Từ khóa: Quản trị địa phương; chuyển đổi số.
Abstract: In the context of globalization, international integration and the far-reaching impacts of the Fourth Industrial Revolution, local governance has increasingly been recognized as a strategic component of modern national governance. Countries are moving toward governance models that are democratic, transparent, effective and citizen-centred. In Vietnam, the process of reforming political institutions and the state apparatus has marked a fundamental shift in the local government model, particularly through the organization of a two-tier local government system (at the provincial and grassroots levels). This change is not merely an administrative adjustment, but a turning point in both governance perception and practice, reflecting a transition from an “administrative-command” model to a local governance approach based on broad societal participation. However, the current national digital transformation context both creates significant opportunities and poses major challenges for the operation of the two-tier local government model. This article focuses on three main issues: (i) the concept of local governance and its relationship with the two-tier local government model in the context of digital transformation; (ii) opportunities and challenges in operating the two-tier local government system in Vietnam; and (iii) several policy recommendations to promote local governance in the digital era.
Keywords: Local governance; digital transformation.
![]()
1. Quan niệm quản trị địa phương và mối quan hệ với mô hình chính quyền địa phương 02 cấp trong bối cảnh chuyển đổi số
Trong khoa học chính trị và hành chính công hiện đại, quản trị địa phương (local governance) đã trở thành một phạm trù trung tâm khi nghiên cứu về tổ chức và vận hành chính quyền ở cấp cơ sở. Theo Ngân hàng Thế giới (World Bank, 2006)(1), quản trị địa phương là "…việc hình thành và thực thi hành động tập thể ở cấp địa phương, bao gồm cả vai trò trực tiếp và gián tiếp của các thể chế chính thức của chính quyền địa phương, cũng như vai trò của các thể chế phi chính thức, gồm các mạng lưới, tổ chức cộng đồng và hiệp hội khu vực, trong việc theo đuổi hành động tập thể, xác định khuôn khổ cho tương tác giữa công dân với nhau và giữa công dân với nhà nước, ra quyết định tập thể và cung cấp dịch vụ công ở địa phương". Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) nhấn mạnh, quản trị địa phương là "cách thức trực tiếp nhất để người dân tiếp cận các dịch vụ cơ bản, tham gia vào các hoạt động công cộng và thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình"(2) (United Nations Development Programme). Tương tự, một cơ quan khác của Liên Hợp Quốc xem quản trị địa phương là "mức độ gần gũi nhất với người dân, điều khiển sự tương tác của chính quyền với công dân, cộng đồng và các bên liên quan khác" (United Nations Department of Economic and Social Affairs, 2015).
Trong khoa học hành chính hiện đại, quản trị địa phương (local governance) là hệ thống cơ chế, thể chế và tiến trình mà qua đó nhà nước, khu vực tư, xã hội dân sự và công dân cùng tham gia kiến tạo, thực thi, giám sát chính sách công tại một lãnh thổ nhất định.
Theo GS.TS Vũ Công Giao thì quản trị địa phương “là quá trình ra quyết định và thực thi chính sách công ở cấp địa phương, được thực hiện thông qua sự phối hợp giữa các cơ quan chính quyền địa phương, tổ chức xã hội, doanh nghiệp, cộng đồng và các bên liên quan khác, nhằm cung cấp dịch vụ công hiệu quả, thúc đẩy sự phát triển ổn định, thịnh vượng và bền vững của địa phương”(3).
Đối với Việt Nam, trong tiến trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, vấn đề xây dựng mô hình chính quyền địa phương 02 cấp đang đặt ra cấp thiết trong bối cảnh thực hiện chủ trương nhập tỉnh, nhập xã, xóa bỏ cấp huyện. Việc này không chỉ là sự thay đổi về mặt tổ chức hành chính mà còn là một bước ngoặt lớn trong nhận thức và thực hành quản trị địa phương - một nội dung cốt lõi của quản trị quốc gia hiện đại.
Quản trị địa phương không còn giới hạn trong khuôn khổ của quản lý nhà nước truyền thống, mà đã và đang mở rộng theo hướng đa trung tâm, đề cao tính hợp tác, minh bạch, trách nhiệm giải trình và sự tham gia của xã hội. Trong mô hình 02 cấp (cấp tỉnh và cấp cơ sở), việc làm rõ đặc điểm, yêu cầu, các chủ thể, nội dung và phương thức quản trị ở mỗi cấp là cơ sở lý luận và thực tiễn quan trọng để thiết kế mô hình chính quyền địa phương phù hợp, hiệu quả và bền vững.
Vì vậy, quản trị địa phương là quá trình tổ chức, điều hành và kiểm soát các hoạt động quản lý công ở phạm vi một địa phương nhằm hướng tới các mục tiêu phát triển bền vững, bảo đảm lợi ích công cộng và sự tham gia của người dân, doanh nghiệp. Đây là quá trình tổng hợp bao gồm hoạch định chính sách, tổ chức thực thi, giám sát và phản hồi, với sự tham gia của cả chính quyền, khu vực tư nhân và cộng đồng dân cư.
Từ nền tảng lý luận, quản trị địa phương được xây dựng trên một số nguyên tắc cơ bản được khẳng định rộng rãi trong các nghiên cứu và báo cáo quốc tế.(4)
Thứ nhất, nguyên tắc phân quyền và tự quản, theo đó địa phương cần được trao quyền và trách nhiệm giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội phù hợp bối cảnh cụ thể.
Thứ hai, nguyên tắc dân chủ và sự tham gia, nhấn mạnh quyền tham gia của công dân vào toàn bộ chu trình chính sách, từ hoạch định, thực thi đến giám sát.
Thứ ba, nguyên tắc minh bạch và trách nhiệm giải trình, yêu cầu chính quyền phải công khai thông tin và chịu sự giám sát xã hội.
Thứ tư, nguyên tắc hiệu quả và hiệu lực, nhấn mạnh tính mục tiêu và chi phí - lợi ích trong hoạt động chính sách, đồng thời nâng cao chất lượng dịch vụ công.
Thứ năm, nguyên tắc công bằng và bền vững, bảo đảm quyền lợi của mọi nhóm xã hội, đặc biệt là nhóm yếu thế, đồng thời duy trì sự phát triển bao trùm và lâu dài.
Trong bối cảnh chuyển đổi số, các nguyên tắc này được mở rộng thành chuẩn mực của chính quyền số: công khai dữ liệu, giải trình trực tuyến, dịch vụ công lấy người dân làm trung tâm và bảo đảm công bằng trong tiếp cận công nghệ. Chính quyền số không chỉ đơn thuần là sự kế thừa của chính phủ điện tử, mà là một mô hình mới - nơi toàn bộ hoạt động chính quyền được vận hành trên nền tảng dữ liệu và công nghệ số, cung cấp dịch vụ công dựa trên nhu cầu, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm.
Ba giá trị nổi bật của chính quyền số ở cấp địa phương có thể kể đến là: (i) minh bạch hóa quản trị, thông qua dữ liệu mở và các kênh giám sát trực tuyến; (ii) nâng cao hiệu quả và chất lượng dịch vụ công, với các dịch vụ trực tuyến mức độ 4, hệ thống một cửa điện tử và cơ sở dữ liệu liên thông; (iii) tăng cường sự tham gia xã hội, nhờ các nền tảng phản ánh, tham vấn chính sách trực tuyến và công cụ tương tác số. Tuy nhiên, cùng với cơ hội, chính quyền số cũng đặt ra những thách thức mới, đặc biệt là yêu cầu nâng cao năng lực số cho đội ngũ công chức và bảo đảm quyền tiếp cận công nghệ cho mọi công dân. Nếu không, “bất bình đẳng số” sẽ làm gia tăng khoảng cách xã hội và làm suy yếu tính dân chủ, công bằng trong quản trị địa phương.
Đặt trong bối cảnh Việt Nam, việc tổ chức mô hình chính quyền địa phương 02 cấp (tỉnh - cơ sở) gắn liền với chuyển đổi số thể hiện một bước đi cải cách thể chế có tính bước ngoặt. Ở cấp tỉnh, chính quyền giữ vai trò kiến trúc sư thể chế và điều phối vùng, với nhiệm vụ hoạch định chính sách, phân bổ ngân sách, điều hành dữ liệu liên thông, bảo đảm hạ tầng số và điều tiết phát triển cân bằng giữa các khu vực. Ở cấp cơ sở, chính quyền trở thành “đơn vị phục vụ trực tiếp”, gắn bó mật thiết với người dân, chịu trách nhiệm cung ứng dịch vụ công số và phản ánh kịp thời nhu cầu từ cộng đồng. Việc loại bỏ cấp huyện như một tầng nấc trung gian vừa tinh giản bộ máy, vừa kết hợp với công nghệ số để rút ngắn thủ tục, tăng cường sự tham gia trực tiếp của công dân qua nền tảng trực tuyến. Như vậy, mô hình 02 cấp trong kỷ nguyên số không chỉ là sự thay đổi tổ chức hành chính, mà là sự hình thành một hệ sinh thái quản trị địa phương mới: mở, minh bạch, dữ liệu hóa và lấy công dân làm trung tâm.
Có thể thấy, quan niệm quản trị địa phương trong bối cảnh chuyển đổi số mang ý nghĩa vượt ra ngoài phạm vi quản lý hành chính truyền thống. Nó khẳng định vai trò đồng kiến tạo của nhiều tác nhân, đặt nền tảng cho việc xây dựng một nền chính quyền số dân chủ, minh bạch, hiệu quả. Khi gắn với mô hình chính quyền địa phương 02 cấp ở Việt Nam, quản trị địa phương trở thành chìa khóa để vừa tinh gọn bộ máy, vừa bảo đảm tính tham gia, công bằng và bền vững trong quản trị. Đây là bước ngoặt quan trọng, mở ra triển vọng xây dựng một nền quản trị địa phương hiện đại, thích ứng với kỷ nguyên số và hội nhập quốc tế.
2. Cơ hội và thách thức quản trị địa phương đối với vận hành mô hình chính quyền địa phương 02 cấp ở Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số
2.1. Cơ hội
Thứ nhất, tinh gọn bộ máy, giảm chi phí hành chính và nâng cao hiệu quả quản trị. Việc loại bỏ cấp huyện giúp xóa bỏ một tầng nấc trung gian vốn tồn tại nhiều bất cập, tạo ra sự rườm rà, tốn kém và kéo dài quá trình ra quyết định. Trong bối cảnh số hóa, tinh gọn bộ máy không đồng nghĩa với thu hẹp khả năng phục vụ mà ngược lại, tăng cường hiệu quả thông qua tự động hóa và tích hợp dữ liệu. Theo cải cách này giúp “rút ngắn quy trình, giảm độ trễ chính sách và tạo động lực cho chính quyền địa phương hoạt động theo nguyên tắc hiệu quả - minh bạch thay vì nặng về hình thức hành chính”(5).
Thứ hai, tăng cường phân quyền, phân cấp và phát huy tự chủ địa phương. Mô hình chính quyền 02 cấp phù hợp với lý thuyết quản trị đa trung tâm (polycentric governance) đó là sự tồn tại song song của nhiều trung tâm ra quyết định tự chủ nhưng có sự phối hợp hiệu quả. Khi trao nhiều thẩm quyền hơn cho tỉnh và xã, các quyết định được đưa ra gần dân hơn, phù hợp hơn với nhu cầu thực tiễn và tăng tính phản ứng chính sách. Dữ liệu mở và công nghệ số trở thành công cụ hỗ trợ đắc lực để địa phương sáng tạo trong hoạch định chính sách. Điều này cho thấy, phân quyền gắn với chuyển đổi số có thể tạo ra những “chính quyền sáng tạo” (innovative governments) ở cấp địa phương.
Thứ ba, gắn kết trực tiếp với người dân và nâng cao tính tham gia xã hội. Một ưu điểm nổi bật của mô hình chính quyền 02 cấp là cấp xã trở thành đơn vị trực tiếp cung ứng dịch vụ công và kết nối với người dân. Khi kết hợp với công nghệ số, chức năng này được mở rộng mạnh mẽ thông qua các cổng dịch vụ công trực tuyến, ứng dụng phản ánh hiện trường, hay kênh tham vấn chính sách trên mạng xã hội. Những nền tảng số hóa này đã giúp nhiều địa phương ở Việt Nam giảm thiểu khiếu kiện, đồng thời mở ra không gian để người dân trở thành đồng kiến tạo chính sách, đúng tinh thần quản trị lấy công dân làm trung tâm.
Thứ tư, nâng cao chất lượng và hiệu quả dịch vụ công trực tuyến. Chuyển đổi số làm thay đổi căn bản cách thức cung ứng dịch vụ công: từ trực tiếp sang trực tuyến, từ giấy tờ thủ công sang xử lý điện tử, từ thụ động sang chủ động. Cấp tỉnh chịu trách nhiệm phát triển hạ tầng và cơ sở dữ liệu, còn cấp xã trực tiếp cung ứng cho công dân. Điều này không chỉ tiết kiệm chi phí và thời gian cho người dân, mà còn góp phần nâng cao sự hài lòng, yếu tố then chốt củng cố tính chính danh của chính quyền địa phương.
Thứ năm, thúc đẩy minh bạch, trách nhiệm giải trình và phòng chống tham nhũng. Minh bạch dữ liệu là cốt lõi của chính quyền số. Công khai ngân sách, quy hoạch, đất đai trên cổng dữ liệu mở và giám sát trực tuyến quy trình hành chính sẽ buộc chính quyền địa phương phải nâng cao trách nhiệm giải trình. Có thể nói việc minh bạch hóa dữ liệu là công cụ hiệu quả nhất để giảm thiểu tham nhũng trong khu vực công. Ở Việt Nam, nhiều địa phương đã áp dụng cơ chế công khai trực tuyến kết quả giải quyết thủ tục hành chính, qua đó giảm thiểu “chi phí không chính thức”, đồng thời tăng niềm tin xã hội vào tính liêm chính của chính quyền.
Thứ sáu, thúc đẩy hợp tác công - tư và phát triển kinh tế số địa phương. Chuyển đổi số trong quản trị địa phương không thể thành công nếu chỉ dựa vào ngân sách công. Mô hình chính quyền 02 cấp mở ra không gian cho các đối tác công - tư (PPP), đặc biệt trong lĩnh vực hạ tầng số, đô thị thông minh, dịch vụ công trực tuyến. Hợp tác công - tư là giải pháp tối ưu để vừa giảm gánh nặng tài chính, vừa tận dụng trí tuệ và sáng tạo từ khu vực tư. Đồng thời, dữ liệu mở và nền tảng số tạo điều kiện cho các doanh nghiệp khởi nghiệp, phát triển dịch vụ sáng tạo, góp phần thúc đẩy kinh tế số địa phương.
Thứ bảy, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hiện đại hóa quản trị quốc gia. Mô hình chính quyền 02 cấp trong kỷ nguyên số không chỉ cải cách bộ máy hành chính, mà còn góp phần hiện thực hóa mục tiêu chiến lược mà Đại hội XIII của Đảng đề ra: xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hiện đại, dân chủ, phục vụ nhân dân. Mô hình này làm rõ hơn quan hệ giữa trung ương và địa phương, giữa nhà nước và công dân, qua đó củng cố niềm tin xã hội và nâng cao năng lực quản trị quốc gia.
2.2. Thách thức
Bên cạnh những cơ hội to lớn, thực tiễn vận hành mô hình chính quyền 02 cấp trong bối cảnh chuyển đổi số cũng đặt ra nhiều thách thức đối với quản trị địa phương.
Thứ nhất, thách thức về thể chế pháp lý chưa đồng bộ, nguy cơ chồng chéo. Dù Hiến pháp 2013 (sửa đổi năm 2025) và Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025 đã xác định mô hình chính quyền 02 cấp, nhưng các luật chuyên ngành vẫn phần lớn được thiết kế trên cơ sở 03 cấp. Điều này tạo ra khoảng trống pháp lý, khiến địa phương khó phát huy quyền tự chủ. Đặc biệt, các quy định về quản lý và chia sẻ dữ liệu số, bảo mật thông tin cá nhân chưa đầy đủ, trong khi đây là nền tảng của chính quyền số. Trong khi đó, một mô hình quản trị địa phương 02 cấp hiệu quả cần vừa bảo đảm sự thống nhất trong lãnh đạo, chỉ đạo chung của cấp tỉnh, vừa phát huy tính năng động, sáng tạo và tự chủ của cấp cơ sở. Điều này đòi hỏi cần cải cách thể chế sâu rộng, hiện đại hóa công cụ quản trị và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong toàn hệ thống chính quyền địa phương.
Thứ hai, thách thức về năng lực và chất lượng nguồn nhân lực. Trong giai đoạn đầu triển khai mô hình chính quyền địa phương 02 cấp, năng lực cán bộ cấp xã chưa đáp ứng được yêu cầu khi phải đảm nhận thêm các nhiệm vụ phức tạp trước đây thuộc cấp huyện, thậm chí có nhiệm vụ phân cấp từ cấp tỉnh. Đồng thời, trong bối cảnh chuyển đổi số đòi hỏi cán bộ không chỉ nắm vững pháp luật, mà còn phải có kỹ năng số, khả năng phân tích dữ liệu và thích ứng với môi trường quản trị mới. Tuy nhiên, có thể thấy rằng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã vẫn còn hạn chế trong đáp ứng yêu cầu cơ bản về công nghệ thông tin. Đây là nguy cơ dẫn đến tình trạng “chính quyền điện tử hình thức”, khi số hóa chỉ dừng ở bề mặt mà không thay đổi bản chất quản trị. Yếu tố quyết định không nằm ở hạ tầng công nghệ, mà là ở “năng lực và tư duy số” của đội ngũ cán bộ địa phương.
Thứ ba, thách thức từ khoảng cách số giữa các vùng miền. Việt Nam đang đối mặt với sự bất bình đẳng số rõ rệt. Sự chênh lệch điểm số đáng kể giữa các tỉnh, phản ánh nguy cơ phân hóa sâu sắc trong công cuộc chuyển đổi số quốc gia, nơi một số tỉnh dẫn đầu có mức độ phát triển cao trong khi các tỉnh khác còn tụt hậu, chưa đáp ứng được yêu cầu chung của nền kinh tế số. Điều này dẫn đến tình trạng một số địa phương có thể vận hành chính quyền số hiện đại, trong khi nhiều nơi khác vẫn loay hoay với thủ tục giấy tờ. Khoảng cách số này không chỉ làm giảm hiệu quả quản trị, mà còn đe dọa nguyên tắc công bằng - bền vững trong quản trị địa phương.
Thứ tư, nguy cơ hành chính hóa chuyển đổi số. Một rủi ro nội tại là các địa phương chỉ chú trọng vào việc “số hóa quy trình” nhưng không thay đổi cách thức ra quyết định và quan hệ với công dân. Mặc dù nhiều địa phương báo cáo tỷ lệ dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 cao, nhưng người dân vẫn ít sử dụng do thủ tục phức tạp, giao diện khó tiếp cận và yêu cầu xác thực rườm rà. Có thể nói, thách thức lớn nhất của quản trị số không phải là công nghệ, mà là “sự thay đổi văn hóa quản trị - từ mệnh lệnh hành chính sang phục vụ công dân”.
Thứ năm, thách thức về cơ chế giám sát và kiểm soát quyền lực. Khi bỏ cấp huyện, vấn đề đặt ra là giám sát thế nào để tránh lạm quyền ở cấp xã. Cơ chế giám sát hiện nay chủ yếu dựa vào Hội đồng nhân dân cấp tỉnh và Mặt trận Tổ quốc, nhưng hạn chế về khoảng cách và nguồn lực khiến việc này khó hiệu quả. Các công cụ số có thể hỗ trợ, song hành lang pháp lý về bằng chứng điện tử, bảo mật dữ liệu và xử lý khiếu nại chưa hoàn thiện. Việc thiếu cơ chế giám sát sẽ khiến nguy cơ “tập trung quyền lực số” còn nghiêm trọng hơn so với mô hình truyền thống.
Thứ sáu, thách thức về tài chính và nguồn lực đầu tư. Chuyển đổi số đòi hỏi nguồn lực tài chính lớn, nhưng ngân sách địa phương, nhất là miền núi và vùng khó khăn còn hạn hẹp. Sự thiếu hụt này khiến tiến độ triển khai không đồng đều, làm gia tăng khoảng cách số. Đồng thời, nguồn lực tài chính và cơ sở vật chất tại cấp xã còn hạn chế, ảnh hưởng đến khả năng cung cấp dịch vụ công chất lượng.
3. Một số giải pháp đẩy mạnh quản trị địa phương đối với vận hành mô hình chính quyền địa phương 02 cấp ở Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số.
Thứ nhất, hoàn thiện thể chế pháp luật và bảo đảm tính đồng bộ trong phân quyền - phân cấp
Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) cùng với Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025 đã mở đường cho việc tái cấu trúc hệ thống chính quyền theo hướng tinh gọn và phân định rành mạch hơn quyền hạn, trách nhiệm giữa các cấp chính quyền. Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều luật chuyên ngành vẫn còn chứa đựng những quy định hàm ý vai trò trung gian của cấp huyện. Khi chuyển sang mô hình chính quyền địa phương 02 cấp, các quy định này trở thành rào cản pháp lý, dễ dẫn đến tình trạng “một cổ hai tròng” trong quá trình điều hành và triển khai chính sách. Để khắc phục tình trạng trên, Nhà nước cần khẩn trương rà soát, sửa đổi và đồng bộ hóa toàn bộ hệ thống pháp luật nhằm loại bỏ những chồng chéo, bất cập, đồng thời trao quyền tự chủ mạnh mẽ hơn cho chính quyền cấp tỉnh và cấp xã trong việc hoạch định chính sách, phân bổ nguồn lực và quản lý ngân sách. Song song với việc trao quyền, cần thiết lập các cơ chế kiểm soát quyền lực hiện đại dựa trên công nghệ số, ví dụ như công khai toàn bộ dữ liệu ngân sách, quy hoạch, quyết định đầu tư lên cổng dữ liệu mở để cộng đồng và báo chí giám sát. Chỉ khi trách nhiệm giải trình được thiết lập một cách công khai và có sự tham gia của xã hội, quá trình phân quyền mới thực sự hiệu quả và tránh được nguy cơ “phân quyền hình thức”.
Thứ hai, cần tiếp tục hoàn thiện mô hình chính quyền địa phương 02 cấp ở Việt Nam theo hướng phân biệt rõ giữa đô thị và nông thôn, trên cơ sở điều kiện phát triển kinh tế - xã hội và yêu cầu quản trị công của từng khu vực
Việc phân cấp, phân quyền không nên cứng nhắc mà cần dựa trên đặc thù từng địa phương. Trung ương có thể ban hành một khung pháp lý chung, nhưng tạo không gian linh hoạt để tỉnh, thành phố vận dụng theo mô hình “chính quyền địa phương theo loại hình đô thị và nông thôn”. Qua đó, mỗi cấp chính quyền có thể điều chỉnh cơ cấu tổ chức và phạm vi quyền hạn phù hợp với năng lực quản lý cũng như nhu cầu phát triển của xã, phường, thị trấn.
Ở khu vực đô thị, nhất là các thành phố lớn, nên tăng quyền cho phường trong những lĩnh vực gắn trực tiếp với đời sống dân cư như quy hoạch, trật tự xây dựng, quản lý tài chính công, môi trường đô thị và dịch vụ công. Các đô thị đặc biệt như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh có thể nghiên cứu mô hình “phường tự chủ”, trong đó phường có ngân sách linh hoạt và được quyết định các dự án đầu tư quy mô nhỏ.
Ở khu vực nông thôn, trọng tâm đặt vào việc nâng cao năng lực quản trị cơ sở, hoàn thiện thể chế hỗ trợ, đầu tư hạ tầng thiết yếu và tăng cường sự hỗ trợ kỹ thuật từ cấp tỉnh. Với các xã miền núi, vùng sâu, vùng xa, có thể áp dụng cơ chế phân quyền đơn giản hơn nhằm giảm thủ tục, nhưng đi kèm với giám sát chặt chẽ và cơ chế kết nối thông tin hiệu quả với chính quyền cấp trên.
Thứ ba, phát triển nguồn nhân lực số và chuyển đổi tư duy quản trị
Thứ tư, tiếp tục đầu tư hạ tầng số và xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung
Chính quyền số không thể hình thành nếu thiếu hạ tầng số hiện đại và cơ sở dữ liệu đồng bộ. Giải pháp trọng tâm là phải coi hạ tầng số như một dạng hạ tầng thiết yếu, tương tự điện, nước, giao thông. Nhà nước cần ưu tiên đầu tư mở rộng viễn thông tốc độ cao đến tận cấp xã, đồng thời phát triển các cơ sở dữ liệu dùng chung về dân cư, đất đai, doanh nghiệp, ngân sách. Những cơ sở dữ liệu này phải được liên thông theo trục dọc giữa trung ương - tỉnh - xã và trục ngang giữa các lĩnh vực, nhằm bảo đảm “một dữ liệu, nhiều mục đích”. Bên cạnh đó, việc xây dựng trung tâm điều hành thông minh (IOC) ở cấp tỉnh kết nối với hệ thống giám sát ở cơ sở sẽ giúp nâng cao năng lực dự báo, giám sát và phản ứng chính sách. Đồng thời, đầu tư hạ tầng số cần đi đôi với đảm bảo an ninh mạng, quyền riêng tư công dân theo chuẩn quốc tế, bởi niềm tin vào việc bảo mật dữ liệu cá nhân chính là nền tảng để người dân chấp nhận và đồng hành cùng quản trị số.
Thứ năm, thúc đẩy sự tham gia của người dân, tổ chức xã hội và doanh nghiệp
Một trong những nguyên tắc cốt lõi của quản trị hiện đại là tăng cường sự tham gia thực chất của xã hội. Mô hình chính quyền địa phương 02 cấp, với cấp xã là “cấp gần dân nhất”, càng đòi hỏi phải có sự gắn kết chặt chẽ giữa chính quyền và cộng đồng. Giải pháp cần triển khai là xây dựng các kênh tham vấn trực tuyến để người dân có thể dễ dàng tham gia góp ý về quy hoạch, ngân sách, dự án phát triển. Cùng với đó, việc mở rộng dữ liệu mở cho báo chí, tổ chức xã hội và cộng đồng truy cập sẽ tạo ra cơ chế giám sát xã hội mạnh mẽ, giúp phòng ngừa tham nhũng và lạm quyền. Trong lĩnh vực cung ứng dịch vụ công, cần khuyến khích doanh nghiệp tham gia thông qua đối tác công - tư (PPP), nhất là trong các lĩnh vực công nghệ số, giáo dục và y tế.
Thứ sáu, hoàn thiện bộ tiêu chí đánh giá quản trị địa phương
Ở nước ta hiện nay, để đánh giá chất lượng quản trị địa phương, các địa phương thường sử dụng các bộ tiêu chí đánh giá(6). Tuy nhiên, sử dụng các bộ tiêu chí đánh giá này khá phức tạp, đồng thời thiếu các tiêu chí đánh giá về yêu cầu và nội dung của quản trị địa phương, như: Đảm bảo tính pháp quyền, dân chủ trong quản trị địa phương; Phân cấp, phân quyền trong quản trị địa phương; Thu hút sự tham gia của các tổ chức, cá nhân vào quản trị địa phương; Huy động và sử dụng các nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương; Hiệu lực, hiệu quả quản trị của chính quyền địa phương;… Vì vậy, cần xây dựng bộ tiêu chí đánh giá quản trị địa phương cụ thể như tính chủ động, tự chủ của các cấp chính quyền (cấp tỉnh, cấp xã) trong quản trị địa phương; mức độ dân chủ, sự tham gia của người dân trong quản trị địa phương; Sự minh bạch và trách nhiệm báo cáo giải trình của chính quyền địa phương trong quản trị địa phương;…
Thứ bảy, xây dựng văn hóa quản trị số và củng cố niềm tin nhân dân
Cuối cùng, đó là việc xây dựng văn hóa quản trị số và niềm tin nhân dân. Đó là cách thức mà chính quyền thiết kế dịch vụ công lấy người dân làm trung tâm; cách thức người dân tương tác, giám sát và phản hồi với chính quyền; và cách xã hội bảo đảm công bằng, bao trùm trong thụ hưởng thành quả của chuyển đổi số. Giải pháp đặt ra là cần đẩy mạnh truyền thông và nâng cao nhận thức để người dân hiểu rõ lợi ích và tầm quan trọng của dịch vụ công trực tuyến. Các dịch vụ cần được thiết kế thân thiện, dễ sử dụng, chú trọng đến nhóm yếu thế như người cao tuổi, người khuyết tật, đồng bào dân tộc thiểu số. Có thể nói, thành công của mô hình chính quyền 02 cấp trong kỷ nguyên số không chỉ đo bằng số lượng dịch vụ công trực tuyến, mà quan trọng hơn là mức độ hài lòng và niềm tin của người dân.
Quản trị địa phương đối với chính quyền địa phương 02 cấp trong bối cảnh chuyển đổi số không chỉ là cách thức tổ chức bộ máy chính quyền địa phương mà là sự kiến tạo hệ thống quản trị mới đó là hiệu lực, hiệu quả, minh bạch và lấy người dân làm trung tâm. Tuy nhiên, Việt Nam đang đối diện với nhiều thách thức như khoảng cách số giữa các vùng miền, hạn chế về năng lực số của đội ngũ cán bộ, công chức và sự thiếu đồng bộ về mặt thể chế… Điều đó, đòi hỏi Nhà nước phải tiếp tục hoàn thiện thể chế, phát triển nhân lực số, đầu tư hạ tầng cơ sở và tăng cường sự tham gia của nhân dân… một cách đồng bộ và hiệu quả để đẩy mạnh quản trị địa phương ở Việt Nam trong bối cảnh mới hiện nay./.
----------------------------------------------------------
Ghi chú:
(1) Anwar Shal (2006), Local Governance in Developing Countries, Washington, DC: The World Bank.
(2) UNDP, https://www.undp.org/publications/decentralised-governance-development-combined-practice-note.
(3), (4) GS.TS Vũ Công Giao, Một số vấn đề lý luận về quản trị địa phương, Hội thảo khoa học “Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản trị địa phương”, Viện Khoa học Tổ chức nhà nước và Lao động, Bộ Nội vụ, 2025.
(5) PGS.TS Trần Thị Diệu Oanh, Quản trị địa phương theo mô hình chính quyền hai cấp ở Việt Nam, Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản trị địa phương”, Viện Khoa học Tổ chức nhà nước và Lao động, Bộ Nội vụ, 2025.
(6) Chỉ số cạnh tranh cấp tỉnh (PCI); Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh (PAPI); Chỉ số cải cách hành chính công (PAR Index); Chỉ số hài lòng về sự phục vụ hành chính (SIPAS).
Tài liệu tham khảo:
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
2. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
3. Quốc hội (2025), Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 72/2025/QH15, Nxb Chính trị Quốc gia.
4. Bộ Thông tin và Truyền thông (2024). Báo cáo Chỉ số chuyển đổi số cấp tỉnh (DTI) 2023. Hà Nội.
5. Bộ Nội vụ (2024). Báo cáo thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trong bối cảnh chuyển đổi số. Hà Nội.
6. GS.TS Vũ Công Giao (2025), Một số vấn đề lý luận về quản trị địa phương, Hội thảo khoa học “Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản trị địa phương”, Viện Khoa học Tổ chức nhà nước và Lao động, Bộ Nội vụ.
7. PGS.TS Trần Thị Diệu Oanh (2025), Quản trị địa phương theo mô hình chính quyền hai cấp ở Việt Nam, Hội thảo khoa học “Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản trị địa phương”, Viện Khoa học Tổ chức nhà nước và Lao động, Bộ Nội vụ.
8. CECODES, VFF & UNDP (2023), Chỉ số Hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh ở Việt Nam (PAPI) 2023. Hà Nội.
9. World Bank (2016). World Development Report 2016: Digital Dividends. Washington, DC.
TS Lê Anh Tuấn - Viện trưởng Viện Khoa học Tổ chức nhà nước và Lao động, Bộ Nội vụ
ThS Trần Ngọc Kiên - Tạp chí Tổ chức nhà nước và Lao động, Bộ Nội vụ
.
Tin tức cùng chuyên mục
Bài viết cùng tác giả