Kết quả thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2021 - 2025 đã tạo thêm nguồn lực cho vùng đồng bào DTTS và miền núi (DTTS&MN), từng bước cải thiện điều kiện sống và mở rộng cơ hội phát triển. Tỷ lệ hộ nghèo người DTTS giảm bình quân 2,42%/năm, từ 11,93% năm 2021 xuống còn 4,65% năm 2024. Tại các xã đặc biệt khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân 4,21%/năm, từ 21,9% xuống còn 9,25%.
Nguồn vốn tín dụng chính sách tiếp tục được triển khai đến đúng đối tượng, hỗ trợ người dân đầu tư sản xuất, phát triển sinh kế và ổn định cuộc sống. Hơn 75.000 lượt hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo và các đối tượng chính sách khác được vay vốn, với tổng số tiền giải ngân trên 4.020 tỷ đồng.
![]()
Từ nguồn vốn này, trên 30.000 hộ đã thoát nghèo; gần 20.000 lao động được hỗ trợ tạo việc làm, trong đó có hơn 300 lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài. Hơn 3.000 học sinh, sinh viên được vay vốn học tập; trên 90.000 công trình nước sạch, vệ sinh môi trường nông thôn được xây dựng, sửa chữa; hơn 1.000 căn nhà được xây mới cho hộ nghèo. Các chính sách tín dụng ưu đãi qua đó trở thành một trong những kênh hỗ trợ thiết thực, giúp người dân có thêm điều kiện đầu tư sản xuất, nâng cao thu nhập và từng bước ổn định cuộc sống.
Hạ tầng xã hội tại vùng DTTS&MN tiếp tục được quan tâm. Đến nay, 99,5% thôn, bản thuộc các xã vùng đồng bào DTTS&MN đã có nhà văn hóa, trong đó 70,6% nhà văn hóa đạt chuẩn. Đây là không gian sinh hoạt cộng đồng, nơi tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao, hội họp và góp phần duy trì sự gắn kết trong cộng đồng dân cư.
Chương trình xóa nhà tạm, nhà dột nát cũng được địa phương triển khai quyết liệt. Theo Nghị quyết số 307-NQ/TU ngày 6/12/2023, toàn bộ 798 căn nhà của các hộ có nhu cầu hỗ trợ xây mới hoặc sửa chữa đã hoàn thành. Một mái nhà kiên cố giúp các gia đình có thêm điều kiện ổn định cuộc sống, yên tâm lao động sản xuất, chăm lo việc học tập của con em và từng bước vươn lên.
Tạo sinh kế bền vững, bảo tồn bản sắc văn hóa
Bên cạnh những kết quả đạt được, vùng đồng bào DTTS&MN vẫn còn nhiều vấn đề cần tiếp tục giải quyết. Theo Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh Bắc Ninh, đây vẫn là nhóm địa bàn còn nhiều khó khăn. Năm 2024, tỷ lệ hộ nghèo người DTTS là 4,65%, cao gần 2,7 lần tỷ lệ hộ nghèo chung của tỉnh. Tại các xã đặc biệt khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo ở mức 9,25%, cao hơn 5,3 lần tỷ lệ hộ nghèo chung của tỉnh là 1,73%.
Ở một số xã, thôn, bản vùng sâu, vùng xa, khả năng tiếp cận hạ tầng và các dịch vụ xã hội cơ bản còn hạn chế. Giao thông, thủy lợi, hạ tầng công nghệ thông tin và điều kiện phục vụ chuyển đổi số tại một số địa bàn chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu phát triển. Đây là những yếu tố cần được ưu tiên đầu tư để người dân vùng DTTS&MN có điều kiện tiếp cận tốt hơn với giáo dục, y tế, thị trường lao động, thương mại và các dịch vụ thiết yếu.
Một vấn đề khác đang đặt ra là sự thay đổi cơ cấu dân số nông thôn. Một bộ phận lao động trẻ rời quê đến các đô thị, khu công nghiệp tìm việc làm, trong khi số người cao tuổi ngày càng tăng. Xu hướng này tạo sức ép đối với nguồn nhân lực tại chỗ, duy trì hoạt động sản xuất và chăm lo an sinh xã hội ở khu vực nông thôn, miền núi.
Sản xuất của người dân cũng chịu tác động ngày càng rõ của biến đổi khí hậu, thời tiết cực đoan, ngập lụt và hạn hán. Tình trạng thiếu đất sản xuất, ruộng đất manh mún, trình độ dân trí không đồng đều và khả năng tiếp cận khoa học, công nghệ còn hạn chế tiếp tục ảnh hưởng đến năng suất lao động và khả năng nâng cao thu nhập.
Cùng với phát triển kinh tế, bảo tồn văn hóa truyền thống là nhiệm vụ cần được quan tâm lâu dài. Một số phong tục, tập quán, lễ hội, trang phục, ngôn ngữ và chữ viết của các dân tộc đứng trước nguy cơ mai một khi thế hệ trẻ ngày càng ít có điều kiện thực hành và tiếp nối. Việc kết hợp bảo tồn văn hóa với phát triển du lịch cộng đồng, xây dựng sản phẩm đặc trưng và tạo sinh kế từ các giá trị văn hóa vẫn còn dư địa lớn.
Thời gian tới, Bắc Ninh cần tiếp tục ưu tiên nguồn lực cho vùng DTTS&MN, tập trung vào những địa bàn còn khó khăn, nhất là hạ tầng thiết yếu, sinh kế, giáo dục, y tế và chuyển đổi số. Các chính sách hỗ trợ cần gắn với nhu cầu thực tế của từng cộng đồng, khuyến khích người dân chủ động phát triển sản xuất, nâng cao năng lực nghề nghiệp và tiếp cận thị trường.
Song song với đó, việc gìn giữ tiếng nói, chữ viết, trang phục, nghề truyền thống, lễ hội và các giá trị văn hóa tốt đẹp cần có sự tham gia tích cực của cộng đồng, gia đình, nhà trường và thế hệ trẻ. Khi văn hóa được nuôi dưỡng cùng sinh kế và đời sống, bản sắc các dân tộc sẽ có thêm điều kiện được trao truyền, góp phần xây dựng vùng đồng bào DTTS&MN phát triển ổn định, bền vững./.
Ngọc Khanh
Tin tức cùng chuyên mục
Bài viết cùng tác giả