1. Đặt vấn đề
Ở Việt Nam, xây dựng Chính phủ số được xác định là một trong những nội dung trọng tâm của cải cách nền hành chính nhà nước. Thực tiễn thời gian gần đây cho thấy, Việt Nam đã đạt được những kết quả bước đầu đáng ghi nhận. Theo Báo cáo United Nations E-Government Survey 2024, Việt Nam đạt vị trí 71/193 quốc gia, thuộc nhóm các nước có mức phát triển Chính phủ điện tử “rất cao”. Kết quả khảo sát PAPI năm 2023 cũng ghi nhận chỉ số quản trị điện tử tại nhiều địa phương có xu hướng cải thiện, phản ánh mức độ tiếp cận và sử dụng dịch vụ công trực tuyến của người dân ngày càng tăng.
Những kết quả này gắn liền với việc Chính phủ triển khai đồng bộ nhiều đề án, chương trình chuyển đổi số trọng điểm, như Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 và Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia. Việc xây dựng và vận hành các cơ sở dữ liệu quốc gia, nền tảng dùng chung của Chính phủ đã tạo nền tảng quan trọng cho Chính phủ số.
Bên cạnh đó, giai đoạn 2024-2025 đánh dấu bước chuyển mới về thể chế khi Bộ Chính trị ban hành 07 nghị quyết trụ cột, bao trùm các lĩnh vực then chốt của phát triển đất nước. Điểm chung của các nghị quyết này là đều nhấn mạnh vai trò của con người, năng lực thực thi và hiệu quả quản trị trong bối cảnh chuyển đổi số. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải đổi mới quản lý nguồn nhân lực công nhằm bảo đảm Chính phủ số vận hành hiệu quả và các nghị quyết trụ cột được tổ chức thực hiện thành công.
2. Chính phủ số và sự chuyển dịch mô hình quản lý nguồn nhân lực công
Chính phủ số làm thay đổi sâu sắc phương thức quản lý nhà nước, đồng thời kéo theo sự chuyển dịch mô hình quản lý nguồn nhân lực công.
Thứ nhất, quản trị nhà nước chuyển từ dựa trên kinh nghiệm sang dựa trên dữ liệu. Việc xây dựng và khai thác các cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, đất đai, doanh nghiệp, bảo hiểm xã hội đã tạo điều kiện cho quản lý nhà nước dựa trên bằng chứng, đòi hỏi công chức phải có năng lực khai thác, phân tích và sử dụng dữ liệu trong quá trình tham mưu và thực thi chính sách.
Thứ hai, quy trình công vụ được số hóa và liên thông. Việc mở rộng dịch vụ công trực tuyến và vận hành Cổng Dịch vụ công quốc gia đã làm thay đổi cách thức xử lý công việc, yêu cầu công chức làm việc trên nền tảng số, phối hợp liên ngành, liên cấp và chịu trách nhiệm giải trình cao hơn.
Thứ ba, Chính phủ số lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm. Điều này buộc công chức phải chuyển từ tư duy “quản lý hành chính” sang “phục vụ công”, chủ động cải tiến chất lượng dịch vụ công số.
Những thay đổi này cho thấy mô hình quản lý nguồn nhân lực công truyền thống - nặng về biên chế, ngạch bậc và quy trình - không còn phù hợp. Quản lý nguồn nhân lực công trong Chính phủ số cần được tiếp cận như một quá trình quản trị tổng thể, bao gồm tuyển dụng, sử dụng, đào tạo, đánh giá và tạo động lực, lấy năng lực thực thi công vụ trên môi trường số làm trung tâm.
3. Cơ sở thực tiễn và khoa học của các yêu cầu đổi mới quản lý nguồn nhân lực công
Việc đổi mới quản lý nguồn nhân lực công trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số không xuất phát từ yêu cầu mang tính chủ quan hay định hướng chính sách đơn lẻ, mà hình thành trên cơ sở tổng hợp những biến đổi sâu sắc trong thực tiễn quản lý nhà nước thời gian gần đây và các tiếp cận lý thuyết hiện đại về quản trị công. Những kết quả bước đầu đạt được trong triển khai các chương trình, đề án chuyển đổi số của Chính phủ, cùng với yêu cầu thực hiện đồng bộ các nghị quyết trụ cột của Bộ Chính trị, đã làm thay đổi căn bản môi trường thực thi công vụ, qua đó đặt ra những yêu cầu mới đối với quản lý nguồn nhân lực công.
3.1. Từ thực tiễn vận hành các nền tảng số và cơ sở dữ liệu quốc gia đến yêu cầu quản lý công chức theo năng lực số
Trong những năm gần đây, việc xây dựng và vận hành các nền tảng số, đặc biệt là các cơ sở dữ liệu quốc gia và hệ thống thông tin dùng chung của Chính phủ, đã tạo ra sự thay đổi lớn trong cách thức tổ chức và thực hiện công vụ. Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia đã cho phép nhiều thủ tục hành chính được giải quyết trên môi trường số, giảm đáng kể giấy tờ, thời gian và chi phí tuân thủ cho người dân và doanh nghiệp. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cũng cho thấy không ít khó khăn, vướng mắc nảy sinh trong quá trình vận hành các hệ thống này.
Nhiều báo cáo thực tiễn chỉ ra rằng, các điểm nghẽn trong triển khai chuyển đổi số không chủ yếu nằm ở hạ tầng công nghệ, mà tập trung vào năng lực của đội ngũ công chức trực tiếp thực thi công vụ. Ở nhiều cơ quan, công chức còn gặp khó khăn trong việc khai thác, liên thông và sử dụng dữ liệu số; khả năng phối hợp giữa các đơn vị trên nền tảng số chưa đồng bộ; tâm lý e ngại thay đổi phương thức làm việc truyền thống vẫn còn tồn tại. Điều này phản ánh rõ “khoảng cách” giữa mục tiêu chiến lược của Chính phủ số và năng lực thực thi của nguồn nhân lực công.
Dưới góc độ khoa học quản trị công, khi hoạt động công vụ được số hóa, năng lực số không còn là kỹ năng bổ trợ mà trở thành bộ phận cấu thành của năng lực thực thi công vụ. Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) nhấn mạnh rằng Chính phủ số đòi hỏi công chức phải có khả năng làm việc trên nền tảng số, sử dụng dữ liệu trong ra quyết định và phối hợp liên ngành hiệu quả, nếu không các khoản đầu tư vào công nghệ sẽ không tạo ra giá trị công bền vững.
Từ thực tiễn và cơ sở khoa học đó, có thể khẳng định rằng quản lý nguồn nhân lực công cần chuyển mạnh từ tiếp cận theo biên chế, ngạch bậc sang quản lý theo năng lực, trong đó năng lực số và năng lực thực thi công vụ trên môi trường dữ liệu trở thành tiêu chí bắt buộc đối với hầu hết vị trí việc làm. Đây là yêu cầu trực tiếp nhằm bảo đảm thực hiện các mục tiêu về chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế đã được xác định trong các nghị quyết trụ cột của Bộ Chính trị, như Nghị quyết số 57-NQ/TW; Nghị quyết số 66-NQ/TW...
3.2. Từ kết quả cải thiện dịch vụ công trực tuyến đến yêu cầu đổi mới đánh giá công chức theo kết quả thực thi
Việc Việt Nam được xếp vào nhóm các quốc gia có mức phát triển Chính phủ điện tử “rất cao” theo Báo cáo Liên hợp quốc năm 2024 phản ánh những nỗ lực đáng ghi nhận trong việc mở rộng dịch vụ công trực tuyến và nâng cao mức độ tương tác giữa chính quyền với người dân, doanh nghiệp. Tuy nhiên, kết quả này không diễn ra đồng đều giữa các bộ, ngành và địa phương.
Thực tiễn cho thấy, ở những cơ quan, địa phương gắn trách nhiệm cá nhân công chức với tiến độ và chất lượng xử lý hồ sơ trên hệ thống số, hiệu quả cải cách hành chính và mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp thường cao hơn. Ngược lại, ở những nơi việc đánh giá công chức vẫn nặng về hình thức, dựa trên báo cáo định tính và quy trình nội bộ, các hệ thống số dễ rơi vào tình trạng vận hành hình thức, không khai thác hết tiềm năng.
Theo lý thuyết quản trị theo kết quả trong khu vực công, việc đo lường và đánh giá hiệu quả hoạt động cần dựa trên đầu ra và tác động thực tế của chính sách, thay vì chỉ tập trung vào đầu vào hay mức độ tuân thủ quy trình. Trong môi trường Chính phủ số, các nền tảng công nghệ cho phép theo dõi, đo lường và so sánh hiệu suất công vụ một cách minh bạch hơn, tạo điều kiện thuận lợi để áp dụng phương thức quản lý theo kết quả.
Từ đó đặt ra yêu cầu đổi mới căn bản đối với quản lý nguồn nhân lực công: cơ chế đánh giá công chức cần được thiết kế lại theo hướng lấy kết quả thực thi trên môi trường số, chất lượng cung ứng dịch vụ công và mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp làm thước đo chủ yếu. Việc đổi mới này không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhân sự, mà còn là điều kiện để duy trì và mở rộng những kết quả đạt được trong phát triển dịch vụ công trực tuyến theo tinh thần Nghị quyết số 66-NQ/TW và Nghị quyết số 68-NQ/TW.
3.3. Từ yêu cầu Nhà nước kiến tạo phát triển đến hình thành tư duy công vụ phục vụ trong môi trường số
Một nội dung xuyên suốt trong các nghị quyết trụ cột của Bộ Chính trị là yêu cầu xây dựng nhà nước kiến tạo phát triển, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm. Trong bối cảnh Chính phủ số, yêu cầu này không chỉ thể hiện ở việc đơn giản hóa thủ tục hành chính, mà còn ở cách thức công chức tương tác, hỗ trợ và đồng hành cùng các chủ thể trong xã hội thông qua các kênh số.
Thực tiễn cải cách hành chính và hỗ trợ phát triển kinh tế tư nhân cho thấy, những địa phương cải thiện tốt chỉ số cải cách hành chính thường là nơi công chức được trao quyền chủ động cải tiến quy trình, chủ động giải quyết vấn đề phát sinh và chịu trách nhiệm trực tiếp về chất lượng phục vụ. Việc ứng dụng các nền tảng số giúp công khai quy trình, thời gian và kết quả giải quyết công việc, qua đó làm thay đổi vai trò của công chức từ “người kiểm soát thủ tục” sang “người thiết kế và cung ứng dịch vụ công”.
Dưới góc độ lý luận, các tiếp cận về nhà nước kiến tạo và quản trị công mới nhấn mạnh rằng công chức trong bối cảnh hiện đại cần được xem là tác nhân tạo lập giá trị công, thông qua việc phối hợp với người dân, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội. Trong môi trường số, tư duy này càng trở nên quan trọng khi dịch vụ công được cung cấp chủ yếu qua nền tảng, đòi hỏi công chức có kỹ năng giao tiếp số, khả năng phối hợp đa ngành và năng lực giải quyết vấn đề linh hoạt.
Do đó, quản lý nguồn nhân lực công cần chú trọng phát triển tư duy phục vụ, kỹ năng tương tác và phối hợp trong môi trường số, coi đây là một thành tố cốt lõi của năng lực công vụ. Đây là điều kiện để thực hiện hiệu quả các mục tiêu về phát triển kinh tế tư nhân và hội nhập quốc tế đã được xác định trong Nghị quyết số 68-NQ/TW và Nghị quyết số 59-NQ/TW.
3.4. Từ đào tạo theo chứng chỉ sang phát triển năng lực liên tục trong Chính phủ số
Thực tiễn vận hành các hệ thống thông tin và nền tảng số cho thấy, kỹ năng của công chức nhanh chóng trở nên lạc hậu khi công nghệ thay đổi nhanh chóng. Trong khi đó, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức ở nhiều nơi vẫn mang tính dàn trải, theo chương trình cứng và nặng về chứng chỉ, chưa gắn chặt với vị trí việc làm và yêu cầu thực thi công vụ số.
Các nghiên cứu về phát triển nguồn nhân lực khu vực công đều khẳng định rằng, trong bối cảnh chuyển đổi số, đào tạo cần được tiếp cận như một quá trình liên tục, gắn với phát triển năng lực thực thi thay vì chỉ đáp ứng yêu cầu hình thức. Trong nhiều tài liệu của OECD đã nhấn mạnh rằng học tập suốt đời là điều kiện tiên quyết để đội ngũ công chức có thể thích ứng với môi trường số và duy trì hiệu quả hoạt động của Chính phủ số.
Từ đó đặt ra yêu cầu đổi mới căn bản đối với quản lý nguồn nhân lực công: công tác đào tạo, bồi dưỡng cần chuyển từ mô hình “bồi dưỡng định kỳ” sang mô hình “phát triển năng lực liên tục”, lấy năng lực số và năng lực thực thi công vụ trên môi trường số làm trọng tâm, gắn chặt với vị trí việc làm và lộ trình phát triển nghề nghiệp của công chức tho tinh thần Nghị quyết số 71-NQ/TW và Nghị quyết số 57-NQ/TW.
3.5. Từ khai thác dữ liệu công đến yêu cầu tăng cường đạo đức công vụ và trách nhiệm giải trình
Việc khai thác dữ liệu dân cư và dữ liệu chuyên ngành trong Chính phủ số mang lại nhiều lợi ích trong quản lý nhà nước, nhưng đồng thời cũng làm gia tăng rủi ro liên quan đến bảo mật thông tin và quyền riêng tư. Thực tiễn triển khai Đề án 06 cho thấy, nếu thiếu cơ chế kiểm soát và chuẩn mực đạo đức rõ ràng, việc sử dụng dữ liệu có thể dẫn đến sai phạm và làm suy giảm niềm tin của xã hội.
Các nghiên cứu về quản trị dữ liệu công đều nhấn mạnh rằng, Chính phủ số chỉ vận hành bền vững khi đi kèm cơ chế kiểm soát quyền lực, chuẩn mực đạo đức số và trách nhiệm giải trình rõ ràng. Trong môi trường số, mọi hành vi công vụ đều có thể được ghi nhận và truy vết, do đó yêu cầu về kỷ luật, kỷ cương và đạo đức công vụ đối với công chức càng trở nên nghiêm ngặt.
Từ đó đặt ra yêu cầu quản lý nguồn nhân lực công cần tăng cường kỷ luật, đạo đức công vụ và trách nhiệm giải trình trong môi trường số, coi đây là điều kiện bảo đảm để khai thác dữ liệu phục vụ quản lý nhà nước một cách an toàn và hiệu quả như Nghị quyết số 66-NQ/TW và Nghị quyết số 72-NQ/TW đã nêu.
4. Kết luận
Những kết quả đạt được trong xây dựng Chính phủ số thời gian gần đây, cùng với việc triển khai các đề án, chương trình chuyển đổi số trọng điểm và 07 nghị quyết trụ cột của Bộ Chính trị cho thấy Việt Nam đã bước vào giai đoạn chuyển đổi số khu vực công mang tính thực chất. Tuy nhiên, chính những thành quả này cũng làm nổi rõ yêu cầu đổi mới quản lý nguồn nhân lực công nhằm bảo đảm tính bền vững và hiệu quả của Chính phủ số.
Đổi mới quản lý nguồn nhân lực công theo hướng phát triển năng lực số, đổi mới đánh giá, đào tạo và tăng cường trách nhiệm giải trình là điều kiện quan trọng để Chính phủ số vận hành hiệu quả và các nghị quyết trụ cột được tổ chức thực hiện thành công trong giai đoạn tới.
-------------------------------------------------------
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Chính trị (2024), Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22 tháng 12 năm 2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
2. Bộ Chính trị (2025), Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24 tháng 01 năm 2025 về hội nhập quốc tế trong tình hình mới.
3. Bộ Chính trị (2025), Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30 tháng 4 năm 2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới..
4. Bộ Chính trị (2025), Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04 tháng 5 năm 2025 về phát triển kinh tế tư nhân.
5. Bộ Chính trị (2025), Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22 tháng 8 năm 2025 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.
6. Bộ Chính trị (2025), Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 09 tháng 9 năm 2025 về tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân.
7. Thủ tướng Chính phủ (2020), Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03 tháng 6 năm 2020 phê duyệt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
8. Thủ tướng Chính phủ (2022), Quyết định số 06/QĐ-TTg ngày 06 tháng 01 năm 2022 phê duyệt Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia.
9. OECD (2019), Digital Government: Managing Public Sector Reform in the Digital Era. Paris: OECD Publishing.
10. World Bank (2021), Digital Government Transformation: Global Practices and Lessons. Washington DC: World Bank.
11. United Nations (2024), United Nations E-Government Survey 2024. New York: UN DESA.
ThS. Vũ Minh Thái - Bộ Xây dựng
Tin tức cùng chuyên mục
Bài viết cùng tác giả