Làm rõ căn cứ xem xét cho thôi giữ chức vụ
Một trong những nội dung đáng chú ý của Nghị định số 300/2026/NĐ-CP là tại Điều 22 sửa đổi, bổ sung Điều 52 về cho thôi giữ chức vụ, từ chức đối với công chức lãnh đạo, quản lý. So với trước đây, các quy định đã cụ thể hơn các trường hợp được xem xét cho thôi giữ chức vụ, bảo đảm việc áp dụng thống nhất trong thực tiễn. Theo quy định, việc xem xét cho thôi giữ chức vụ được thực hiện khi có một trong các căn cứ như: cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc phạm vi quản lý không hoàn thành chỉ tiêu, kế hoạch theo quy định hoặc các quyết định, quy chế, đề án, chương trình, dự án quan trọng do đơn vị chủ trì tham mưu, đề xuất ban hành bị kết luận không hiệu quả hoặc có nguy cơ gây hậu quả xấu, trừ trường hợp vì lý do bất khả kháng. Bên cạnh đó, công chức lãnh đạo, quản lý cũng có thể được xem xét cho thôi giữ chức vụ khi không kịp thời giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền, gây bức xúc trong dư luận và ảnh hưởng xấu đến uy tín của cơ quan, tổ chức, đơn vị theo kết luận của cơ quan có thẩm quyền. Một căn cứ khác được quy định là trường hợp người đứng đầu thiếu trách nhiệm, không kịp thời xử lý khi phát hiện công chức thuộc quyền quản lý trực tiếp vi phạm nghiêm trọng quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Ngoài ra, Nghị định cũng quy định việc xem xét cho thôi giữ chức vụ đối với các trường hợp khác theo quy định của Đảng hoặc quy định của pháp luật. Việc quy định cụ thể các căn cứ nêu trên góp phần xác định rõ trách nhiệm của người lãnh đạo trong quá trình tổ chức thực hiện nhiệm vụ, đồng thời bảo đảm việc xem xét cho thôi giữ chức vụ có căn cứ, minh bạch và thống nhất.
Các quy định cho
thôi giữ chức vụ, từ chức đối với công chức lãnh đạo, quản lý đã cụ thể hơn các
trường hợp được xem xét cho thôi giữ chức vụ, bảo đảm việc áp dụng thống nhất
trong thực tiễn. Ảnh minh họa
Mở rộng các căn cứ xem xét từ chức
Bên cạnh quy định về cho thôi giữ chức vụ, Điều 52 cũng sửa đổi các căn cứ để công chức lãnh đạo, quản lý tự nguyện xin từ chức. Theo đó, công chức được xem xét cho từ chức khi bản thân nhận thấy hạn chế về năng lực lãnh đạo, quản lý hoặc không còn đủ uy tín để hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao; có trên 50% số phiếu tín nhiệm thấp tại kỳ lấy phiếu tín nhiệm; hoặc vì những lý do chính đáng khác của cá nhân. Nghị định 300/2026/NĐ-CP bổ sung nhiều trường hợp gắn với trách nhiệm của người đứng đầu. Trong đó có trường hợp để cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc quyền quản lý hoặc cấp dưới trực tiếp xảy ra tham nhũng, lãng phí, tiêu cực nghiêm trọng nhưng chưa đến mức phải xem xét, xử lý kỷ luật theo quy định.
Ngoài ra, công chức lãnh đạo, quản lý còn được xem xét từ chức khi trong thời gian giữ chức vụ có hai năm không liên tiếp bị xếp loại không hoàn thành nhiệm vụ; có hành vi vi phạm về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống và bị cơ quan có thẩm quyền kết luận, đánh giá gây bức xúc trong dư luận, ảnh hưởng xấu đến uy tín của tổ chức và cá nhân.
Nghị định cũng quy định các trường hợp liên quan đến trách nhiệm nêu gương của người lãnh đạo như để người thân gồm vợ, chồng hoặc con vi phạm pháp luật, sa vào tệ nạn xã hội và bị cơ quan có thẩm quyền kết luận làm ảnh hưởng xấu đến uy tín của bản thân và cơ quan, tổ chức, đơn vị; để người khác lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để trục lợi và bị kết luận gây hậu quả nghiêm trọng, làm ảnh hưởng xấu đến uy tín của cá nhân và tổ chức, trừ trường hợp bản thân không biết.
Đặc biệt, Nghị định bổ sung trường hợp công chức lãnh đạo, quản lý không dám làm, không dám chịu trách nhiệm, đùn đẩy, né tránh trách nhiệm, không thực hiện công việc thuộc thẩm quyền theo chức năng, nhiệm vụ được giao và bị cơ quan có thẩm quyền kết luận, đánh giá gây hậu quả rất nghiêm trọng, tạo dư luận xấu, bức xúc trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. Việc bổ sung các căn cứ này cho thấy quy định không chỉ xem xét trách nhiệm đối với kết quả thực hiện nhiệm vụ mà còn đặt ra yêu cầu cao hơn về tinh thần trách nhiệm, bản lĩnh của người lãnh đạo, quản lý trong quá trình thực thi công vụ.
Phân định rõ giữa từ chức, cho thôi giữ chức vụ và miễn nhiệm
Điểm mới của Điều 52 còn thể hiện ở việc quy định rõ cách xử lý đối với từng trường hợp. Theo đó, đối với trường hợp công chức có trên 50% số phiếu tín nhiệm thấp nhưng không có đơn từ chức thì cơ quan có thẩm quyền xem xét cho thôi giữ chức vụ. Đối với các trường hợp như để xảy ra tham nhũng, lãng phí, tiêu cực nghiêm trọng; có hai năm không liên tiếp không hoàn thành nhiệm vụ; vi phạm về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống; để người thân vi phạm pháp luật gây ảnh hưởng đến uy tín; để người khác lợi dụng chức vụ, quyền hạn để trục lợi; hoặc không dám làm, né tránh trách nhiệm, nếu công chức không tự nguyện từ chức thì cơ quan có thẩm quyền sẽ xem xét miễn nhiệm theo quy định tại Điều 53 của Nghị định. Quy định này góp phần phân định rõ trách nhiệm giữa việc tự nguyện từ chức với việc cơ quan có thẩm quyền áp dụng hình thức miễn nhiệm khi công chức không chủ động thực hiện trách nhiệm của mình.
Quy định cụ thể các trường hợp chưa xem xét từ chức
Để bảo đảm tính ổn định trong hoạt động của bộ máy hành chính, Nghị định cũng quy định 03 trường hợp không xem xét từ chức hoặc cho thôi giữ chức vụ. Đó là trường hợp công chức đang đảm nhận nhiệm vụ liên quan đến quốc phòng, an ninh quốc gia, nhiệm vụ trọng yếu, cơ mật và việc từ chức có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị; trường hợp đang trong thời gian chịu thanh tra, kiểm tra, kiểm toán hoặc điều tra của cơ quan có thẩm quyền; và trường hợp đã có đủ căn cứ để xem xét miễn nhiệm theo quy định. Những quy định này bảo đảm việc xem xét từ chức hoặc cho thôi giữ chức vụ không làm ảnh hưởng đến nhiệm vụ chính trị của cơ quan, tổ chức, đơn vị cũng như quá trình xem xét, xử lý của các cơ quan có thẩm quyền.
Quy trình xem xét được quy định rõ về thời hạn
Cùng với việc quy định các căn cứ, Điều 52 cũng sửa đổi quy trình xem xét cho thôi giữ chức vụ theo hướng xác định rõ trách nhiệm và thời hạn giải quyết. Theo đó, trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn từ chức, người đứng đầu cơ quan sử dụng công chức hoặc cơ quan, bộ phận tham mưu về tổ chức cán bộ có trách nhiệm trao đổi với công chức và đề xuất cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định. Sau khi nhận được văn bản đề xuất, trong thời hạn 10 ngày làm việc, cơ quan có thẩm quyền phải xem xét, quyết định việc cho thôi giữ chức vụ. Trường hợp cần thiết vì lý do khách quan thì thời hạn giải quyết được kéo dài nhưng không quá 15 ngày làm việc.
Đồng thời, Nghị định cũng quy định rõ công chức lãnh đạo, quản lý đã có đơn xin từ chức nhưng chưa được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận thì vẫn phải tiếp tục thực hiện đầy đủ chức trách, nhiệm vụ và quyền hạn được giao.
Việc quy định cụ thể về trình tự, thời hạn giải quyết giúp nâng cao tính minh bạch trong quá trình xem xét từ chức, cho thôi giữ chức vụ, đồng thời bảo đảm hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị không bị gián đoạn trong thời gian chờ quyết định của cấp có thẩm quyền./.
Pháp Đức
Tin tức cùng chuyên mục
Bài viết cùng tác giả