TS Nguyễn
Văn Chương, Bí thư Đảng
ủy, Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Cơ giới và Thủy lợi trao tặng giấy khen cho các
thầy giáo, cô giáo hoàn thành xuất sắc công tác chủ nhiệm.
Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số đang làm thay đổi mạnh mẽ phương thức sản xuất, quản trị và tổ chức các hoạt động kinh tế - xã hội. Trong lĩnh vực giáo dục, đặc biệt là giáo dục nghề nghiệp, chuyển đổi số không chỉ dừng lại ở việc sử dụng một số phần mềm hay thiết bị công nghệ trong quản lý và giảng dạy mà đang trở thành quá trình chuyển đổi tổng thể, từ quản trị nhà trường, quản lý đào tạo, xây dựng chương trình, tổ chức dạy học đến kiểm tra, đánh giá và cung cấp các dịch vụ hỗ trợ người học. Tại Thông báo số 160-TB/VPTW ngày 29/8/2026 thông báo kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại buổi làm việc với các cơ quan về kết quả 01 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo đã chỉ rõ một số nhiệm vụ trọng tâm thời gian tới là: Tiếp tục tổ chức thực hiện quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả Nghị quyết số 71-NQ/TW, chuyển mạnh từ hoàn thiện thể chế, chính sách sang tổ chức thực hiện, đưa Nghị quyết vào cuộc sống và tạo kết quả cụ thể, thực chất. Tập trung bảo đảm các điều kiện thiết yếu cho giáo dục, trước hết là mục tiêu “đủ trường, đủ lớp, đủ giáo viên”. Tạo đổi mới thực chất từ bên trong ngành Giáo dục. Giáo dục đi trước một bước để chuẩn bị nguồn nhân lực và nhân tài cho tương lai đất nước. Thúc đẩy mạnh mẽ chuyển đổi số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), nhưng cần đặt công nghệ đúng vị trí là phương tiện giáo dục, không thay thế bản chất nhân văn của giáo dục. Đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo, quản lý và tổ chức thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW; xác định rõ trách nhiệm của người đứng đầu. Đây là những nhiệm vụ trọng tâm mà các cơ sở giáo dục cần triển khai thực hiện đúng, đủ và bảo đảm hiệu quả.
Chương trình chuyển đổi số trong giáo dục nghề nghiệp đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 được phê duyệt tại Quyết định số 2222/QĐ-TTg ngày 30/12/2021 của Thủ tướng Chính phủ xác định mục tiêu phát triển giáo dục nghề nghiệp trên môi trường số, tăng cường ứng dụng công nghệ trong quản lý và hoạt động dạy - học. Cùng với đó, Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo tiếp tục đặt ra yêu cầu đổi mới mạnh mẽ phương thức quản trị, phát triển nguồn nhân lực và nâng cao năng lực số trong các lĩnh vực của đời sống xã hội nói chung; lĩnh vực giáo dục và đào tạo nói riêng.
Trong giáo dục nghề nghiệp, chuyển đổi số đang tác động trực tiếp đến cả hoạt động quản trị và quá trình đào tạo. Các phần mềm và cơ sở dữ liệu ngày càng được sử dụng rộng rãi trong quản lý chương trình, kế hoạch đào tạo, thời khóa biểu, hồ sơ người học và kết quả học tập. Phương thức dạy học truyền thống từng bước được kết hợp với dạy học trực tuyến và dạy học kết hợp; giáo trình giấy được bổ sung bằng bài giảng điện tử, video thực hành, học liệu đa phương tiện và ngân hàng câu hỏi trực tuyến. Hoạt động kiểm tra, đánh giá cũng từng bước được thực hiện trên môi trường số, tạo điều kiện để giảng viên theo dõi quá trình học tập và đa dạng hóa phương thức đánh giá người học.
Trong quá trình đó, đội ngũ giảng viên giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Hạ tầng và nền tảng công nghệ dù được đầu tư hiện đại nhưng khó tạo ra sự thay đổi thực chất về chất lượng đào tạo nếu giảng viên chưa có khả năng khai thác và sử dụng hiệu quả. Do đó, bên cạnh năng lực chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm và kỹ năng nghề, năng lực số ngày càng trở thành một bộ phận quan trọng trong năng lực nghề nghiệp của giảng viên giáo dục nghề nghiệp.
Trong phạm vi bài viết này, năng lực số của giảng viên được tiếp cận là tổng hợp kiến thức, kỹ năng, thái độ và khả năng vận dụng công nghệ số một cách phù hợp, hiệu quả, an toàn và có trách nhiệm trong thực hiện hoạt động nghề nghiệp. Năng lực này không chỉ thể hiện ở khả năng sử dụng thiết bị, phần mềm hay nền tảng số mà còn bao gồm khả năng khai thác thông tin và dữ liệu; thiết kế và phát triển học liệu số; tổ chức dạy học và kiểm tra, đánh giá trên môi trường số; ứng dụng công nghệ mới vào hoạt động chuyên môn; đồng thời bảo đảm an toàn thông tin, bản quyền và đạo đức số. Đối với giáo dục nghề nghiệp, yêu cầu về năng lực số càng có ý nghĩa khi hoạt động đào tạo gắn chặt với thực hành, công nghệ, thiết bị và quy trình sản xuất tại doanh nghiệp. Giảng viên không chỉ cần sử dụng các nền tảng số phục vụ hoạt động dạy học mà còn phải có khả năng khai thác phần mềm chuyên ngành, công nghệ mô phỏng, trí tuệ nhân tạo và các công nghệ mới phù hợp với đặc thù từng ngành, nghề đào tạo.
Tuy nhiên, trước sự phát triển nhanh của công nghệ, mức độ tiếp cận và khả năng ứng dụng công nghệ số của đội ngũ giảng viên vẫn có sự khác biệt giữa các cá nhân, lĩnh vực chuyên môn và ngành, nghề đào tạo. Vì vậy, việc đánh giá đúng thực trạng, xác định những kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân, từ đó đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm nâng cao năng lực số của đội ngũ giảng viên Trường Cao đẳng Cơ giới và Thủy lợi là yêu cầu cấp thiết. Đây không chỉ là điều kiện để thúc đẩy chuyển đổi số của Nhà trường mà còn góp phần đổi mới phương thức đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục nghề nghiệp trong bối cảnh mới.
Trường Cao đẳng Cơ giới và Thủy lợi là cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường; là một trong 10 trường cao đẳng đầu tiên của cả nước được công nhận là trường cao đẳng chất lượng cao theo Quyết định số 532/QĐ-BGDĐT ngày 11/3/2026 của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Nhà trường hiện tổ chức đào tạo ở ba cấp trình độ cao đẳng, trung cấp và sơ cấp đối với 23 nghề, trong đó có 08 nghề đào tạo theo tiêu chuẩn quốc tế; quy mô đào tạo khoảng 6.000 học sinh, sinh viên/năm. Bên cạnh đó, Nhà trường tổ chức giảng dạy chương trình giáo dục phổ thông trung học hệ giáo dục thường xuyên với hơn 3.000 học sinh/năm và đào tạo lồng ghép kỹ năng nông nghiệp cho học sinh trung học phổ thông.
Nhà trường tập trung phát triển 08 nghề theo tiêu chuẩn quốc tế, gồm 06 nghề theo tiêu chuẩn của Cộng hòa Liên bang Đức, bao gồm: Điện công nghiệp; Điện tử công nghiệp; Công nghệ điện tử và năng lượng tòa nhà; Công nghệ cơ khí, sưởi ấm và điều hòa không khí; Vận hành máy thi công nền; Cắt gọt kim loại và 02 nghề thuộc lĩnh vực logistics theo tiêu chuẩn của Australia, đó là nghề Quản lý kho hàng và nghề Xếp dỡ cơ giới tổng hợp. Đặc điểm đào tạo các ngành, nghề kỹ thuật và chất lượng cao đặt ra yêu cầu tương đối cao đối với khả năng khai thác công nghệ, thiết bị, phần mềm chuyên ngành và các nền tảng số của đội ngũ giảng viên.
Về quy mô và cơ cấu đội ngũ, hiện nay Nhà trường có 266 cán bộ, viên chức và người lao động cơ hữu, trong đó có 46 cán bộ quản lý, 186 giảng viên và 34 chuyên viên, nhân viên. Về trình độ chuyên môn, đội ngũ của Nhà trường có 01 tiến sĩ, 87 thạc sĩ, 146 người có trình độ đại học, 32 người trình độ cao đẳng và trình độ khác. Nhìn chung, đội ngũ giảng viên có trình độ đại học và sau đại học chiếm tỷ lệ chủ yếu, tạo nền tảng thuận lợi cho việc tiếp cận, ứng dụng khoa học, công nghệ và triển khai đổi mới trong đào tạo.
Về trình độ tin học và khả năng tiếp cận công nghệ, 100% giảng viên có trình độ tin học đạt chuẩn kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin cơ bản hoặc tương đương trở lên theo quy định. Đây là điều kiện thuận lợi để Nhà trường triển khai chuyển đổi số trong quản trị và đào tạo, đặc biệt trong sử dụng phần mềm quản lý, xây dựng học liệu số, khai thác hệ thống quản lý học tập trực tuyến (LMS), tổ chức kiểm tra, đánh giá và từng bước ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động chuyên môn.
Tuy nhiên, trình độ hoặc chứng chỉ tin học chỉ phản ánh một phần nền tảng công nghệ và chưa hoàn toàn đồng nghĩa với năng lực số của giảng viên trong thực tiễn. Năng lực số cần được xem xét thông qua khả năng khai thác thông tin, dữ liệu; thiết kế học liệu số; tổ chức dạy học và đánh giá trên môi trường số; sử dụng phần mềm chuyên ngành, công nghệ mô phỏng, trí tuệ nhân tạo, cũng như khả năng bảo đảm an toàn và đạo đức số.
Về cơ cấu độ tuổi, trong tổng số 266 cán bộ, viên chức và người lao động của Nhà trường, có 32 người trên 50 tuổi, chiếm 12,0%; 116 người từ 40 đến 50 tuổi, chiếm 43,6%; 91 người từ 30 đến dưới 40 tuổi, chiếm 34,2% và 27 người dưới 30 tuổi, chiếm 10,2%. Cơ cấu độ tuổi đa dạng tạo điều kiện để các thế hệ bổ trợ về kinh nghiệm chuyên môn và khả năng tiếp cận công nghệ. Tuy nhiên, sự khác biệt về độ tuổi, kinh nghiệm và mức độ tiếp cận công nghệ cũng đặt ra yêu cầu xây dựng các chương trình đào tạo, bồi dưỡng năng lực số phù hợp với từng nhóm đối tượng, thay vì triển khai đồng loạt theo một nội dung chung.
Về lĩnh vực giảng dạy, đội ngũ giảng viên được bố trí ở nhiều nhóm ngành, nghề, tập trung vào cơ giới, cơ khí, điện - điện tử, kinh tế - tin học, logistics, các môn văn hóa nghề, đào tạo nghề xanh và các chương trình đào tạo chất lượng cao. Do các ngành, nghề kỹ thuật chiếm tỷ trọng lớn, hoạt động giảng dạy gắn chặt giữa lý thuyết với thực hành, vận hành thiết bị và ứng dụng công nghệ. Vì vậy, bên cạnh năng lực chuyên môn và kỹ năng nghề, giảng viên cần có khả năng sử dụng phần mềm chuyên ngành, thiết bị đào tạo hiện đại, học liệu số, hệ thống LMS, công nghệ mô phỏng và các công cụ trí tuệ nhân tạo phục vụ quá trình đào tạo.
Thời gian qua, Trường Cao đẳng Cơ giới và Thủy lợi đã từng bước đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và các nền tảng số trong quản lý, chỉ đạo, điều hành và tổ chức đào tạo, qua đó tạo môi trường thuận lợi để đội ngũ giảng viên hình thành, củng cố và phát triển năng lực số. Hệ thống quản lý văn bản và điều hành điện tử được triển khai đồng bộ, gắn với sử dụng chữ ký số trong xử lý, phát hành văn bản; thư điện tử công vụ được sử dụng thường xuyên; các cuộc họp, hội nghị trực tuyến được tổ chức khi cần thiết. Nhà trường đồng thời ứng dụng các phần mềm chuyên dụng trong quản lý đào tạo, tài chính, tài sản và một số hoạt động quản trị nội bộ.
Tỷ lệ văn bản trao đổi, xử lý dưới dạng điện tử đạt trên 95%, góp phần giảm chi phí văn phòng phẩm, rút ngắn thời gian luân chuyển và xử lý hồ sơ. Việc số hóa quy trình xử lý công việc đã giúp giảm khoảng 70% lượng hồ sơ giấy luân chuyển nội bộ, tạo môi trường làm việc số và thúc đẩy cán bộ, viên chức, giảng viên hình thành thói quen xử lý công việc trên nền tảng công nghệ.
Nhà trường đã đưa vào sử dụng phần mềm quản lý trường học Ccs Train, từng bước hình thành cơ sở dữ liệu phục vụ quản lý và điều hành hoạt động đào tạo. Hệ thống hỗ trợ quản lý kết quả học tập, điểm thi, điểm rèn luyện và quá trình học tập của người học, đồng thời tạo điều kiện để giảng viên tiếp cận và sử dụng dữ liệu trong thực hiện nhiệm vụ chuyên môn.
Trong hoạt động giảng dạy, Nhà trường đã từng bước triển khai xây dựng, số hóa và sử dụng giáo án điện tử, học liệu số. Đến nay, Nhà trường đã hình thành và tiếp tục bổ sung ngân hàng giáo trình điện tử, video bài giảng, video hướng dẫn thực hành, thư viện tài liệu số, hệ thống đề thi và ngân hàng câu hỏi trực tuyến. Trên 90% học phần đã có học liệu điện tử phục vụ giảng dạy và học tập, giúp người học tiếp cận nội dung học tập linh hoạt hơn. Các khoa chuyên môn đã khai thác hệ thống quản lý học tập và dạy học trực tuyến LMS để giao nhiệm vụ, cung cấp tài liệu, theo dõi tiến độ, tổ chức kiểm tra, đánh giá và hỗ trợ hình thức đào tạo kết hợp giữa trực tiếp và trực tuyến. Qua đó, năng lực tổ chức dạy học trên môi trường số của đội ngũ giảng viên từng bước được hình thành và nâng cao. Đối với các ngành, nghề có yêu cầu cao về thực hành như điện - điện tử, cơ khí, cơ giới, logistics, việc sử dụng video kỹ thuật, học liệu số và nội dung mô phỏng giúp người học làm quen với quy trình, thiết bị và thao tác nghề trước khi thực hành trực tiếp tại xưởng. Đây cũng là môi trường để giảng viên tăng cường khả năng kết hợp giữa kiến thức chuyên môn, kỹ năng nghề với công nghệ số trong tổ chức đào tạo.
Nhà trường đã xây dựng chương trình, tài liệu đào tạo trực tuyến về ứng dụng trí tuệ nhân tạo trên nền tảng LMS và tổ chức khóa tự học về ứng dụng trí tuệ nhân tạo cho hơn 3.000 học sinh, sinh viên; đồng thời triển khai nền tảng LMS trong giao bài tập, kiểm tra, đánh giá đối với hơn 3.000 học sinh học chương trình văn hóa trung học phổ thông.
Hiện nay, Nhà trường đang xây dựng mô hình “Trường nghề số”, trong đó chuyển đổi số được triển khai trên ba trụ cột: hạ tầng số - sư phạm số - quản trị số, hướng tới hình thành hệ sinh thái giáo dục nghề nghiệp hiện đại, linh hoạt và tăng cường gắn kết với doanh nghiệp, thị trường lao động. Việc triển khai mô hình đồng thời tạo môi trường để đội ngũ giảng viên thường xuyên tiếp cận và sử dụng các công cụ, nền tảng và phương thức đào tạo số.
Xác định đội ngũ cán bộ, giảng viên, viên chức và người lao động là yếu tố quan trọng quyết định hiệu quả chuyển đổi số, Nhà trường thường xuyên tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn nhằm nâng cao nhận thức và kỹ năng số. Cán bộ, giảng viên được triển khai tham gia phổ cập kỹ năng số trên nền tảng Bình dân học vụ số năm 2026. 100% giảng viên được bồi dưỡng về chuyển đổi số với các nội dung như ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và giảng dạy; sử dụng nền tảng học tập trực tuyến; xây dựng bài giảng điện tử và học liệu số; khai thác các công cụ trí tuệ nhân tạo; sử dụng chữ ký số, hệ thống văn bản điện tử và bảo đảm an toàn, an ninh thông tin trên môi trường mạng.
Qua quá trình triển khai, nhận thức của đội ngũ về vai trò của chuyển đổi số từng bước được nâng cao; khả năng sử dụng thiết bị, phần mềm và các nền tảng số trong quản lý, giảng dạy và thực hiện nhiệm vụ chuyên môn ngày càng được cải thiện. Giảng viên đã từng bước ứng dụng công nghệ trong xây dựng bài giảng điện tử, phát triển học liệu số, quản lý lớp học, kiểm tra, đánh giá và quản lý người học.
Việc khai thác phần mềm chuyên ngành và công nghệ mô phỏng phục vụ đào tạo thực hành nghề từng bước được chú trọng. Một bộ phận giảng viên đã chủ động tiếp cận, bước đầu ứng dụng trí tuệ nhân tạo và các công cụ số mới trong giảng dạy, nghiên cứu khoa học và thực hiện nhiệm vụ chuyên môn. Đây là nền tảng quan trọng để Nhà trường tiếp tục phát triển năng lực số của đội ngũ giảng viên trong thời gian tới.
Bên cạnh những kết quả đạt được, năng lực số của đội ngũ giảng viên Nhà trường vẫn còn một số hạn chế. Trước hết, trình độ và mức độ ứng dụng công nghệ số giữa các giảng viên chưa đồng đều. Một bộ phận giảng viên chủ yếu sử dụng các công cụ số ở mức cơ bản, tập trung vào soạn giảng, trình chiếu, trao đổi thông tin và quản lý lớp học, trong khi khả năng tích hợp sâu công nghệ vào toàn bộ quá trình dạy học còn hạn chế.
Khả năng thiết kế, phát triển học liệu số có tính tương tác, xây dựng bài giảng số và tích hợp công nghệ vào phương pháp tổ chức dạy học chưa đồng đều. Việc khai thác phần mềm chuyên ngành, công nghệ mô phỏng, dữ liệu số, trí tuệ nhân tạo và các công nghệ mới phục vụ đào tạo nghề tuy đã được quan tâm nhưng còn khác biệt giữa các khoa, ngành, nghề và chưa tương xứng với tiềm năng ứng dụng.
Bên cạnh đó, Nhà trường chưa xây dựng được hệ thống tiêu chí riêng, cụ thể và thống nhất để đánh giá, phân loại năng lực số của giảng viên theo từng nhóm năng lực, mức độ thành thạo và yêu cầu của vị trí việc làm. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc xác định chính xác khoảng cách giữa năng lực hiện có với năng lực cần thiết, phân nhóm đối tượng và xác định nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng phù hợp.
Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng số đã được triển khai nhưng có thời điểm chưa theo kịp nhu cầu thực tiễn và tốc độ thay đổi của công nghệ. Một số nội dung còn tập trung vào hướng dẫn sử dụng công cụ, trong khi các năng lực chuyên sâu như thiết kế học liệu số có tính tương tác, khai thác và phân tích dữ liệu, ứng dụng trí tuệ nhân tạo, công nghệ mô phỏng, bảo đảm an toàn và đạo đức số cần tiếp tục được tăng cường.
Hạ tầng công nghệ, phần mềm chuyên ngành, kho học liệu số và nguồn lực đầu tư mặc dù đã được quan tâm nhưng vẫn cần tiếp tục hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu triển khai chuyển đổi số đồng bộ, đặc biệt đối với các ngành, nghề kỹ thuật đòi hỏi thiết bị, phần mềm mô phỏng và công nghệ chuyên dụng.
Những hạn chế trên xuất phát từ cả nguyên nhân chủ quan và khách quan. Về chủ quan, nhận thức, kỹ năng công nghệ và khả năng tự học, tự cập nhật kiến thức số của một bộ phận giảng viên chưa đồng đều; một số giảng viên còn tâm lý ngại thay đổi và thói quen sử dụng phương pháp giảng dạy truyền thống. Việc phát triển năng lực số chưa được thực hiện đầy đủ trên cơ sở đánh giá, phân loại mức độ năng lực của từng nhóm giảng viên nên nội dung bồi dưỡng có lúc chưa thật sự sát với nhu cầu.
Về khách quan, cơ chế và chương trình đào tạo, bồi dưỡng năng lực số chưa thật sự đồng bộ; nguồn lực đầu tư cho công nghệ, phần mềm chuyên ngành và học liệu số còn có giới hạn. Trong khi đó, công nghệ số, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo phát triển rất nhanh, nhiều công cụ và phương thức ứng dụng liên tục thay đổi, đặt ra yêu cầu thường xuyên cập nhật kiến thức và kỹ năng mới đối với đội ngũ giảng viên.
Một là, nâng cao nhận thức và từng bước xây dựng hệ thống đánh giá năng lực số của đội ngũ giảng viên.
Tiếp tục tuyên truyền, phổ biến các chủ trương, chính sách về chuyển đổi số trong giáo dục và giáo dục nghề nghiệp, giúp đội ngũ giảng viên nhận thức đầy đủ rằng năng lực số không chỉ là khả năng sử dụng công nghệ mà đã trở thành một thành tố quan trọng trong năng lực nghề nghiệp của giảng viên.
Trên cơ sở yêu cầu chuyển đổi số và đặc thù đào tạo của Nhà trường, cần nghiên cứu xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá năng lực số của giảng viên theo các nhóm cơ bản như: khai thác thông tin và dữ liệu số; thiết kế và phát triển học liệu số; tổ chức dạy học, kiểm tra, đánh giá trên môi trường số; sử dụng phần mềm chuyên ngành và công nghệ mô phỏng; ứng dụng trí tuệ nhân tạo và công nghệ mới; bảo đảm an toàn, bản quyền và đạo đức số. Việc đánh giá cần gắn với vị trí việc làm và đặc thù từng nhóm ngành, nghề, qua đó xác định khoảng cách năng lực và nhu cầu phát triển của từng nhóm giảng viên.
Hai là, tăng cường đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng số cho đội ngũ giảng viên.
Trên cơ sở kết quả đánh giá và phân loại năng lực số, Nhà trường cần tổ chức các chương trình bồi dưỡng theo hướng phân nhóm đối tượng, tránh triển khai đồng loạt cùng một nội dung cho tất cả giảng viên. Nội dung bồi dưỡng cần thiết thực, gắn với vị trí việc làm, đặc thù ngành, nghề và mức độ năng lực số của từng nhóm.
Bên cạnh những kỹ năng cơ bản về sử dụng nền tảng dạy học trực tuyến và phần mềm thiết kế bài giảng, cần tăng cường các nội dung chuyên sâu về xây dựng học liệu số tương tác, khai thác dữ liệu, sử dụng phần mềm chuyên ngành, công nghệ mô phỏng, ứng dụng trí tuệ nhân tạo và bảo đảm an toàn số. Đồng thời, khuyến khích giảng viên chủ động tự học, tự nghiên cứu, tham gia các cộng đồng chuyên môn và thường xuyên cập nhật công nghệ mới.
Ba là, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong hoạt động giảng dạy và kiểm tra, đánh giá.
Khuyến khích giảng viên tăng cường khai thác các nền tảng số, hệ thống quản lý học tập, phần mềm chuyên ngành, công nghệ mô phỏng và các công cụ hỗ trợ trong thiết kế, tổ chức bài giảng. Việc ứng dụng công nghệ cần chuyển dần từ hỗ trợ trình chiếu, cung cấp tài liệu sang tích hợp vào toàn bộ quá trình thiết kế hoạt động học tập, tương tác, thực hành và đánh giá người học.
Trong kiểm tra, đánh giá, cần đa dạng hóa hình thức, tăng cường sử dụng ngân hàng câu hỏi, bài kiểm tra trực tuyến, công cụ theo dõi quá trình học tập và dữ liệu học tập của người học. Đối với các ngành, nghề kỹ thuật, cần tăng cường kết hợp mô phỏng số với thực hành trên thiết bị thực tế, qua đó vừa nâng cao hiệu quả đào tạo vừa hình thành khả năng thích ứng công nghệ cho người học.
Bốn là, tăng cường xây dựng, khai thác và chia sẻ học liệu số.
Khuyến khích giảng viên xây dựng bài giảng điện tử, giáo trình số, video bài giảng, video hướng dẫn thực hành, ngân hàng câu hỏi và các tài nguyên số gắn với từng ngành, nghề đào tạo. Trên cơ sở đó, từng bước hoàn thiện kho học liệu số dùng chung của Nhà trường, tạo điều kiện để giảng viên khai thác, trao đổi, chia sẻ và tái sử dụng tài nguyên phục vụ giảng dạy.
Cùng với phát triển về số lượng, cần chú trọng chất lượng học liệu số thông qua xây dựng cơ chế thẩm định, kiểm duyệt, cập nhật và chuẩn hóa. Từng bước hình thành các nhóm giảng viên nòng cốt về học liệu số tại từng khoa để hỗ trợ đồng nghiệp, chia sẻ kinh nghiệm và lan tỏa các mô hình, sản phẩm có hiệu quả.
Năm là, nâng cao khả năng ứng dụng trí tuệ nhân tạo và các công nghệ mới trong hoạt động chuyên môn của giảng viên.
Nhà trường cần tổ chức hướng dẫn, bồi dưỡng giảng viên khai thác các công cụ trí tuệ nhân tạo (AI) phục vụ xây dựng bài giảng, thiết kế câu hỏi, tìm kiếm và tổng hợp tài liệu, nghiên cứu khoa học, hỗ trợ người học và thực hiện nhiệm vụ chuyên môn. Việc bồi dưỡng cần chú trọng cả kỹ năng sử dụng công cụ và khả năng đánh giá, kiểm chứng kết quả do trí tuệ nhân tạo tạo ra.
Song song với khuyến khích ứng dụng, cần nâng cao nhận thức và trách nhiệm của giảng viên về bảo mật dữ liệu, quyền sở hữu trí tuệ, bản quyền, tính trung thực học thuật và đạo đức trong sử dụng công nghệ. Trí tuệ nhân tạo cần được xác định là công cụ hỗ trợ nâng cao năng suất và chất lượng hoạt động chuyên môn, không thay thế tư duy, năng lực chuyên môn và trách nhiệm nghề nghiệp của giảng viên.
Sáu là, tăng cường các điều kiện hỗ trợ và tạo động lực cho giảng viên phát triển năng lực số.
Nhà trường cần tiếp tục đầu tư, nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin, hệ thống mạng, đường truyền, thiết bị, phòng học thông minh, phần mềm chuyên ngành, công nghệ mô phỏng và các nền tảng phục vụ đào tạo; đồng thời tạo điều kiện để giảng viên được tiếp cận, trải nghiệm và thường xuyên sử dụng công nghệ trong hoạt động chuyên môn.
Bên cạnh đầu tư hạ tầng, cần hình thành cơ chế tạo động lực phù hợp. Kết quả ứng dụng công nghệ, xây dựng học liệu số, đổi mới phương pháp giảng dạy và chia sẻ sản phẩm số cần được xem xét trong đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ, thi đua, khen thưởng. Kịp thời biểu dương, nhân rộng các giảng viên có sáng kiến, sản phẩm và mô hình ứng dụng công nghệ hiệu quả; qua đó hình thành môi trường đổi mới, chia sẻ và học tập số trong toàn Nhà trường.
Nâng cao năng lực số của đội ngũ giảng viên là một trong những điều kiện quan trọng để thực hiện hiệu quả chuyển đổi số trong giáo dục nghề nghiệp và nâng cao chất lượng đào tạo. Thực tiễn tại Trường Cao đẳng Cơ giới và Thủy lợi cho thấy, Nhà trường đã từng bước hình thành nền tảng về hạ tầng công nghệ, phần mềm quản lý, học liệu số, hệ thống quản lý học tập và ứng dụng trí tuệ nhân tạo; khả năng sử dụng công nghệ của đội ngũ giảng viên từng bước được cải thiện.
Tuy nhiên, trước tốc độ phát triển nhanh của công nghệ số và yêu cầu ngày càng cao đối với chất lượng nguồn nhân lực, việc phát triển năng lực số của giảng viên cần được thực hiện thường xuyên, liên tục và có hệ thống. Trong đó, cần chuyển từ cách tiếp cận chủ yếu dựa trên trang bị kỹ năng sử dụng công cụ sang cách tiếp cận phát triển năng lực số toàn diện, gắn với vị trí việc làm, đặc thù ngành, nghề và yêu cầu đổi mới hoạt động đào tạo.
Để thực hiện mục tiêu đó, Nhà trường cần triển khai đồng bộ các giải pháp, qua đó từng bước hình thành đội ngũ giảng viên có năng lực số phù hợp, góp phần thúc đẩy mô hình “Trường nghề số”, nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp và cung cấp nguồn nhân lực có kỹ năng nghề, kỹ năng số đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động trong bối cảnh chuyển đổi số./.
-----------------------------------------
Tài liệu tham khảo:
1. Thủ tướng Chính phủ (2021), Quyết định số 2222/QĐ-TTg ngày 30/12/2021 phê duyệt Chương trình chuyển đổi số trong giáo dục nghề nghiệp đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
2. Thủ tướng Chính phủ (2021), Quyết định số 2239/QĐ-TTg ngày 30/12/2021 phê duyệt Chiến lược phát triển giáo dục nghề nghiệp giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
3. Thủ tướng Chính phủ (2022), Quyết định số 131/QĐ-TTg ngày 25/01/2022 phê duyệt Đề án “Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong giáo dục và đào tạo giai đoạn 2022 - 2025, định hướng đến năm 2030”.
4. Bộ Chính trị (2024), Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
5. Bộ Chính trị (2025), Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.
6. Văn phòng Trung ương Đảng, Thông báo số 160-TB/VPTW ngày 29/8/2026 về Thông báo kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại buổi làm việc với các cơ quan về kết quả 01 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW, ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.
7. Trường Cao đẳng Cơ giới và Thủy lợi (2026), Chiến lược phát triển Trường Cao đẳng Cơ giới và Thủy lợi giai đoạn 2026 - 2030 và tầm nhìn đến năm 2045.
8. Trường Cao đẳng Cơ giới và Thủy lợi (2025), Báo cáo tổng kết kết quả hoạt động năm 2025.
9. Trường Cao đẳng Cơ giới và Thủy lợi (2026), Báo cáo thống kê nhân lực 06 tháng đầu năm 2026.
10. Trường Cao đẳng Cơ giới và Thủy lợi (2026), Báo cáo đánh giá mức độ thực hiện nhiệm vụ công nghệ thông tin, chuyển đổi số.
11. Trường Cao đẳng Cơ giới và Thủy lợi (2026), Báo cáo tổng kết năm học 2025-2026.
TS Nguyễn Văn Chương - ThS Lê Thị Đạo - Trường Cao đẳng Cơ giới và Thủy lợi
Tin tức cùng chuyên mục
Bài viết cùng tác giả