Từ khoá: Chuyển đổi số; công tác biên tập; Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật; quản trị số; vòng đời bản thảo.
Abstract: This article examines the shift from digitization to digital governance in editorial work at the Su That National Political Publishing House. Based on an analysis of the current implementation of digital transformation, the article identifies gaps in process integration, data governance, and work organization within the digital environment. On this basis, it proposes a shift from digitizing individual stages to unified governance of the entire manuscript lifecycle, with data, digital processes, digital competence, and controlled technology as the foundations. This approach contributes to innovating the governance of editorial work while improving the quality, efficiency, and controllability of publishing activities.
Keywords: Digital transformation; editorial work; the Su That National Political Publishing House; digital governance; manuscript lifecycle.
![]()
1. Đặt vấn đề
Chuyển đổi số đang trở thành yêu cầu quan trọng đối với các cơ quan, tổ chức nhằm đổi mới phương thức hoạt động, quản trị và nâng cao hiệu quả thực hiện nhiệm vụ. Ở Việt Nam, chuyển đổi số được xác định là một động lực quan trọng của phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và hiện đại hóa phương thức quản trị quốc gia (Bộ Chính trị, 2024). Trong lĩnh vực xuất bản, chuyển đổi số không chỉ dừng lại ở số hóa nội dung, sử dụng phần mềm mà còn đòi hỏi đổi mới quy trình nghiệp vụ, phương thức phối hợp và quản trị dữ liệu, trong đó công tác biên tập giữ vai trò trung tâm. Đối với Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, yêu cầu này càng có ý nghĩa quan trọng do đặc thù xuất bản chính trị, lý luận, đòi hỏi cao về tính chính xác, chính trị, pháp lý và định hướng tư tưởng. Thời gian qua, Nhà xuất bản đã triển khai nhiều hoạt động chuyển đổi số, từng bước số hóa công tác biên tập. Thực tiễn ở Nhà xuất bản Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật cho thấy, quá trình này còn những hạn chế về tính đồng bộ của quy trình, quản lý và chia sẻ dữ liệu, khả năng liên thông giữa các khâu và năng lực ứng dụng công nghệ của đội ngũ biên tập viên. Các quy định mới của Nhà xuất bản tạo bước chuyển quan trọng khi xử lý công việc trên môi trường số từng bước được xác lập như phương thức làm việc chính thức. Điều này đặt ra yêu cầu tiếp tục “số hóa” các công đoạn biên tập, chuyển sang tổ chức và quản trị toàn bộ quy trình dựa trên dữ liệu, hệ thống số và sự liên thông giữa các chủ thể (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, 2026a).
2. Từ số hóa đến quản trị số trong công tác biên tập - những vấn đề lý luận
2.1. Số hóa, số hóa quy trình và chuyển đổi số trong công tác biên tập
Sự phát triển của công nghệ số làm thay đổi phương thức tạo lập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin. Cần phân biệt số hóa, số hóa quy trình và chuyển đổi số. Số hóa là chuyển thông tin từ dạng vật lý hoặc tương tự sang dạng số; số hóa quy trình sử dụng công nghệ để cải thiện quy trình hiện có; còn chuyển đổi số tạo ra thay đổi có tính hệ thống về tổ chức, vận hành và tạo giá trị (Verhoef et al., 2021, pp. 889 - 901).
Đối với công tác biên tập, số hóa thể hiện ở chuyển bản thảo giấy thành tệp điện tử, sử dụng phần mềm và lưu trữ hồ sơ số. Số hóa quy trình mở rộng sang tiếp nhận, phân công, phản biện, thẩm định, trao đổi với tác giả, hiệu đính, đọc kiểm tra, chế bản, theo dõi tiến độ và lưu trữ. Chuyển đổi số tạo ra thay đổi sâu hơn: quy trình được tái cấu trúc, dữ liệu được chuẩn hóa và liên thông, các chủ thể phối hợp trên môi trường số và thông tin được khai thác để hỗ trợ quyết định.
Qua nghiên cứu từ thực tiễn tại Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, có thể xác định: Chuyển đổi số trong công tác biên tập là quá trình đổi mới tổng thể phương thức tổ chức, thực hiện và quản trị trên nền tảng công nghệ số, dữ liệu số, hệ thống số và quy trình số. Trọng tâm là hình thành phương thức quản trị xuyên suốt vòng đời bản thảo, nâng cao chất lượng, hiệu quả, tính minh bạch, khả năng truy xuất và năng lực kiểm soát.
2.2. Từ chuyển đổi số đến quản trị số trong công tác biên tập.
Chuyển đổi số đặt ra đồng thời yêu cầu đổi mới công cụ và phương thức quản trị. Nếu số hóa tập trung vào đối tượng và dữ liệu, số hóa quy trình tập trung vào cách thức thực hiện công việc thì quản trị số tập trung vào tổ chức, điều hành, kiểm soát và ra quyết định dựa trên công nghệ, dữ liệu và quy trình số. Đây là bước chuyển từ “làm việc bằng công nghệ” sang “quản trị công việc trên nền tảng số”.
Trong công tác biên tập, quản trị số thể hiện trước hết ở việc quản lý thống nhất toàn bộ vòng đời bản thảo, từ tiếp nhận, phân công, thẩm định, biên tập, phản biện, hiệu đính, đọc kiểm tra đến duyệt xuất bản, lưu trữ và khai thác sau xuất bản. Mỗi bản thảo cần có hồ sơ số thống nhất về tác giả, tình trạng xử lý, phiên bản, ý kiến phản biện, kết quả thẩm định, lịch sử chỉnh sửa và quyết định liên quan. Nhờ đó, nhà quản lý có thể theo dõi tiến độ, xác định trách nhiệm, nhận diện điểm nghẽn và sử dụng dữ liệu phục vụ điều hành.
Quản trị số đòi hỏi liên thông dữ liệu và quy trình giữa biên tập, chế bản, in, phát hành, lưu trữ và quản lý xuất bản phẩm. Dữ liệu được tạo ra ở một khâu cần có khả năng khai thác ở các khâu tiếp theo. Với khối lượng lớn hồ sơ tác giả, tài liệu tham khảo, phiên bản chỉnh sửa, ý kiến phản biện và lịch sử xử lý, hệ thống dữ liệu tập trung và chuẩn hóa là nền tảng quan trọng của mô hình biên tập số.
Khi dữ liệu về bản thảo, tiến độ, thời gian xử lý, số lần chỉnh sửa, kết quả thẩm định và lỗi phát sinh được tích lũy có hệ thống, dữ liệu trở thành nguồn lực quản trị. Nhà quản lý có thể đánh giá năng suất, nhận diện khâu chậm trễ, phân bổ nguồn lực, dự báo khối lượng công việc và cải tiến quy trình. Theo Vial (2019, pp.118 - 144), giá trị của công nghệ được phát huy khi tích hợp vào phương thức vận hành và quản trị.
Từ cách tiếp cận trên, quản trị số trong công tác biên tập có thể được nhận diện qua một số yêu cầu cơ bản: (1) Quản trị theo quy trình số. Các công đoạn cần được chuẩn hóa thành quy trình điện tử thống nhất, xác định đầu vào, đầu ra, trách nhiệm, thời hạn và điểm kiểm soát; đồng thời rà soát, đơn giản hóa các khâu trung gian và thao tác lặp lại. (2) Quản trị dựa trên dữ liệu dùng chung. Dữ liệu bản thảo cần được chuẩn hóa, cập nhật thống nhất và chia sẻ giữa các bộ phận, tạo cơ sở quản lý thông tin và ra quyết định dựa trên dữ liệu. (3) Quản trị liên thông và phối hợp số. Hệ thống cần hỗ trợ biên tập viên, tác giả, chuyên gia phản biện, lãnh đạo và các bộ phận chế bản, in, phát hành phối hợp theo phạm vi trách nhiệm được xác định. (4) Quản trị lấy con người làm trung tâm. Công nghệ hỗ trợ dò lỗi, so sánh phiên bản, tìm kiếm tài liệu, thống kê thuật ngữ và theo dõi tiến độ, tạo điều kiện để biên tập viên tập trung vào kiểm chứng tư liệu, đánh giá lập luận và xử lý các vấn đề chính trị, tư tưởng, khoa học, pháp lý. (5) Quản trị công nghệ gắn với chất lượng, an toàn và trách nhiệm. Công nghệ hỗ trợ phát hiện lỗi, đối chiếu dữ liệu và cảnh báo nội dung cần xem xét; quyết định chuyên môn thuộc về con người. Hiệu quả cần được đánh giá bằng chất lượng, độ chính xác, trách nhiệm và an toàn của xuất bản phẩm.
Điểm khác biệt giữa số hóa và quản trị số nằm ở phạm vi và chiều sâu thay đổi. Số hóa từng khâu giúp giảm bản thảo giấy, rút ngắn thao tác và thuận lợi lưu trữ; quản trị số tích hợp quy trình, dữ liệu, con người và công nghệ để quản lý thống nhất toàn bộ vòng đời bản thảo, hỗ trợ điều hành và ra quyết định. Đối với Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, quản trị số gắn với đặc thù học thuật, chính trị, tư tưởng, khoa học và pháp lý của công tác biên tập. Vì vậy, công nghệ được sử dụng để hỗ trợ, còn các khâu thẩm định nội dung, kiểm soát chính trị, tư tưởng, khoa học, pháp lý và quyết định xuất bản được đặt dưới sự kiểm soát chặt chẽ của con người.
3. Thực trạng chuyển đổi số và đổi mới công tác biên tập tại Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật
3.1. Quá trình triển khai chuyển đổi số trong công tác biên tập.
Chuyển đổi số được Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật xác định là một trong những hướng đổi mới quan trọng nhằm hiện đại hóa hoạt động xuất bản, quản trị và phát hành. Từ năm 2024, Nhà xuất bản đã phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông xây dựng các nội dung hợp tác về chuyển đổi số, trong đó bao gồm xây dựng kế hoạch chuyển đổi số, phát triển nền tảng xuất bản và phát hành điện tử, ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo vào quản lý, biên tập, phát triển thị trường, bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng chuyển đổi số cho đội ngũ cán bộ, biên tập viên (Quân đội nhân dân, 2024). Định hướng này tiếp tục được cụ thể hóa trong năm 2025 và 2026. Báo cáo triển khai nhiệm vụ năm 2026 của Nhà xuất bản cho biết, năm 2025 Nhà xuất bản đã xuất bản hơn 700 đầu sách điện tử, đẩy mạnh số hóa cơ sở dữ liệu sách lý luận, chính trị và phát triển các hình thức tiếp cận nội dung mới; đồng thời xác định tiếp tục đẩy mạnh chuyển đổi số trong công tác quản trị, điều hành (Quân đội nhân dân, 2025). Đến tháng 7/2026, Nhà xuất bản tiếp tục xác định nhiệm vụ “đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện; hoàn thiện quy trình biên tập, xuất bản, phát hành trên môi trường số”, đồng thời tiếp tục nâng cấp các nền tảng số và nâng cao hiệu lực quản trị, điều hành (Thông tấn xã Việt Nam, 2026). Những chủ trương trên cho thấy, chuyển đổi số tại Nhà xuất bản đã chuyển từ việc ứng dụng công nghệ ở từng hoạt động riêng lẻ sang yêu cầu đổi mới đồng bộ phương thức tổ chức và quản trị. Đối với công tác biên tập, đây là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt bởi biên tập là khâu trung tâm quyết định chất lượng nội dung, tính chính xác, tính khoa học, tính chính trị và giá trị sử dụng của xuất bản phẩm.
Để đánh giá thực trạng chuyển đổi số trong công tác biên tập, nghiên cứu đã tiến hành khảo sát 80 phiếu hợp lệ đối với cán bộ, biên tập viên và các đối tượng có liên quan tại Nhà xuất bản trong năm 2026. Thang đo được sử dụng theo 5 mức, từ 1 “rất thấp” đến 5 “rất cao”. Kết quả khảo sát cho thấy mức độ chuyển đổi số trong các nhóm hoạt động biên tập nhìn chung mới đạt mức trung bình, với điểm trung bình chung khoảng 3,06/5. Kết quả tổng hợp cho thấy nhóm hiệu đính, chế bản và hoàn thiện bản thảo đạt 3,20/5; tiếp nhận và quản lý bản thảo đạt 3,18/5; kiểm tra, chuẩn hóa và nâng cao chất lượng bản thảo đạt 3,10/5; trong khi phản biện, thẩm định và duyệt bản thảo chỉ đạt 2,87/5. Khoảng cách giữa nhóm có điểm cao nhất và thấp nhất là 0,33 điểm. Như vậy, chuyển đổi số đã được triển khai ở nhiều công đoạn nhưng mức độ ứng dụng chưa đồng đều và chưa tạo ra sự thay đổi căn bản trong toàn bộ chuỗi nghiệp vụ (Lê Hảo, 2026). Dữ liệu khảo sát cho thấy, Nhà xuất bản không còn ở giai đoạn bắt đầu chuyển đổi số, nhưng cũng chưa đạt đến trạng thái quản trị số toàn diện. Công nghệ số đã được đưa vào nhiều khâu, song sự kết nối giữa các khâu, giữa dữ liệu và quy trình, giữa công nghệ và hoạt động quản trị còn hạn chế.
3.2. Kết quả chuyển đổi số trong từng khâu của công tác biên tập.
Một là, tiếp nhận và quản lý bản thảo. Tiếp nhận và quản lý bản thảo là khâu đầu vào của quy trình biên tập. Trong môi trường số, yêu cầu không chỉ dừng ở việc tiếp nhận bản thảo dưới dạng tệp điện tử mà còn phải hình thành hồ sơ số, cập nhật trạng thái xử lý, lưu giữ các phiên bản và cho phép theo dõi bản thảo trong toàn bộ quá trình. Kết quả khảo sát cho thấy nhóm hoạt động này đạt 3,18/5, thuộc nhóm có mức đánh giá tương đối khá trong các nội dung được khảo sát. Điều đó phản ánh việc bản thảo điện tử đã từng bước trở thành phương thức làm việc phổ biến, tạo thuận lợi cho lưu trữ, trao đổi và tra cứu. Tuy nhiên, mức điểm trên vẫn chỉ ở mức trung bình, cho thấy quá trình số hóa chưa hoàn toàn đồng bộ. Việc có bản thảo điện tử chưa đồng nghĩa với việc toàn bộ hồ sơ bản thảo đã được quản trị trên một hệ thống thống nhất. Vấn đề đặt ra là phải kiểm soát được trạng thái của bản thảo, lịch sử xử lý, người chịu trách nhiệm và các phiên bản trong từng thời điểm. Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt giữa khả năng lưu trữ và khả năng quản trị. Lưu trữ bản thảo cuối cùng dưới dạng điện tử đạt 3,41/5, trong khi quản lý tiến độ bằng công cụ số chỉ đạt 3,04/5 và kiểm soát các lần sửa sau chế bản đạt 3,08/5 (Lê Hảo, 2026). Khoảng cách này cho thấy công nghệ hiện đã hỗ trợ khá tốt việc tạo lập và lưu giữ thông tin, nhưng chưa phát huy đầy đủ vai trò trong tổ chức, điều hành và kiểm soát toàn bộ quy trình.
Hai là, số hóa quy trình biên tập nội dung. Trong hoạt động biên tập nội dung, công nghệ số đã tạo điều kiện để biên tập viên đọc, sửa, trao đổi và lưu giữ các phiên bản bản thảo trên môi trường điện tử. Việc trao đổi bản thảo với tác giả và giữa các bộ phận cũng từng bước được thực hiện thông qua email, nền tảng chia sẻ tài liệu và các công cụ làm việc trực tuyến. Điều này góp phần giảm thời gian luân chuyển hồ sơ và tạo điều kiện lưu giữ lịch sử trao đổi (Lê Hảo, 2026). Điểm hạn chế là quá trình số hóa mới chủ yếu tập trung vào công cụ tác nghiệp, trong khi quy trình quản trị bản thảo chưa được tích hợp hoàn toàn. Một bản thảo có thể được chỉnh sửa qua nhiều phiên bản, lưu ở nhiều vị trí và trao đổi qua nhiều kênh khác nhau. Nếu chưa có hệ thống quản lý phiên bản và quy trình xác lập bản chính thức, nguy cơ nhầm lẫn, trùng lặp hoặc khó truy xuất lịch sử xử lý vẫn tồn tại. Vì vậy, kết quả của chuyển đổi số ở khâu này cần được đánh giá không chỉ bằng việc biên tập viên có sử dụng phần mềm hay không, mà bằng khả năng hình thành một quy trình biên tập số có kiểm soát, trong đó mỗi thay đổi của bản thảo đều có thể được xác định, lưu vết và truy xuất.
Ba là, phản biện, thẩm định và duyệt bản thảo. Nhóm này đạt 2,87/5; tỷ lệ đánh giá cao và rất cao là 22,81%, trong khi thấp và rất thấp là 35,61%. Tiêu chí hồ sơ duyệt bản thảo lưu trữ điện tử đạt 2,86/5 (Lê Hảo, 2026). Đây là khâu cần ưu tiên số hóa hồ sơ phản biện, thẩm định, quyết định và lưu vết trách nhiệm. Năm 2026, Nhà xuất bản tiếp tục xác định việc hoàn thiện quy trình trên môi trường số là nhiệm vụ trọng tâm (Thông tấn xã Việt Nam, 2026).
Bốn là, ứng dụng công nghệ số trong kiểm tra, chuẩn hóa và nâng cao chất lượng bản thảo. Mức độ ứng dụng đạt 3,10/5; tra cứu văn bản pháp luật và văn kiện điện tử 3,43; tra cứu, đối chiếu và kiểm chứng thông tin 3,18; hỗ trợ xử lý bản thảo 3,10; kiểm tra trùng lặp hoặc đạo văn 2,86; kiểm tra lỗi chính tả, trình bày 2,96 (Lê Hảo, 2026). Công nghệ phát huy rõ ở tra cứu và kiểm chứng; các công cụ chuyên sâu cần tiếp tục được hoàn thiện và đặt dưới trách nhiệm thẩm định của biên tập viên.
Năm là, hiệu đính, chế bản và hoàn thiện bản thảo. Đây là nhóm có điểm đánh giá cao nhất, đạt 3,20/5. Trong đó, lưu trữ bản thảo cuối cùng dưới dạng điện tử đạt 3,41/5; trao đổi bản thảo giữa biên tập và chế bản trên môi trường số đạt 3,27/5; quản lý các phiên bản sau chế bản đạt 3,22/5; phối hợp giữa biên tập, chế bản và trình bày trên nền tảng số đạt 3,18/5. Kết quả này cho thấy công nghệ số đã hỗ trợ khá rõ trong việc chuyển bản thảo từ giai đoạn nội dung sang giai đoạn hoàn thiện kỹ thuật. Việc trao đổi tệp, lưu trữ bản cuối và phối hợp giữa các bộ phận đã giảm sự phụ thuộc vào luân chuyển hồ sơ giấy. Tuy nhiên, kiểm soát các lần sửa sau chế bản chỉ đạt 3,08/5 và hiệu đính bản thảo bằng công cụ số đạt 3,05/5 (Lê Hảo, 2026). Điều đó cho thấy ngay cả ở nhóm có kết quả tương đối tốt, mức độ số hóa vẫn chưa đạt tới quản trị quy trình thống nhất. Công nghệ chủ yếu đang thực hiện chức năng hỗ trợ tác nghiệp, trong khi khả năng kiểm soát tự động và quản trị toàn bộ chuỗi phiên bản còn hạn chế.
Sáu là, quản trị dữ liệu và liên thông giữa các khâu. Một trong những hạn chế quan trọng nhất được kết quả nghiên cứu chỉ ra là dữ liệu số đã hình thành nhưng chưa trở thành nguồn lực dùng chung của toàn bộ quy trình biên tập. Kết quả khảo sát cho thấy mức độ xây dựng, quản lý và khai thác dữ liệu số đạt 3,00/5. Khả năng tra cứu và khai thác dữ liệu đạt 3,13/5; xây dựng kho dữ liệu số đạt 3,06/5; chia sẻ dữ liệu giữa các phòng, ban đạt 2,95/5; cập nhật thường. Các số liệu cho thấy vấn đề không phải Nhà xuất bản hoàn toàn thiếu dữ liệu số, mà là dữ liệu chưa được tổ chức thành một tài sản dùng chung của toàn bộ quy trình. Dữ liệu về bản thảo, tác giả, cộng tác viên, chuyên gia phản biện, xuất bản phẩm và lịch sử xử lý nếu được lưu giữ ở nhiều nơi, cập nhật không đồng đều hoặc thiếu chuẩn chung sẽ hạn chế khả năng kết nối và tái sử dụng (Lê Hảo, 2026). Như vậy, điểm nghẽn hiện nay mang tính hệ thống. Các khâu đã có sự kết nối nhất định nhưng chưa hình thành một kiến trúc dữ liệu và hệ thống liên thông thống nhất. Đây là nguyên nhân khiến Nhà xuất bản mới chủ yếu đạt được “số hóa từng khâu” thay vì quản trị số toàn bộ quy trình.
Bảy là, đổi mới phương thức làm việc và năng lực số của đội ngũ biên tập viên. Hoạt động biên tập ngày càng sử dụng tệp điện tử, nền tảng trực tuyến, công cụ chia sẻ và phần mềm quản lý công việc. Khảo sát cho thấy 62,5% người tham gia dưới 40 tuổi; 52,5% có trình độ đại học và 47,5% thạc sĩ (Lê Hảo, 2026). Năng lực số cần bao gồm khai thác dữ liệu, kiểm chứng nguồn tin, quản lý phiên bản, sử dụng công cụ hỗ trợ, bảo đảm an toàn thông tin và đánh giá kết quả do công nghệ tạo ra.
Sự phát triển của AI làm tăng yêu cầu về kiểm chứng và trách nhiệm nghề nghiệp. Công nghệ hỗ trợ tìm kiếm, đối chiếu, phát hiện lỗi và xử lý công việc lặp lại; biên tập viên giữ vai trò thẩm định, quyết định và chịu trách nhiệm về chất lượng, tính chính xác của nội dung (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, 2026b).
4. Giải pháp chuyển từ số hóa sang quản trị số công tác biên tập tại Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật
Thứ nhất, hoàn thiện thể chế và cơ chế quản trị công tác biên tập trên môi trường số. Rà soát các quy định về tiếp nhận, biên tập, đọc duyệt, đọc kiểm tra, morat, hoàn thiện, quản lý và lưu trữ hồ sơ để xác định rõ chủ thể xử lý, trường dữ liệu bắt buộc, trạng thái hồ sơ, quyền truy cập, thẩm quyền phê duyệt và nội dung phải lưu vết. Đồng thời, hoàn thiện quy chế quản trị dữ liệu về dữ liệu gốc, trách nhiệm cập nhật, phạm vi chia sẻ, quyền truy cập, lưu trữ, sao lưu và phục hồi. Với AI, quy định rõ dữ liệu được phép sử dụng, dữ liệu bảo mật, tác vụ được hỗ trợ, yêu cầu kiểm chứng và trách nhiệm người dùng. Xây dựng và hoàn thiện quy chế quản trị dữ liệu, trong đó xác định rõ dữ liệu gốc, trách nhiệm tạo lập và cập nhật, phạm vi chia sẻ, quyền truy cập, thời hạn lưu trữ và cơ chế sao lưu, phục hồi. Đối với bản thảo đang xử lý và những tài liệu có yêu cầu bảo mật cao, phải có cơ chế phân quyền, kiểm soát tải xuống, chỉnh sửa và chia sẻ phù hợp. Đặc biệt, khi sử dụng các nền tảng AI, Nhà xuất bản cần quy định rõ loại dữ liệu được phép sử dụng, dữ liệu không được đưa lên nền tảng bên ngoài, các tác vụ AI được phép hỗ trợ, yêu cầu kiểm chứng kết quả và trách nhiệm của người sử dụng.
Thứ hai, tái cấu trúc quy trình biên tập theo hướng quản trị thống nhất vòng đời bản thảo. Mỗi bản thảo cần có mã định danh và hồ sơ số thống nhất từ khi tiếp nhận; dữ liệu về tác giả, biên tập, đọc duyệt, đọc kiểm tra, morat và hoàn thiện được cập nhật xuyên suốt. Phiên bản, ý kiến chuyên môn, lịch sử chỉnh sửa và quyết định xử lý được lưu trong cùng cấu trúc dữ liệu, tạo khả năng kiểm soát và truy xuất. Quy trình số cần liên thông biên tập với chế bản, xuất bản điện tử, phát hành và lưu trữ. Các thông tin đã được xác lập như tên sách, tác giả, chủ đề, từ khóa và dữ liệu mô tả được sử dụng xuyên suốt. Hệ thống cần tự động cập nhật trạng thái, thời gian xử lý, công đoạn quá hạn và điểm nghẽn, hỗ trợ điều hành dựa trên dữ liệu.
Thứ ba, xây dựng nền tảng dữ liệu dùng chung và kho tri thức phục vụ biên tập. Ưu tiên cơ sở dữ liệu thống nhất về bản thảo, tác giả, phản biện, xuất bản phẩm, văn kiện, văn bản pháp luật, tác phẩm kinh điển, thuật ngữ lý luận - chính trị và nguồn tài liệu chính thống. Dữ liệu cần được chuẩn hóa, tìm kiếm, đối chiếu và tái sử dụng, qua đó hình thành hạ tầng tri thức và bộ nhớ nghề nghiệp của Nhà xuất bản. Việc xây dựng dữ liệu dùng chung cũng phải gắn với nguyên tắc “tạo lập một lần, sử dụng nhiều lần”. Khi dữ liệu được chuẩn hóa và liên thông, các bộ phận có thể khai thác cùng một nguồn thông tin, giảm nhập liệu lặp lại, hạn chế sai lệch và nâng cao khả năng truy xuất. Đây là điều kiện nền tảng để Nhà xuất bản chuyển từ quản lý các tệp dữ liệu phân tán sang quản trị tài sản dữ liệu thống nhất.
Thứ tư, phát triển năng lực số của đội ngũ biên tập viên gắn với năng lực chính trị và chuyên môn. Xây dựng khung năng lực gồm sử dụng hệ thống quản lý bản thảo, quản lý phiên bản, truy xuất lịch sử xử lý, xác minh nguồn tin số, quản trị dữ liệu, sử dụng AI có trách nhiệm, an toàn thông tin và sở hữu trí tuệ. Đào tạo chuyển từ “học sử dụng phần mềm” sang “học cách làm nghề trong môi trường số”, gắn với tình huống kiểm tra trích dẫn, đối chiếu phiên bản, xác minh nguồn và đánh giá kết quả AI. Hình thành lực lượng biên tập viên nòng cốt về chuyển đổi số tại các ban biên tập để kết nối nghiệp vụ với kỹ thuật và hỗ trợ thử nghiệm công cụ mới.
Thứ năm, ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo (AI) theo hướng có kiểm soát, lấy nghiệp vụ làm trung tâm. Ưu tiên quản lý phiên bản, tìm kiếm và kiểm chứng nguồn, chuẩn hóa dữ liệu, truy xuất lịch sử xử lý và phát hiện sai sót. Trên nền tảng dữ liệu chuẩn hóa, từng bước phát triển công cụ AI hoặc trợ lý biên tập số dựa trên nguồn chính thống và có khả năng chỉ rõ nguồn thông tin. AI là công cụ hỗ trợ; biên tập viên giữ vai trò thẩm định, quyết định và chịu trách nhiệm nội dung. Lộ trình phù hợp gồm: chuẩn hóa quy trình → chuẩn hóa dữ liệu → xây dựng kho tri thức → phát triển công cụ thông minh → tích hợp AI vào công đoạn phù hợp.
Thứ sáu, thiết lập cơ chế đo lường, giám sát và bảo đảm an toàn cho quản trị số. Xây dựng các chỉ số về tỷ lệ hồ sơ xử lý trên môi trường số, thời gian luân chuyển, tỷ lệ nhập lại dữ liệu, mức độ khai thác dữ liệu dùng chung, khả năng phát hiện sai sót và truy xuất lịch sử xử lý. Đây là cơ sở đánh giá kết quả, nhận diện điểm nghẽn và cải tiến quy trình. Bảo đảm an toàn dữ liệu ngay từ thiết kế hệ thống với phân quyền, nhật ký truy cập, sao lưu, phục hồi và kiểm soát tải xuống, chỉnh sửa, chia sẻ. Triển khai thí điểm tại một số đơn vị hoặc nhóm bản thảo, đánh giá bằng chỉ số cụ thể trước khi nhân rộng. Chuyển từ số hóa sang quản trị số công tác biên tập đòi hỏi đồng bộ sáu trụ cột: thể chế, quy trình, dữ liệu, công nghệ và AI, con người, an toàn và kiểm soát. Công nghệ là công cụ; dữ liệu là nền tảng; quy trình là cấu trúc vận hành; con người là chủ thể thẩm định và quyết định. Điểm hội tụ là nâng cao chất lượng, giảm sai sót, tăng khả năng kiểm chứng và truy xuất trách nhiệm, đồng thời bảo đảm yêu cầu chính trị, tư tưởng, khoa học và pháp lý.
5. Kết luận
Chuyển đổi số trong công tác biên tập là quá trình tái định hình phương thức quản trị dựa trên dữ liệu, quy trình số và kết nối hệ thống. Đối với xuất bản sách chính trị, quá trình này gắn với yêu cầu về tính chính xác, định hướng, bảo mật và trách nhiệm nghề nghiệp. Đích đến là quản trị toàn bộ vòng đời bản thảo trên môi trường số, trong đó dữ liệu trở thành nguồn lực quản trị, quy trình được liên thông và công nghệ chịu sự kiểm soát của con người. Do đó, việc chuyển từ “số hóa công tác biên tập” sang “quản trị số công tác biên tập” là bước chuyển về tư duy, tổ chức và phương thức quản trị, tạo nền tảng để Nhà xuất bản thích ứng với môi trường xuất bản hiện đại./.
--------------------------------------------
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Chính trị (2024), Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
2. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật (2026a), Thông báo về việc thực hiện xử lý công việc trên môi trường số.
3. Verhoef, P. C., Broekhuizen, T., Bart, Y., Bhattacharya, A., Dong, J. Q., Fabian, N. & Haenlein, M. (2021), “Digital Transformation: A Multidisciplinary Reflection and Research Agenda”, Journal of Business Research, 122, pp. 889–901.
4. Vial, G. (2019), “Understanding Digital Transformation: A Review and a Research Agenda”, The Journal of Strategic Information Systems, 28(2), pp. 118–144.
5. Quân đội nhân dân (2024), “Đẩy mạnh quá trình chuyển đổi số của Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật”, ngày 12/01/2024.
6. Quân đội nhân dân (2025), “Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật triển khai nhiệm vụ năm 2026”, ngày 16/12/2025.
7. Thông tấn xã Việt Nam (2026), “Hoàn thiện quy trình biên tập, xuất bản, phát hành sách trên môi trường số”, ngày 10/7/2026.
8, 9, 10, 11, 12, 13. 14. 15. Lê Thị Hảo (2026), Báo cáo kết quả đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở: Đẩy mạnh chuyển đổi số trong công tác biên tập tại Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật đáp ứng bối cảnh mới, Hà Nội.
16. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật (2026b), Hướng dẫn về khai thác, sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) cho cán bộ, đảng viên trong các cơ quan Đảng
Lê Thị Hảo - Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật ThS Nguyễn Thanh Hương - Trường Đại học Điện lực
Tin tức cùng chuyên mục
Bài viết cùng tác giả