Tiếng Việt
Tiếng Việt Tiếng Anh

Xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2026-2030: Từ chính sách đến chuyển động ở cơ sở

Ngày đăng: 16/09/2026   11:27
Đọc bài viết
Mặc định Cỡ chữ
Từ những định hướng lớn của Trung ương, các địa phương đang từng bước cụ thể hóa bộ tiêu chí nông thôn mới giai đoạn 2026-2030, thích ứng với mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, đồng thời chuyển mạnh từ tư duy “đạt chuẩn” sang nâng cao chất lượng sống, phát triển kinh tế nông thôn và xây dựng những miền quê hiện đại, xanh, đáng sống.

ây dựng nông thôn mới 2026 - 2030 | Tạp chí Tổ chức nhà nước và Lao động

Ngày 24/8/2026, Quốc hội khóa XVI thông qua Nghị quyết số 46/2026/QH16 phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026-2035. Đây là dấu mốc quan trọng, tạo khuôn khổ mới cho việc triển khai các chính sách phát triển nông thôn trong giai đoạn tới.

Theo Nghị quyết số 46/2026/QH16, Chương trình được hình thành trên cơ sở hợp nhất 4 chương trình mục tiêu quốc gia, gồm chương trình về phát triển văn hóa; hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo; xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; chăm sóc sức khỏe, dân số và phát triển. Việc hợp nhất nhằm tổ chức lại nguồn lực, nâng cao hiệu quả quản lý, nhưng không làm thay đổi, thu hẹp mục tiêu, phạm vi, đối tượng thụ hưởng, quyền lợi và mức độ ưu tiên đã được xác định trong các chương trình trước đây.

Đối với xây dựng nông thôn mới, mục tiêu được đặt trong một không gian phát triển rộng hơn: xây dựng nông thôn hiện đại, giàu đẹp, bản sắc, bền vững, gắn với đô thị hóa và thích ứng biến đổi khí hậu; phát triển kinh tế nông thôn theo hướng xanh, tuần hoàn, sinh thái; nâng cao thu nhập, chất lượng cuộc sống và thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng, miền.

Từ khung chính sách đó, quá trình triển khai tại cơ sở đang cho thấy những chuyển động mới, từ Điện Biên, Sơn La, Tuyên Quang đến Ninh Bình, Thanh Hóa.

Một trong những yêu cầu đầu tiên đối với các địa phương khi bước vào giai đoạn 2026-2030 là phải rà soát lại toàn bộ hiện trạng, bởi không gian phát triển nông thôn đã có nhiều thay đổi sau quá trình sắp xếp đơn vị hành chính và vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp.

Quyết định số 51/2025/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới giai đoạn 2026-2030, gồm 10 tiêu chí và 47 chỉ tiêu. Đáng chú ý, các xã được phân thành 3 nhóm để áp dụng phù hợp với điều kiện phát triển, trong đó nhóm 3 là các xã thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Cách phân loại này cho phép chính sách có sự phân hóa, thay vì áp dụng một mặt bằng cứng cho mọi địa bàn.

Cùng với đó, Bộ tiêu chí thí điểm xã nông thôn mới hiện đại mở ra những yêu cầu cao hơn về hạ tầng số, năng lượng mới và tái tạo, sản xuất nông nghiệp thông minh, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, môi trường, chất lượng nguồn nhân lực, văn hóa và an ninh trật tự.

Tại Điện Biên, yêu cầu này càng rõ nét khi tỉnh chuyển sang mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. Sau sắp xếp đơn vị hành chính, số xã của tỉnh giảm từ 115 xuống còn 42. Sự thay đổi về địa giới và quy mô đơn vị hành chính đòi hỏi việc rà soát, đánh giá lại các tiêu chí nông thôn mới, đồng thời chuyển trọng tâm từ chạy theo số lượng xã đạt chuẩn sang nâng cao chất lượng và tính bền vững.

Tại xã Tủa Chùa, việc rà soát được cụ thể hóa bằng Báo cáo số 372/BC-UBND ngày 29/6/2026 về đánh giá thực trạng nông thôn mới theo dự thảo Bộ tiêu chí xã nông thôn mới tỉnh Điện Biên giai đoạn 2026-2030. Đây là một ví dụ cho thấy các tiêu chí mới đang được đưa xuống cơ sở để “đo” lại hiện trạng, xác định những nội dung đã đạt, chưa đạt và những nhiệm vụ cần ưu tiên trong giai đoạn mới.

Cách làm này có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh xây dựng nông thôn mới không còn đơn thuần là hoàn thành một danh mục tiêu chí. Đằng sau mỗi tiêu chí phải là một năng lực phát triển cụ thể của địa phương, từ tổ chức sản xuất, giao thông, môi trường, giáo dục, y tế đến chuyển đổi số và chất lượng quản trị.

Tại Sơn La, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 52/2026/QĐ-UBND ngày 27/8/2026 về Bộ tiêu chí xã nông thôn mới và Bộ tiêu chí thí điểm xã nông thôn mới hiện đại giai đoạn 2026-2030 trên địa bàn tỉnh, có hiệu lực từ ngày 8/9/2026. Việc địa phương sớm cụ thể hóa bộ tiêu chí quốc gia thành tiêu chí phù hợp với điều kiện của tỉnh cho thấy bước chuyển từ “khung chính sách” sang tổ chức thực hiện ở cơ sở đang được đẩy nhanh.

Đây cũng là yêu cầu xuyên suốt của Nghị quyết số 46/2026/QH16. Quốc hội giao HĐND, UBND các tỉnh, thành phố căn cứ thẩm quyền để ban hành quy định cụ thể về nội dung, sử dụng nguồn lực và giải pháp thực hiện; đồng thời có thể phân cấp cho cấp xã quản lý, tổ chức thực hiện Chương trình phù hợp với năng lực và điều kiện thực tiễn, phát huy vai trò chủ thể của người dân và cộng đồng.

Như vậy, với mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, cấp xã sẽ ngày càng giữ vai trò trực tiếp hơn trong tổ chức thực hiện các chương trình phát triển nông thôn. Điều này vừa mở rộng không gian chủ động, vừa đặt ra yêu cầu cao hơn về năng lực cán bộ, khả năng xây dựng kế hoạch, quản lý nguồn lực và tổ chức thực hiện ở cơ sở.

Nếu giai đoạn trước đặt nặng việc hoàn thành tiêu chí, thì giai đoạn 2026-2030 đang định hình rõ hơn yêu cầu về chất lượng thực chất và khả năng duy trì thành quả.

Quyết định số 417/QĐ-BNNMT ngày 31/1/2026 đã xác định mục tiêu xây dựng nông thôn mới theo hướng hiện đại, giàu đẹp, văn minh, có bản sắc, bền vững; phát triển kinh tế nông thôn xanh, tuần hollow, sinh thái; nâng cao thu nhập và chất lượng cuộc sống của người dân; thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng, miền. Đến năm 2030, phấn đấu thu nhập bình quân của người dân nông thôn tăng 2,5-3 lần so với năm 2020; tỷ lệ nghèo đa chiều giảm bình quân 1-1,5%/năm; khoảng 65% số xã đạt chuẩn nông thôn mới và khoảng 10% số xã đạt chuẩn nông thôn mới hiện đại. Nghị quyết số 46/2026/QH16 tiếp tục đặt mục tiêu xây dựng nông thôn mới trong tổng thể phát triển văn hóa - xã hội và con người. Điều này có nghĩa, một xã nông thôn mới trong giai đoạn mới không chỉ có đường giao thông tốt, trường học, trạm y tế hay cơ sở hạ tầng được đầu tư, mà còn phải tạo dựng được môi trường sống có chất lượng, kinh tế có sức cạnh tranh, văn hóa được bảo tồn và phát huy, người dân có cơ hội tiếp cận tốt hơn với giáo dục, y tế, văn hóa và các dịch vụ thiết yếu.

Tại Tuyên Quang, tỉnh đã ban hành Quyết định số 109/2026/QĐ-UBND ngày 10/8/2026 về bộ tiêu chí xã nông thôn mới, xã nông thôn mới hiện đại và thôn nông thôn mới giai đoạn 2026-2030. Các tiêu chí mới bao quát nhiều lĩnh vực, từ quy hoạch, hạ tầng kinh tế - xã hội, phát triển kinh tế nông thôn đến văn hóa, giáo dục, y tế, môi trường, chuyển đổi số và an ninh trật tự. Đáng chú ý, yêu cầu về hạ tầng viễn thông hướng tới phủ sóng và cung cấp dịch vụ internet cho 100% khu dân cư nông thôn và khu vực sản xuất; hệ thống đường giao thông cũng gắn với yêu cầu cụ thể về chất lượng và cảnh quan. Tuyên Quang đồng thời phân nhóm các xã để triển khai chính sách phù hợp. Trong tổng số 117 xã, nhóm 1 có 3 xã, nhóm 2 có 13 xã và nhóm 3 có 101 xã, trong đó phần lớn thuộc địa bàn miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Việc phân nhóm tạo cơ sở để phân bổ nguồn lực theo mức độ khó khăn, thay vì áp dụng một cách tiếp cận đồng nhất cho những địa bàn có điều kiện rất khác nhau.

Tại Ninh Bình, kế hoạch xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2026-2030 đặt mục tiêu đến năm 2030 có 68 xã đạt chuẩn nông thôn mới và 12 xã đạt chuẩn nông thôn mới hiện đại. Lộ trình được phân kỳ cụ thể qua từng năm, qua đó tạo cơ sở để địa phương chủ động cân đối nguồn lực và theo dõi tiến độ thực hiện. Điểm đáng chú ý ở đây là “hiện đại” không được hiểu đơn thuần là đầu tư thêm công trình. Xã nông thôn mới hiện đại phải có nền tảng kinh tế, hạ tầng số, sản xuất thông minh, môi trường bền vững và đời sống văn hóa phong phú. Đó là sự thay đổi về chất trong cách tổ chức không gian nông thôn.

Định hướng này cũng phù hợp với tinh thần của Quyết định số 19/2026/QĐ-TTg về điều kiện, trình tự, thủ tục, hồ sơ xét, công nhận và thu hồi quyết định công nhận đạt chuẩn nông thôn mới, nông thôn mới hiện đại và hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2026-2030. Việc có cơ chế thu hồi công nhận khi không còn bảo đảm các điều kiện cần thiết cho thấy yêu cầu duy trì chất lượng đang được đặt ngang với việc đạt chuẩn ban đầu. Trong quá trình cụ thể hóa chính sách, Thanh Hóa đang thể hiện khá rõ yêu cầu chuyển từ mở rộng số lượng sang nâng cao chất lượng xây dựng nông thôn mới.

UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 1623/QĐ-UBND về tổ chức thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026-2030. Trong các định hướng triển khai, tỉnh tiếp tục hướng tới xây dựng nông thôn hiện đại, giàu đẹp, văn minh, có bản sắc và bền vững, với mục tiêu cao nhất là nâng cao chất lượng cuộc sống người dân.

Đáng chú ý, trong thông tin về xây dựng nông thôn mới được tỉnh cập nhật đầu tháng 9/2026, Thanh Hóa nhấn mạnh yêu cầu chuyển từ “lượng” sang “chất”, không chạy theo số lượng xã đạt chuẩn mà chú trọng chất lượng thực chất của các tiêu chí, phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập và chất lượng cuộc sống. Đây cũng chính là điểm gặp nhau giữa thực tiễn địa phương với yêu cầu mới của chính sách Trung ương. Nghị quyết số 46/2026/QH16 không chỉ hợp nhất các chương trình mà còn đặt ra một cách tiếp cận tích hợp hơn đối với phát triển nông thôn. Theo đó, phát triển nông thôn mới phải gắn với giảm nghèo, dân tộc và miền núi, văn hóa, giáo dục, y tế, sinh kế, môi trường và chuyển đổi số. Đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, Nghị quyết yêu cầu tiếp tục bảo đảm ưu tiên xuyên suốt trong các nhóm nhiệm vụ về hạ tầng, sinh kế, giáo dục, y tế, văn hóa và chuyển đổi số; kết quả thực hiện được theo dõi, báo cáo riêng để phục vụ giám sát.

Đây là một thay đổi đáng chú ý về tư duy chính sách. Nếu trước đây các chương trình mục tiêu quốc gia thường được nhìn nhận theo từng lĩnh vực, thì giai đoạn 2026-2035 hướng tới một không gian phát triển tích hợp hơn, trong đó cùng một địa bàn nông thôn có thể đồng thời giải quyết các vấn đề về hạ tầng, sinh kế, giảm nghèo, giáo dục, y tế, văn hóa và môi trường.

Để thực hiện được mục tiêu đó, vấn đề không chỉ nằm ở tổng nguồn lực mà còn ở cách phân bổ và sử dụng nguồn lực. Quyết định số 16/2026/QĐ-TTg về nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ vốn ngân sách trung ương và tỷ lệ vốn đối ứng của ngân sách địa phương đã tạo cơ sở cho việc phân bổ nguồn lực, trong đó chú trọng các địa bàn khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Nghị quyết số 46/2026/QH16 tiếp tục trao quyền chủ động lớn hơn cho địa phương. HĐND, UBND các tỉnh, thành phố được giao xây dựng kế hoạch, dự toán, bố trí ngân sách địa phương và huy động các nguồn lực hợp pháp khác; đồng thời được quyết định hoặc phân cấp quyết định việc phân bổ, điều chỉnh nguồn vốn trong phạm vi tổng mức vốn được giao, bảo đảm không làm thay đổi mục tiêu và đối tượng thụ hưởng.

Như vậy, một trong những thước đo quan trọng của giai đoạn mới sẽ là khả năng biến chính sách thành kết quả cụ thể tại từng thôn, bản, xã; biến nguồn lực thành sinh kế, thành hạ tầng, thành môi trường sống và thành cơ hội phát triển cho người dân.

Đặc biệt, Nghị quyết 46 yêu cầu việc hợp nhất 4 chương trình không được tạo ra khoảng trống chính sách hoặc làm gián đoạn quyền lợi của người dân. Các nhiệm vụ, dự án, kế hoạch, dự toán và nội dung đang thực hiện được xử lý theo cơ chế chuyển tiếp, bảo đảm tính liên tục và kế thừa.

Điều đó có ý nghĩa thiết thực đối với các địa phương đang trong quá trình sắp xếp đơn vị hành chính và tổ chức lại bộ máy. Trong bối cảnh địa giới thay đổi, nhiệm vụ được phân cấp mạnh hơn cho cơ sở, việc bảo đảm các dự án, chính sách và quyền lợi của người dân được triển khai liên tục sẽ là điều kiện quan trọng để duy trì niềm tin và hiệu quả của Chương trình. Nhìn từ Điện Biên, Sơn La, Tuyên Quang, Ninh Bình hay Thanh Hóa, có thể thấy chính sách xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2026-2030 đang chuyển từ giai đoạn chuẩn hóa tiêu chí sang giai đoạn kiến tạo một mô hình phát triển nông thôn mới.

Trong mô hình đó, bộ tiêu chí là công cụ quản lý; nguồn lực là điều kiện; chuyển đổi số là phương thức; phát triển kinh tế xanh, tuần hoàn, sinh thái là hướng đi; còn nâng cao chất lượng cuộc sống và sự hài lòng của người dân mới là đích đến.

Nghị quyết số 46/2026/QH16 tạo thêm một tầng liên kết cho quá trình này khi đặt xây dựng nông thôn mới trong tổng thể phát triển văn hóa - xã hội, giáo dục, y tế, giảm nghèo và phát triển vùng dân tộc, miền núi. Cách tiếp cận tích hợp sẽ giúp các địa phương tránh tình trạng đầu tư manh mún, chia cắt theo từng chương trình, đồng thời tạo điều kiện để một nguồn lực có thể tạo ra nhiều kết quả phát triển cùng lúc.

Vấn đề còn lại là năng lực tổ chức thực hiện. Khi cấp xã được trao quyền chủ động hơn, cán bộ cơ sở phải có năng lực quản lý chương trình, lập kế hoạch, điều phối nguồn lực, chuyển đổi số và vận động người dân tham gia. Cùng với đó, cơ chế giám sát của cộng đồng cần được phát huy để người dân không chỉ là đối tượng thụ hưởng mà thực sự trở thành chủ thể của quá trình xây dựng nông thôn mới.

Giai đoạn 2026-2030 vì thế không nên được nhìn như một cuộc chạy đua về số lượng xã đạt chuẩn. Đây phải là giai đoạn củng cố chất lượng, nâng sức chống chịu, tạo sinh kế bền vững và hình thành những không gian nông thôn có khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu, chuyển đổi số và những thay đổi nhanh chóng của nền kinh tế. Từ những con đường giao thông, cánh đồng, hợp tác xã, làng nghề đến trường học, trạm y tế, thiết chế văn hóa và hạ tầng số, mục tiêu cuối cùng vẫn là làm cho cuộc sống ở nông thôn ngày càng tốt hơn.

Đó cũng chính là ý nghĩa sâu xa của chuyển động từ “xây dựng nông thôn mới” sang “kiến tạo những miền quê đáng sống” trong giai đoạn mới.



.

Tin tức cùng chuyên mục

Bài viết cùng tác giả