặc có kết luận công chức không vi phạm thì phải hủy bỏ quyết định và báo cáo cấp có thẩm quyền quản lý. Người đứng đầu cũng chịu trách nhiệm về việc ban hành hoặc hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ công tác; đồng thời phải công bố các quyết định này trong cơ quan, tổ chức, đơn vị và gửi đến các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan. Đối với công chức bị tạm đình chỉ công tác, Nghị định quy định trách nhiệm chấp hành nghiêm quyết định tạm đình chỉ; cung cấp đầy đủ thông tin, tài liệu và thực hiện các yêu cầu của người đứng đầu hoặc cơ quan có thẩm quyền trong quá trình xác minh, xử lý vi phạm. Bên cạnh đó, các tổ chức, cá nhân có liên quan cũng phải chịu trách nhiệm đối với công tác tham mưu, đề xuất, quyết định và tổ chức thực hiện việc tạm đình chỉ công tác theo đúng chức năng, nhiệm vụ được giao.
Quy định cụ thể thời hạn và trình tự thực hiện tạm đình chỉ công tác.
Theo đó, trong trường hợp cần thiết, thời hạn tạm đình chỉ công tác không quá 30 ngày làm việc; trường hợp phải gia hạn thì thời gian gia hạn tối đa cũng không quá 30 ngày làm việc. Đối với trường hợp có dấu hiệu vi phạm nghiêm trọng thì thời hạn thực hiện theo văn bản đề nghị của cơ quan tiến hành tố tụng, thanh tra, kiểm tra, kiểm toán hoặc thi hành án. Quyết định tạm đình chỉ công tác đương nhiên hết hiệu lực khi hết thời hạn.
Về trình tự, khi có căn cứ tạm đình chỉ công tác, chậm nhất sau 02 ngày làm việc, cơ quan tham mưu về tổ chức cán bộ phải tham mưu người đứng đầu ban hành quyết định. Sau khi nhận được đề xuất, chậm nhất 01 ngày làm việc, người đứng đầu phải quyết định việc tạm đình chỉ công tác. Trường hợp có căn cứ hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ thì trong thời hạn 03 ngày làm việc, người đứng đầu phải ban hành quyết định hủy bỏ và gửi đến các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan. Đối với công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý, Nghị định quy định khi bị tạm đình chỉ công tác thì đương nhiên bị tạm đình chỉ chức vụ và không được hưởng phụ cấp chức vụ lãnh đạo trong thời gian bị tạm đình chỉ công tác.
Có thể nói, việc hoàn thiện các quy định này góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý đội ngũ công chức, tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong thực thi công vụ, đồng thời tạo cơ sở để các cơ quan, tổ chức triển khai thống nhất, đúng quy định trong quá trình quản lý, sử dụng công chức./.
ĐTB
Tin tức cùng chuyên mục
Bài viết cùng tác giả