![]()
Người lao động đăng ký việc làm tại sàn giao dịch việc làm do Trung tâm DVVL TPHCM tổ chức
Từ khóa: Thị trường lao động, năng suất lao động, chuyển đổi số, sáp nhập đơn vị hành chính, nguồn nhân lực chất lượng cao, Việt Nam.
Abstract: The period from 2020 to 2025 marks a transformative milestone in Vietnam's labor market, concluding four decades of Đổi Mới (1986–2026) and ushering the country into a new era of development. Employing descriptive statistical methods and secondary data analysis, this study evaluates the current state of Vietnam's labor market through key indicators, including labor force size, employment structure, and labor productivity at the national level. Particular emphasis is placed on the historic institutional reforms implemented in 2025, characterized by a comprehensive restructuring of the state administrative system and the reorganization of provincial-level administrative units. The findings indicate that labor productivity has become the principal driver of economic growth; however, significant challenges remain, particularly the persistence of informal employment and the rapid pace of population aging. Based on these findings, the study proposes strategic policy recommendations aimed at enhancing the quality of human resources, improving labor market efficiency, and strengthening Vietnam's national competitiveness in the context of digital transformation and institutional modernization.
Keywords: Labor market; labor productivity; digital transformation; administrative restructuring; provincial administrative unit consolidation; high-quality human resources; Vietnam.
1. Đặt vấn đề
Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của mọi quốc gia, nguồn nhân lực luôn được xác định là yếu tố trung tâm, là tài sản lớn nhất và là thước đo hiệu quả sản xuất của nền kinh tế. Đặc biệt, trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế toàn diện, chất lượng nguồn nhân lực đã trở thành thước đo then chốt của năng lực cạnh tranh quốc gia. Đối với Việt Nam, giai đoạn 2020-2025 mang một ý nghĩa đặc biệt quan trọng, đánh dấu sự kết thúc của 40 năm đổi mới (1986-2026) và là thời điểm đất nước đứng trước ngưỡng cửa của giai đoạn phát triển mới với nhiều vận hội và khó khăn.
Nhận thức rõ tầm quan trọng này, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã xác định phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, là một trong ba đột phá chiến lược để đưa đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới. Văn kiện Đại hội XIII và XIV của Đảng tiếp tục khẳng định việc tập trung nâng cao chất lượng nguồn nhân lực gắn với cơ chế tuyển dụng, sử dụng và đãi ngộ nhân tài nhằm tạo bước chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về năng suất và hiệu quả của nền kinh tế. Đặc biệt, sự ra đời của Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc đào tạo đội ngũ nhân lực số có khả năng làm chủ công nghệ.
Tuy nhiên, thực tiễn giai đoạn 2020-2025 cho thấy thị trường lao động Việt Nam đang đối mặt với những thách thức đan xen và các biến động mang tính bước ngoặt. Năng suất lao động của Việt Nam dù có những tiến bộ nhất định, đóng góp tới 78,06% vào tăng trưởng GDP giai đoạn 2021-2025, nhưng vẫn còn khoảng cách xa so với các quốc gia trong khu vực (Tăng Văn Khiên và cộng sự, 2026). Bên cạnh đó, tình trạng thiếu hụt kỹ năng số, tỷ lệ lao động phi chính thức còn cao (chiếm 63,1% năm 2025) và tốc độ già hóa dân số nhanh đang tạo ra những thách thức tiềm ẩn cho sự phát triển bền vững. Hơn nữa, năm 2025 ghi dấu ấn bằng một bước ngoặt lịch sử về cải cách thể chế với việc sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy hệ thống chính trị và sáp nhập các đơn vị hành chính cấp tỉnh, xã. Việc chuyển sang mô hình chính quyền địa phương hai cấp và tinh giản bộ máy vừa là một cuộc cải cách hành chính đơn thuần vừa là quá trình tái cấu trúc nguồn lực quốc gia, đòi hỏi phải nâng cao hơn nữa chất lượng nguồn nhân lực nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhập và phát triển.
2. Thực trạng lao động việc làm Việt Nam giai đoạn 2020-2025
2.1. Quy mô nguồn lao động
Tính đến cuối năm 2025, dân số trung bình đạt 102,3 triệu người. Trong đó, dân số thành thị đạt 39,5 triệu người, chiếm 38,6% tổng dân số; dân số nông thôn đạt 62,8 triệu người, chiếm 61,4%; dân số nam đạt 51,0 triệu người, chiếm 49,9%; dân số nữ đạt 51,3 triệu người, chiếm 50,1%. Việt Nam hiện vẫn duy trì được lợi thế từ thời kỳ “cơ cấu dân số vàng” với dân số trong độ tuổi lao động (15-59 tuổi) chiếm gần 63% tổng dân số.
Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên là 53,6 triệu người. Xét theo cơ cấu lực lượng lao động, tỷ lệ nam tham gia lực lượng lao động đạt 53,2%, cao hơn tỷ lệ 46,8% của nữ; khu vực nông thôn chiếm 60,9%; khu vực thành thị chiếm 39,1%. Lao động có việc làm trong nền kinh tế là 52,5 triệu người. Trong đó, lao động có việc làm ở khu vực thành thị là 20,5 triệu người; khu vực nông thôn là 32,0 triệu người (Cục Thống kê, 2026, tr.97-98).
Mặc dù dân số trung bình đạt 102,3 triệu người và vẫn trong thời kỳ "dân số vàng", nhưng thị trường lao động đang đối mặt với tốc độ già hóa nhanh. Do mức sinh giảm và tuổi thọ trung bình tăng (đạt 74,7 tuổi vào năm 2025), tỷ trọng nhóm dân số trẻ (0-14 tuổi) đã giảm từ 23,5% năm 2024 xuống còn 22,8% năm 2025. Ngược lại, tỷ trọng nhóm dân số già (60 tuổi trở lên) tăng nhanh từ 14,0% lên 14,5% chỉ trong vòng một năm. Xu hướng già hóa làm suy giảm dần lợi thế về lực lượng lao động trẻ, năng động và dồi dào. Trong thời gian ngắn, điều này làm thay đổi cơ cấu lực lượng lao động theo hướng tăng tỷ trọng lao động lớn tuổi (nhóm trên 50 tuổi hiện chiếm khoảng 29,9% lực lượng lao động), gây ảnh hưởng đến khả năng thích ứng với công nghệ số và năng suất lao động chung (Tổng Cục Thống kê, 2026).
2.2. Cơ cấu nguồn lao động
Cơ cấu lao động Việt Nam giai đoạn 2020-2025 tiếp tục chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng khu vực nông nghiệp, tăng nhanh tỷ trọng khu vực dịch vụ và công nghiệp. Năm 2025, lao động có việc làm trong khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản là 13,4 triệu người, chiếm 25,6%; khu vực công nghiệp và xây dựng là 17,6 triệu người, chiếm 33,6%; khu vực dịch vụ là 21,4 triệu người, chiếm 40,8%. Sự phân hóa vùng miền cũng rất rõ rệt: trong khi Tây Nguyên vẫn phụ thuộc lớn vào nông nghiệp (67,4%), thì các trung tâm kinh tế lớn như vùng Đông Nam Bộ đã hoàn thành quá trình công nghiệp hóa với tỷ trọng nông nghiệp rất thấp (Cục Thống kê, 2025, tr.30).
Về vị thế việc làm, lao động làm công hưởng lương chiếm tỷ trọng 53,8%, lao động tự làm chiếm 34,2% và lao động gia đình chiếm 10,3%. Một đặc điểm lớn là tỷ lệ lao động phi chính thức dù đã có xu hướng giảm qua các năm (từ 70,3% năm 2020 xuống còn 63,1% năm 2025) nhưng vẫn ở mức cao. Đây vẫn là thách thức lớn của thị trường lao động khi nhóm này chủ yếu tập trung ở khu vực nông thôn (73,3%), điều này ảnh hưởng lớn đến vấn đề an sinh xã hội và chất lượng cuộc sống (Cục Thống kê, 2026, tr.97-98).
Năm 2025 ghi dấu ấn bằng một cuộc cách mạng về tổ chức bộ máy hệ thống chính trị với quy mô lớn nhất kể từ năm 1945. Việt Nam đã thực hiện sắp xếp, tinh gọn bộ máy từ Trung ương đến địa phương một cách triệt để. Mô hình chính quyền địa phương hai cấp (tỉnh, xã) được hình thành. Kết quả là giảm được 46% đơn vị hành chính cấp tỉnh và 66,9% đơn vị hành chính cấp xã. Kể từ ngày 01/7/2025, toàn quốc chuyển sang vận hành với 34 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thay vì 63 như trước đây. Các cơ quan chuyên trách, đơn vị sự nghiệp công lập cũng được sắp xếp lại đồng bộ, tinh gọn, hiệu lực và hiệu quả (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.9-11).
2.3. Chất lượng nguồn nhân lực
Chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam giai đoạn 2020-2025, có sự cải thiện rõ rệt nhưng vẫn chưa tương xứng với yêu cầu chuyển đổi số và phát triển kinh tế theo chiều sâu. Tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở lên có bằng cấp, chứng chỉ tăng dần qua các năm, từ 24,1% năm 2020 lên 28,4% năm 2024 và ước đạt 29,3% vào năm 2025. Trong đó, nhóm có trình độ đại học trở lên luôn chiếm tỷ trọng cao nhất và có tốc độ tăng nhanh nhất. Song, có sự chênh lệch lớn về chất lượng lao động giữa thành thị và nông thôn. Năm 2025, tỷ lệ lao động qua đào tạo ở khu vực thành thị đạt 43,0%, cao gấp hơn 2 lần so với khu vực nông thôn (20,5%). Đồng bằng sông Hồng là vùng dẫn đầu cả nước về chỉ số này (41,1%), trong khi Đồng bằng sông Cửu Long vẫn ở mức thấp nhất (16,8%) (Cục Thống kê, 2026, tr.172-173).
Năng suất lao động được xác định là thước đo cốt lõi của sự phát triển và là yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia. Đến năm 2025, năng suất lao động toàn nền kinh tế theo giá hiện hành ước đạt khoảng 244,8 - 245,0 triệu đồng/lao động (tương đương khoảng 9.802 - 9.809 USD), tăng hơn 600 USD so với năm 2024. Theo giá so sánh, năng suất lao động năm 2025 tăng 6,83%. Bình quân giai đoạn 2021-2025, năng suất lao động tăng khoảng 4,78% - 5,23%/năm. Năng suất lao động có sự phân hóa mạnh mẽ giữa các ngành kinh tế. Ngành Khai khoáng và Hoạt động chuyên môn khoa học công nghệ có mức năng suất lao động cao nhất (lần lượt đạt 1.462 triệu đồng và 638,7 triệu đồng/lao động vào năm 2025). Về địa phương, Hà Nội (378,9 triệu đồng) và Bắc Ninh (286,3 triệu đồng) là những nơi có năng suất lao động dẫn đầu cả nước (Cục Thống kê, 2026, tr.176-179). Dù vậy, so với các nước trong khu vực, Việt Nam vẫn còn khoảng cách lớn.
3. Giải pháp phát triển thị trường lao động trong kỷ nguyên mới
Để hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước và đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế số trong kỷ nguyên mới, Việt Nam cần triển khai đồng bộ các nhóm giải pháp đột phá, lấy công nghệ làm động lực và con người làm trung tâm.
Trước hết, cần thực hiện bước đột phá về đổi mới căn bản giáo dục và đào tạo theo tinh thần Nghị quyết số 71-NQ/TW, chuyển mạnh từ việc trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học, ưu tiên đào tạo kỹ năng số, ngoại ngữ và tư duy sáng tạo. Đặc biệt, Việt Nam cần kế thừa bài học lịch sử để phát động phong trào "Bình dân học vụ số" trên quy mô toàn dân nhằm xóa mù công nghệ và phổ cập trí tuệ nhân tạo (AI), giúp mọi tầng lớp nhân dân đều có thể tham gia hiệu quả vào xã hội số.
Thứ hai, tập trung nguồn lực đào tạo nhân lực cho các ngành công nghệ mũi nhọn và chiến lược, quyết liệt thực hiện mục tiêu hình thành đội ngũ 50.000 kỹ sư vi mạch bán dẫn và nhân gia AI chất lượng cao để nắm bắt cơ hội từ chuỗi cung ứng toàn cầu. Giải pháp này phải dựa trên mô hình liên kết "bốn nhà" (Nhà nước - Nhà trường - Nhà khoa học - Nhà doanh nghiệp), trong đó doanh nghiệp đóng vai trò trung tâm, trực tiếp tham gia thiết kế chương trình và đặt hàng đào tạo theo nhu cầu thực tiễn của thị trường lao động số.
Thứ ba, cần hoàn thiện thể chế và chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài một cách vượt trội thông qua việc thực thi hiệu quả Nghị định số 179/2024/NĐ-CP, đồng thời cải cách mạnh mẽ chính sách tiền lương và nhà ở để giữ chân người tài, hạn chế tình trạng "chảy máu chất xám".
Thứ tư, tối ưu hóa quản trị nguồn nhân lực trong bối cảnh bước ngoặt cải cách bộ máy năm 2025. Việc sáp nhập các đơn vị hành chính để hình thành mô hình chính quyền địa phương hai cấp (tỉnh, xã) với quy mô 34 tỉnh, thành phố mới đòi hỏi một quá trình tái cấu trúc và đào tạo lại (reskilling) khổng lồ cho đội ngũ cán bộ khu vực công. Điều này cần được hỗ trợ bởi hệ thống hạ tầng dữ liệu lao động quốc gia liên thông từ Trung ương đến tận cấp xã, giúp dự báo chính xác nhu cầu nhân lực và hỗ trợ chuyển đổi việc làm theo thời gian thực.
Thứ năm, thúc đẩy triển khai Quản lý nguồn nhân lực xanh (GHRM) tại các doanh nghiệp nhằm nâng cao ý thức bảo vệ môi trường của người lao động, gắn phát triển sản xuất với bảo vệ hệ sinh thái, giúp nguồn nhân lực Việt Nam đủ sức cạnh tranh và thâm nhập sâu vào các thị trường quốc tế bền vững. Sự phối hợp sâu sắc giữa đột phá về thể chế, công nghệ và giáo dục sẽ là chìa khóa để nâng cao năng suất lao động xã hội, đưa Việt Nam phát triển lâu dài.
4. Kết luận
Giai đoạn 2020-2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng của thị trường lao động Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ và cải cách thể chế được đẩy nhanh nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của kỷ nguyên mới. Kết quả nghiên cứu cho thấy quy mô và cơ cấu lao động tiếp tục chuyển dịch theo hướng hiện đại hơn, năng suất lao động từng bước được cải thiện và ngày càng đóng vai trò là động lực quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, thị trường lao động vẫn đối mặt với nhiều thách thức, bao gồm tỷ lệ lao động phi chính thức còn cao, chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu của nền kinh tế số, chênh lệch về kỹ năng giữa các vùng, ngành và tốc độ già hóa dân số ngày càng nhanh.
Đặc biệt, cải cách tổ chức bộ máy và sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh năm 2025 tạo ra bước ngoặt thể chế quan trọng, mở ra cơ hội tái cấu trúc không gian phát triển và phân bổ nguồn lực theo hướng hiệu quả hơn. Trong bối cảnh đó, thị trường lao động cần được phát triển đồng bộ với quá trình đổi mới thể chế, chuyển đổi số và nâng cao chất lượng quản trị nhà nước nhằm tăng cường khả năng thích ứng của lực lượng lao động trước những biến đổi của nền kinh tế số và hội nhập quốc tế.
Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất tiếp tục hoàn thiện thể chế thị trường lao động hiện đại, thúc đẩy phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đẩy mạnh đào tạo và nâng cao kỹ năng số, mở rộng việc làm chính thức, đồng thời tăng cường liên kết giữa giáo dục, đào tạo và nhu cầu của thị trường lao động. Bên cạnh đó, việc kết hợp hài hòa giữa chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi xanh sẽ là nền tảng quan trọng để nâng cao năng suất lao động, tăng cường năng lực cạnh tranh quốc gia và hiện thực hóa mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045.
Tài liệu tham khảo
1.Bộ Chính trị. (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Hà Nội.
2.Bộ Chính trị. (2025). Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo. Hà Nội.
3.Chính phủ. (2024), Nghị định số 179/2024/NĐ-CP quy định chính sách thu hút, trọng dụng người có tài năng. Hà Nội.
4.Cục Thống kê. (2025). Báo cáo điều tra lao động việc làm năm 2024. Nxb. Lao động. Hà Nội.
5.Cục Thống kê. (2026). Niên giám thống kê năm 2025. Nxb. Thống kê.
6.Đảng Cộng sản Việt Nam. (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Hà Nội.
7.Tăng Văn Khiên, Nguyễn Thị Mão. (2026). Năng suất lao động của Việt Nam giai đoạn 2021-2025. Tạp chí Khoa học và 8.Công nghệ Việt Nam. https://vjst.vn/nang-suat-lao-dong-cua-viet-nam-giai-doan-2021-2025-82673.html
9.Tổng Cục Thống kê. (2026). Thông cáo báo chí về tình hình dân số, lao động, việc làm quý IV và năm 2025. Hà Nội.
Nguyễn Thị Hương - Trường Đại học Lao động - Xã hội, CSII, TP.HCM
Tin tức cùng chuyên mục
Bài viết cùng tác giả