Trong 8 tháng đầu năm 2026, công tác công nghệ thông tin và chuyển
đổi số của Bộ Nội vụ được triển khai đồng bộ, bám sát các chủ trương, nghị quyết
của Trung ương và Chính phủ.
Bám sát các nhiệm vụ trọng tâm về chuyển đổi số
Chuyển đổi số được Bộ Nội vụ xác định gắn chặt với phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và cải cách phương thức quản lý nhà nước. Trong 8 tháng đầu năm, Bộ tập trung cập nhật, triển khai các nhiệm vụ theo Nghị quyết số 57-NQ/TW, Kế hoạch số 02-KH/BCĐTW, các nghị quyết của Chính phủ, Đề án 06, Chỉ thị số 07/CT-TTg và các kết luận của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Trên cơ sở đó, Bộ phối hợp với Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam và các cơ quan, tổ chức triển khai xây dựng các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành; đồng thời phát triển các nền tảng số theo kế hoạch được phê duyệt. Đây là những nhiệm vụ có ý nghĩa nền tảng, bởi dữ liệu ngày càng trở thành nguồn lực quan trọng phục vụ công tác quản lý, hoạch định chính sách và tổ chức thực hiện nhiệm vụ của ngành Nội vụ.
Một trong những nhiệm vụ đáng chú ý là xây dựng Nghị định của Chính phủ quy định về Cơ sở dữ liệu quốc gia về An sinh xã hội; đồng thời triển khai Kế hoạch hành động 100 ngày nhằm xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số trong hệ thống chính trị của Bộ Nội vụ. Qua đó, chuyển đổi số không chỉ được triển khai ở góc độ kỹ thuật mà từng bước được gắn với hoàn thiện thể chế và tháo gỡ những vấn đề thực tiễn trong tổ chức thực hiện.
Đẩy mạnh xây dựng các cơ sở dữ liệu quốc gia, chuyên ngành
Xây dựng cơ sở dữ liệu được xem là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Bộ Nội vụ trong tiến trình chuyển đổi số. Theo báo cáo của Bộ Nội vụ, Bộ được giao triển khai 11 cơ sở dữ liệu, trong đó có 2 cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ, công chức, viên chức và an sinh xã hội; cùng 9 cơ sở dữ liệu chuyên ngành về người có công, lao động - việc làm, chính quyền địa phương, tổ chức bộ máy, hội, quỹ và các lĩnh vực liên quan.
Trong 8 tháng đầu năm, các đơn vị thuộc Bộ đã tập trung xây dựng cơ sở pháp lý, xác định trách nhiệm tạo lập và vận hành dữ liệu; đồng thời từng bước hình thành nền tảng, xác định phạm vi và các trường thông tin, triển khai tạo lập cơ sở dữ liệu và thực hiện các thủ tục đầu tư theo quy định.
Đây là bước đi quan trọng nhằm khắc phục tình trạng dữ liệu phân tán, thiếu đồng bộ, qua đó hình thành nguồn dữ liệu thống nhất phục vụ quản lý nhà nước. Khi các cơ sở dữ liệu được xây dựng và kết nối, việc khai thác thông tin sẽ thuận lợi hơn, giảm yêu cầu cung cấp lại dữ liệu, hỗ trợ công tác thống kê, phân tích và ra quyết định.
Đáng chú ý, Bộ tiếp tục xây dựng và duy trì Cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ, công chức, viên chức theo yêu cầu “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung”. Đến ngày 20/8/2026, cơ sở dữ liệu này đã được kết nối, đồng bộ với 61/61 hệ thống quản lý cán bộ, công chức, viên chức của các bộ, ngành, địa phương; đồng bộ 2.308.351 hồ sơ, tương đương khoảng 95% tổng số cán bộ, công chức, viên chức đang làm việc.
Cùng với đó, Bộ đã đối khớp để làm sạch dữ liệu với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư đối với 2.268.644 hồ sơ, đạt 98,68% số hồ sơ đã được đồng bộ. Kết quả này cho thấy bước tiến rõ rệt trong việc chuẩn hóa, làm sạch và liên thông dữ liệu cán bộ, công chức, viên chức, tạo tiền đề để dữ liệu được sử dụng thống nhất trong quản lý đội ngũ.
Phát triển nền tảng số, thúc đẩy kết nối và chia sẻ dữ liệu
Song song với xây dựng cơ sở dữ liệu, Bộ Nội vụ đã tập trung phát triển các nền tảng số phục vụ quản lý nhà nước. Các nền tảng được triển khai gồm nền tảng quản lý cán bộ, công chức, viên chức quốc gia; nền tảng hợp đồng lao động điện tử; Sàn giao dịch việc làm quốc gia; nền tảng/hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính thuộc phạm vi quản lý của Bộ và nền tảng quốc gia về văn thư, lưu trữ.
Việc phát triển các nền tảng theo từng lĩnh vực chuyên môn giúp chuyển đổi số đi vào chiều sâu, gắn với từng quy trình quản lý cụ thể. Thay vì chỉ số hóa hồ sơ, tài liệu, yêu cầu đặt ra là hình thành các nền tảng có khả năng hỗ trợ toàn bộ quá trình quản lý, xử lý và khai thác thông tin.
Trong hoạt động nội bộ, Bộ tiếp tục triển khai Chính phủ số và các ứng dụng phục vụ công tác quản lý, điều hành; duy trì nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu dùng chung cấp Bộ, bảo đảm kết nối thông suốt với Nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu quốc gia.
Việc duy trì kết nối, chia sẻ dữ liệu dùng chung có ý nghĩa quan trọng trong nâng cao hiệu quả điều hành. Khi dữ liệu được chia sẻ giữa các hệ thống, các đơn vị có thể khai thác thông tin cần thiết nhanh hơn, hạn chế trùng lặp trong thu thập và xử lý dữ liệu, đồng thời tăng tính thống nhất trong hoạt động quản lý.
Chuyển đổi số gắn với công khai, minh bạch và phục vụ người dân
Một kết quả đáng chú ý khác là việc ứng dụng nền tảng số để tăng cường cung cấp thông tin và tương tác với người dân, doanh nghiệp. Bộ thường xuyên cập nhật, tuyên truyền kịp thời các văn bản, chính sách mới trong các lĩnh vực thuộc chức năng, nhiệm vụ của Bộ, cùng các hoạt động của lãnh đạo Bộ trên Cổng Thông tin điện tử Bộ và các trang thông tin điện tử thành phần.
Đặc biệt, các ý kiến trả lời của đơn vị thuộc Bộ đối với câu hỏi của người dân, doanh nghiệp liên quan đến chính sách về sắp xếp đơn vị hành chính các cấp và xây dựng mô hình tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp được cập nhật hằng ngày trên Cổng Thông tin điện tử Bộ.
Cách làm này cho thấy chuyển đổi số được Bộ gắn với yêu cầu nâng cao tính công khai, minh bạch và khả năng tiếp cận thông tin chính sách. Trong bối cảnh tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp đang đặt ra nhiều vấn đề mới, việc cung cấp thông tin chính thống, kịp thời trên môi trường số góp phần hỗ trợ người dân, doanh nghiệp và các địa phương tiếp cận, thực hiện chính sách thống nhất.
Hoàn thiện thể chế, tạo hành lang cho chuyển đổi số
Chuyển đổi số muốn triển khai hiệu quả cần đi cùng với hành lang pháp lý phù hợp. Trong 8 tháng đầu năm 2026, Bộ Nội vụ được giao 301 nhiệm vụ; trong đó đã hoàn thành 178 nhiệm vụ, có 104 nhiệm vụ thường xuyên, 9 nhiệm vụ đang thực hiện đúng hạn và 10 nhiệm vụ quá hạn, chủ yếu liên quan đến xây dựng cơ sở dữ liệu.
Đáng chú ý, trong cùng thời gian, Bộ đã tham mưu xây dựng 13 nghị định, trong đó có 1 văn bản hợp nhất; 1 quyết định của Thủ tướng Chính phủ và 7 thông tư, trong đó có 1 văn bản hợp nhất. Những kết quả này góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý phục vụ công tác chuyển đổi số của ngành Nội vụ.
Việc kết hợp giữa xây dựng dữ liệu, phát triển nền tảng và hoàn thiện thể chế tạo thành ba yếu tố quan trọng trong tiến trình chuyển đổi số. Dữ liệu phải có cơ sở pháp lý và quy trình quản trị rõ ràng; nền tảng phải được vận hành trên cơ sở dữ liệu chuẩn hóa; còn các quy định pháp luật phải đáp ứng yêu cầu quản lý trong môi trường số.
Những kết quả trong 8 tháng đầu năm 2026 cho thấy công tác chuyển đổi số của Bộ Nội vụ đang được triển khai theo hướng ngày càng đồng bộ, từ hoàn thiện thể chế đến xây dựng dữ liệu, phát triển nền tảng, kết nối hệ thống và cung cấp thông tin trên môi trường số.
Đặc biệt, việc đồng bộ hơn 2,3 triệu hồ sơ cán bộ, công chức, viên chức và đối khớp, làm sạch gần 2,27 triệu hồ sơ với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư là kết quả có ý nghĩa thiết thực đối với việc hiện đại hóa công tác quản lý đội ngũ. Cùng với 11 cơ sở dữ liệu quốc gia, chuyên ngành đang được triển khai, đây sẽ là nền tảng dữ liệu quan trọng phục vụ quản lý các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ.
Thời gian tới, việc tiếp tục hoàn thiện các cơ sở dữ liệu, bảo đảm dữ liệu “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung”, nâng cao khả năng kết nối, chia sẻ và khai thác dữ liệu sẽ có ý nghĩa quyết định đối với hiệu quả chuyển đổi số của ngành Nội vụ, góp phần xây dựng nền hành chính hiện đại, chuyên nghiệp, minh bạch và phục vụ tốt hơn người dân, doanh nghiệp./.
Hoàng Hiệp
Tin tức cùng chuyên mục
Bài viết cùng tác giả