Tiếng Việt
Tiếng Việt Tiếng Anh

Từ “sáu nhiệm vụ cấp bách” đến “sáu văn kiện” trong kỷ nguyên mới

Ngày đăng: 08/09/2026   11:43
Đọc bài viết
Mặc định Cỡ chữ
Ngày 3/9/1945, chỉ một ngày sau khi đọc Tuyên ngôn Độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời và xác định sáu vấn đề cấp bách của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tám mươi mốt năm sau, ngày 3/9/2026, Bộ Chính trị, Ban Bí thư tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện sáu nghị quyết, chỉ thị quan trọng.

Hai sự kiện thuộc hai hoàn cảnh lịch sử khác nhau, nhưng cùng gặp nhau ở một điểm căn bản: mọi chủ trương, đường lối cuối cùng đều phải hướng tới giải quyết những vấn đề thực tiễn của đất nước, củng cố niềm tin của nhân dân và tạo động lực phát triển. Từ “cứu đói, chống dốt, xây dựng thể chế dân chủ” năm 1945 đến “phát triển không gian, con người, tư tưởng, du lịch và nguồn lực người Việt Nam ở nước ngoài” năm 2026 là sự chuyển tiếp từ nhiệm vụ giữ vững nền độc lập và đặt nền móng quốc gia sang nhiệm vụ kiến tạo năng lực phát triển trong giai đoạn mới. Điều không thay đổi là phương châm: lấy nhân dân làm trung tâm, lấy thực tiễn làm thước đo và lấy hành động làm tiêu chuẩn của hiệu quả.

Ảnh minh họa

1. Hai ngày 3/9 và một dòng chảy lịch sử

Trong lịch sử hiện đại Việt Nam, ngày 3/9 có thể được nhìn nhận như một dấu mốc đặc biệt. Ngày 3/9/1945, chỉ một ngày sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, Chính phủ lâm thời họp phiên đầu tiên dưới sự chủ trì của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong hoàn cảnh chính quyền cách mạng vừa được thành lập, đất nước đứng trước muôn vàn khó khăn, Chính phủ đã thảo luận và tán thành sáu vấn đề cấp bách do Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu ra. 

Ngày 3/9/2026, đúng 81 năm sau, Bộ Chính trị, Ban Bí thư tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện một số nghị quyết, chỉ thị của Bộ Chính trị. Hội nghị được tổ chức trực tiếp kết hợp trực tuyến, kết nối tới hơn 35.000 điểm cầu, với hơn 3,7 triệu đại biểu tham dự. 

Nếu chỉ nhìn vào hình thức, đây là hai hội nghị cách nhau hơn tám thập niên, với nội dung và điều kiện lịch sử hoàn toàn khác nhau. Nhưng nếu nhìn từ chiều sâu của tư duy lãnh đạo và quản trị quốc gia, có thể nhận ra một sợi dây xuyên suốt: trước những yêu cầu của một giai đoạn lịch sử mới, vấn đề quan trọng nhất luôn là xác định đúng những việc cần làm và tổ chức thực hiện có hiệu quả vì lợi ích của đất nước, của nhân dân.

Năm 1945 là những việc cần làm để một quốc gia vừa giành được độc lập có thể tồn tại và đứng vững. Năm 2026 là những việc cần làm để một đất nước đã trải qua 81 năm đấu tranh, xây dựng và phát triển có thể bước vào một giai đoạn phát triển mới với năng lực, vị thế và khát vọng lớn hơn. Vì vậy, từ sáu nhiệm vụ cấp bách năm 1945 đến sáu văn kiện năm 2026 không nên được nhìn đơn thuần như một phép so sánh số học. Đó là một lát cắt cho thấy sự vận động của tư duy phát triển đất nước qua các thời kỳ lịch sử.

2. Ngày 3/9/1945: Khi độc lập phải lập tức trở thành cuộc sống của nhân dân

Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố trước quốc dân và thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Nhưng tuyên bố độc lập về mặt chính trị mới chỉ là điểm khởi đầu.

Ngày hôm sau, Chính phủ lâm thời họp phiên đầu tiên. Chính tại đây, Hồ Chí Minh đặt ra sáu vấn đề cấp bách: phát động tăng gia sản xuất, chống nạn đói; mở chiến dịch chống nạn mù chữ; tổ chức Tổng tuyển cử và xây dựng Hiến pháp; giáo dục nhân dân thực hiện cần, kiệm, liêm, chính; bãi bỏ những thứ thuế vô lý và cấm hút thuốc phiện; thực hiện tự do tín ngưỡng và đoàn kết Lương -Giáo. 

 Sáu nhiệm vụ ấy cho thấy một tư duy đặc biệt thực tế: Độc lập không thể   chỉ là một khái niệm chính trị. Một đất nước độc lập nhưng nhân dân đói thì nền độc lập chưa thể tạo thành sức mạnh xã hội. Một quốc gia có chủ quyền nhưng phần lớn dân chúng mù chữ thì quyền làm chủ chưa thể trở thành hiện thực đầy đủ. Một chính quyền cách mạng nếu không nhanh chóng xây dựng thể chế dân chủ, không củng cố đoàn kết toàn dân, không loại bỏ những tàn tích của chế độ cũ thì nền độc lập vẫn đứng trước những thử thách rất lớn.

Vì vậy, sáu nhiệm vụ cấp bách năm 1945 thực chất là một chương trình kiến tạo quốc gia tối thiểu nhưng toàn diện, bao gồm: kinh tế (cứu đói, tăng gia sản xuất); văn hóa - giáo dục (chống nạn mù chữ); chính trị - pháp lý (tổng tuyển cử, Hiến pháp); xây dựng con người (cần, kiệm, liêm, chính); chính sách xã hội (xóa bỏ những thứ thuế vô lý, bài trừ tệ nạn); đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo (bảo đảm tự do tín ngưỡng). Đặc biệt, tất cả đều quy tụ về một trung tâm: Nhân dân. Đó chính là chiều sâu của tư tưởng “nước độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”.

3. Từ giải quyết những vấn đề “sinh tử” đến kiến tạo những điều kiện “phát triển”

Nếu sáu nhiệm vụ năm 1945 tập trung vào những vấn đề “sinh tử’ của một quốc gia vừa giành độc lập, thì sáu văn kiện được quán triệt ngày 3/9/2026 phản ánh một tầng nấc khác của tư duy “phát triển”.

Sáu văn kiện gồm: Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 22/8/2026 về Chiến lược công tác tư tưởng trong bối cảnh mới; Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 22/8/2026 về phát huy tính tiên phong, gương mẫu, tinh thần đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong kỷ nguyên mới; Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 2/8/2026 về công tác người Việt Nam ở nước ngoài; Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 28/8/2026 về phát triển các vùng và tổ chức không gian phát triển quốc gia trong giai đoạn mới; Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 22/8/2026 về phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới; và Chỉ thị số 07-CT/TW ngày 13/7/2026 về đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới. 

Điểm đáng chú ý là sáu văn kiện không phải sáu mảng công việc tách biệt mà tạo thành một hệ thống liên kết giữa xây dựng Đảng, xây dựng con người, phát huy nguồn lực, tổ chức không gian phát triển và khai thác các động lực kinh tế - xã hội. Cụ thể: Nghị quyết 25 đặt vấn đề về công tác tư tưởng trong bối cảnh mới; Nghị quyết 24 đặt vấn đề về chủ thể thực thi, tức đội ngũ cán bộ, đảng viên; Nghị quyết 23 mở rộng phạm vi nguồn lực và sức mạnh dân tộc tới cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài; Nghị quyết 27 đặt vấn đề về không gian phát triển; Nghị quyết 26 xác định du lịch như một động lực kinh tế quan trọng; Chỉ thị 07 đặt nền tảng phương pháp luận, đạo đức và phong cách hành động thông qua việc học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh. 

Nếu năm 1945 là câu chuyện “có độc lập rồi phải làm gì ngay?”, thì năm 2026 có thể khái quát thành câu hỏi “có nền tảng phát triển rồi phải tổ chức sức mạnh quốc gia như thế nào để tạo ra bước phát triển mới?”

4. Từ “cứu đói” đến “tạo động lực phát triển”

Một trong những chuyển biến sâu sắc nhất nằm ở cách tiếp cận kinh tế. Năm 1945, nhiệm vụ đầu tiên là chống nạn đói. Đó là yêu cầu tồn tại trước mắt. Tăng gia sản xuất, tiết kiệm, cứu trợ người nghèo là những giải pháp trực tiếp để bảo đảm cuộc sống của nhân dân. Năm 2026, tư duy kinh tế đã chuyển sang một cấp độ khác: không chỉ giải quyết thiếu hụt mà phải tổ chức lại các nguồn lực và không gian phát triển.

Nghị quyết 27-NQ/TW về phát triển các vùng và tổ chức không gian phát triển quốc gia đặt trọng tâm vào việc phát huy tiềm năng, lợi thế của từng vùng, tăng cường liên kết và tạo ra không gian phát triển mới; Nghị quyết 26-NQ/TW về phát triển du lịch cũng thể hiện tư duy tương tự: từ khai thác một hoạt động dịch vụ sang coi du lịch là một ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới. Đây chính là sự thay đổi từ tư duy “phân bổ và giải quyết cái thiếu” sang tư duy “khơi thông và nhân lên nguồn lực”.

Nếu năm 1945 cần một hạt gạo để cứu một người dân khỏi đói, thì năm 2026 cần một cơ chế đủ tốt để một nguồn lực có thể tạo ra nhiều nguồn lực mới.

Đó là khác biệt giữa kiến quốc trong điều kiện khẩn cấp và kiến tạo phát triển trong điều kiện hội nhập và cạnh tranh toàn cầu.

5. Từ “giáo dục nhân dân” đến xây dựng con người thực hành

Một điểm nối đặc biệt có ý nghĩa giữa hai ngày 3/9 nằm ở vấn đề con người.

Năm 1945, Hồ Chí Minh đề ra nhiệm vụ “giáo dục lại tinh thần nhân dân”, thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, nhằm khắc phục những thói hư tật xấu do chế độ thực dân để lại. 

Năm 2026, Chỉ thị 07-CT/TW tiếp tục đặt con người vào vị trí trung tâm, nhưng nhấn mạnh thêm yếu tố “thực hành”. Nội dung của Chỉ thị không chỉ dừng ở học tập tư        tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh mà bổ sung và nhấn mạnh “phương pháp Hồ Chí Minh”, chuyển mạnh từ học tập sang thực hành thường xuyên, thiết thực, gắn với chất lượng thực thi nhiệm vụ và kết quả phục vụ nhân dân. 

Đây là một điểm rất đáng suy ngẫm.Trong quản trị quốc gia hiện đại, khoảng cách giữa nhận thức và hành động có thể quyết định thành bại của chính sách. Một chủ trương đúng nhưng thực hiện yếu sẽ không tạo ra kết quả. Một nghị quyết tốt nhưng thiếu trách nhiệm cá nhân sẽ khó đi vào cuộc sống. Một bộ máy có đủ quy định nhưng thiếu tinh thần dám nghĩ, dám làm có thể biến chính sách thành thủ tục. Bởi vậy, Chỉ thị 07 và Nghị quyết 24 có một mối quan hệ rất rõ: một bên xây dựng nền tảng tư tưởng, đạo đức, phương pháp; một bên nhấn mạnh chủ thể hành động là cán bộ, đảng viên.

6. Từ “Tổng tuyển cử” đến yêu cầu về trách nhiệm thực thi

Năm 1945, một trong sáu nhiệm vụ cấp bách là tổ chức Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu và xây dựng Hiến pháp dân chủ. Đó là bước đi nhằm xác lập cơ sở chính trị - pháp lý của Nhà nước mới.  Tám mươi mốt năm sau, vấn đề được đặt ra ở một tầng khác: năng lực thực thi của bộ máy và trách nhiệm của người đứng đầu.

Phát biểu tại Hội nghị ngày 3/9/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh rằng giá trị của văn kiện phải được thể hiện ở khả năng giải quyết thực tiễn; cả sáu văn kiện đã rõ về chủ trương và mục tiêu, còn điều quyết định là tổ chức thực hiện và trách nhiệm người đứng đầu. 

Đây là một chuyển dịch quan trọng trong tư duy lãnh đạo. Năm 1945, trọng tâm là xác lập một nhà nước của nhân dân. Năm 2026, trọng tâm là làm cho bộ máy nhà nước và hệ thống chính trị vận hành ngày càng hiệu lực, hiệu quả để phục vụ mục tiêu phát triển và nhân dân. Nói cách khác, từ câu chuyện “ai là chủ của đất nước?” đến câu chuyện “bộ máy phải làm gì để phục vụ tốt nhất người chủ ấy?” là một bước tiến lớn của tư duy quản trị quốc gia.

7. Từ đoàn kết trong nước đến phát huy sức mạnh cộng đồng người Việt Nam toàn cầu

Năm 1945, tự do tín ngưỡng và đoàn kết Lương - Giáo được đặt trong nhóm nhiệm vụ cấp bách. Đó là yêu cầu xây dựng khối đại đoàn kết trong một xã hội vừa thoát khỏi chế độ thuộc địa và đang đứng trước nguy cơ chia rẽ.

Năm 2026, Nghị quyết 23-NQ/TW về công tác người Việt Nam ở nước ngoài mở rộng không gian của khối đại đoàn kết dân tộc.

Trong bối cảnh hàng triệu người Việt Nam đang sinh sống, học tập và làm việc ở nhiều quốc gia, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài không chỉ là đối tượng của chính sách vận động mà còn là một nguồn lực quan trọng của quốc gia.

Nếu năm 1945, yêu cầu là tập hợp sức mạnh của nhân dân trong nước để bảo vệ nền độc lập non trẻ, thì ngày nay yêu cầu là kết nối sức mạnh của cả dân tộc trong và ngoài nước cho mục tiêu phát triển. Đó cũng là biểu hiện của một tư duy đại đoàn kết được mở rộng theo điều kiện lịch sử mới.

8. Sáu văn kiện - một chỉnh thể, không phải sáu “ngăn kéo” chính sách

Một trong những điểm cần đặc biệt lưu ý khi nghiên cứu sáu văn kiện năm 2026 là không nên tách chúng thành sáu chương trình độc lập, cần thống nhất nhận thức, nắm vững mối quan hệ hữu cơ giữa sáu văn kiện, tổ chức thực hiện đồng bộ để tạo sức mạnh tổng hợp. 

Có thể hình dung mối quan hệ ấy như sau: Tư tưởng → Con người → Hành động → Nguồn lực → Không gian → Kết quả phát triển.

Trong đó, công tác tư tưởng tạo nền tảng nhận thức; Đội ngũ cán bộ, đảng viên là lực lượng chuyển hóa chủ trương thành hành động; Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài bổ sung nguồn lực và sức mạnh dân tộc; Tổ chức không gian phát triển tạo điều kiện để các nguồn lực được phân bổ hiệu quả hơn; Du lịch là một trong những lĩnh vực có khả năng biến tài nguyên văn hóa, thiên nhiên, con người thành giá trị kinh tế; Tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh tạo nên chuẩn mực về cách làm.

Vì thế, sáu văn kiện có thể được nhìn như một hệ sinh thái chính sách, trong đó mỗi văn kiện giải quyết một mắt xích nhưng hiệu quả cuối cùng phụ thuộc vào khả năng kết nối toàn bộ hệ thống.

9. “Ngày 3/9” - từ một phiên họp Chính phủ đến một cuộc chuyển động toàn hệ thống

Ngày 3/9/1945, Chính phủ lâm thời họp phiên đầu tiên trong một đất nước vừa giành độc lập, đối diện với đói nghèo, mù chữ, những tàn tích của chế độ cũ và các nguy cơ đối với nền độc lập. 

Ngày 3/9/2026, Hội nghị toàn quốc được tổ chức tới hơn 35.000 điểm cầu, với hơn 3.7 triệu đại biểu. 

Khoảng cách về quy mô là rất lớn. Nhưng điểm quan trọng hơn là sự thay đổi về năng lực huy động và tổ chức thực hiện.

Năm 1945, một chính quyền cách mạng đang tìm cách thiết lập những thiết chế đầu tiên. Năm 2026, một hệ thống chính trị hoàn chỉnh có khả năng truyền tải một chủ trương thống nhất tới tận cơ sở trong thời gian rất ngắn. Tuy nhiên, chính quy mô ấy cũng đặt ra yêu cầu cao hơn: hội nghị càng lớn thì trách nhiệm chuyển hóa nghị quyết thành kết quả thực tế càng lớn. Hàng triệu người có thể nghe cùng một nghị quyết trong một ngày. Nhưng giá trị của nghị quyết không được đo bằng số người đã nghe, mà bằng số vấn đề được giải quyết sau khi nghe. Đây chính là tinh thần nổi bật của Hội nghị ngày 3/9/2026: không coi học nghị quyết là một thủ tục; trọng tâm là tổ chức thực hiện và trách nhiệm của người đứng đầu. 

10. Từ “việc cần làm ngay” đến “việc phải làm đến cùng”

Có thể nói, điểm gặp nhau sâu nhất giữa hai ngày 3/9 nằm ở chữ “làm”.

Năm 1945, trước những vấn đề cấp bách, Hồ Chí Minh không bắt đầu bằng những chương trình quá xa vời mà bằng những việc cụ thể: có gạo để cứu đói, có lớp học để chống mù chữ, có lá phiếu để người dân thực hiện quyền làm chủ, có chính sách để giảm gánh nặng cho dân. Đó là tư duy bắt đầu từ việc cụ thể và nhu cầu cụ thể của nhân dân.

Năm 2026, yêu cầu lại được đặt ra ở cấp độ cao hơn: mỗi nghị quyết, chỉ thị phải được cụ thể hóa thành chương trình, kế hoạch, nhiệm vụ, sản phẩm và trách nhiệm; phải rõ việc, rõ người, rõ thẩm quyền, nguồn lực, thời hạn và kết quả. 

Hai cách diễn đạt cách nhau 81 năm nhưng có chung một logic: Chủ trương phải đi vào cuộc sống. Đây là bài học có giá trị nhất khi nhìn từ ngày 3/9/1945 tới ngày 3/9/2026.

11. Giá trị xuyên thời gian: lấy dân làm gốc, lấy thực tiễn làm thước đo

Nhìn lại hành trình 81 năm, điều thay đổi căn bản là nội dung của nhiệm vụ quốc gia.

Năm 1945: đói, dốt, thể chế, tàn dư thuộc địa, đoàn kết.

Năm 2026: tư tưởng, đội ngũ, nguồn lực toàn dân tộc, không gian phát triển, du lịch, thực hành tư tưởng Hồ Chí Minh.

Nhưng điều không thay đổi là phương pháp tiếp cận là bắt đầu từ những vấn đề của thực tiễn; đặt nhân dân ở vị trí trung tâm; xác định đúng việc cần làm; huy động sức mạnh của cả hệ thống; và quan trọng nhất là biến chủ trương thành hành động, biến hành động thành kết quả.

Nếu năm 1945, Hồ Chí Minh đặt vấn đề “cứu đói” trước cả những chương trình phát triển dài hạn, thì đó chính là biểu hiện của một tư duy lãnh đạo biết lựa chọn đúng vấn đề, đúng thời điểm và đúng thứ tự ưu tiên.

Năm 2026, khi đất nước bước vào một giai đoạn phát triển mới, nguyên tắc ấy vẫn còn nguyên giá trị: Không phải mọi việc đều có thể làm cùng lúc, không phải nghị quyết nào cũng có thể triển khai theo một khuôn mẫu. Điều quan trọng là xác định đúng nút thắt của phát triển, tập trung nguồn lực, xác định rõ trách nhiệm và kiên trì theo đuổi kết quả.

12. Kết luận: Từ “cứu nước” đến “kiến tạo tương lai”

Ngày 3/9/1945, một ngày sau khi nền độc lập được tuyên bố, Chính phủ lâm thời đứng trước nhiệm vụ biến độc lập chính trị thành một trật tự quốc gia mới, trong đó người dân được sống, được học, được làm chủ và được đoàn kết.

Ngày 3/9/2026, đất nước đứng trước một nhiệm vụ mang tầm vóc khác: biến tiềm năng, nguồn lực và khát vọng phát triển thành năng lực cạnh tranh và kết quả phát triển thực chất. Một bên là sáu nhiệm vụ cấp bách; Một bên là sáu văn kiện chiến lược. Một bên là cứu đói, chống dốt, dựng chính quyền và củng cố nền độc lập; Một bên là kiến tạo tư tưởng, con người, nguồn lực, không gian và động lực phát triển.

Nhưng giữa hai bên vẫn có một mạch nguồn không đứt đoạn: mọi đường lối, chủ trương cuối cùng phải hướng về đất nước và nhân dân; mọi thành quả chính trị cuối cùng phải được kiểm chứng bằng đời sống thực tiễn; và mọi khát vọng phát triển cuối cùng phải được hiện thực hóa bằng hành động của con người.

Như vậy, nhìn từ ngày 3/9/1945 đến ngày 3/9/2026, điều đáng suy ngẫm không phải chỉ là sự giống nhau của con số “6”, mà là sự vận động của một tư tưởng xuyên suốt: Năm 1945, phải làm cho nhân dân được sống trong một nước Việt Nam độc lập. Năm 2026, phải làm cho nền độc lập ấy tiếp tục được chuyển hóa thành sức mạnh phát triển, thành thịnh vượng và thành chất lượng cuộc sống ngày càng tốt hơn của nhân dân. Đó là hành trình từ dựng nước đến phát triển đất nước, từ giải quyết những vấn đề sinh tồn đến kiến tạo những điều kiện phát triển, từ đặt nền móng của một quốc gia độc lập đến tổ chức sức mạnh của một quốc gia đang vươn mình trong kỷ nguyên phát triển mới./.

 

TS Thượng tá Trần Thị Thuý Hà, Học viện Cảnh sát nhân dân

Bài viết cùng tác giả