
Thông tư số 23/2026/TT-BNV gồm 04 chương, 26 điều, hướng dẫn việc xây dựng, quản lý, cập nhật, khai thác học liệu số và thiết lập, tổ chức, quản lý khóa học trực tuyến trong bồi dưỡng đối với cán bộ ở xã, phường, đặc khu (sau đây gọi chung là cán bộ ở cấp xã) và công chức, viên chức trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội.
Đối tượng áp dụng của Thông tư số 23/2026/TT-BNV gồm: 1) Cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý, sử dụng cán bộ ở cấp xã và công chức, viên chức. 2) Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh; cơ sở đào tạo, bồi dưỡng thuộc cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương; cơ sở giáo dục đại học, học viện và đơn vị sự nghiệp công lập được cơ quan có thẩm quyền giao nhiệm vụ bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức. 3) Cán bộ ở cấp xã. 4) Công chức, viên chức ở trung ương, ở cấp tỉnh, ở cấp xã. 5) Tổ chức, cá nhân được giao nhiệm vụ xây dựng học liệu số, tổ chức khóa học trực tuyến. 6) Cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân khác có liên quan.
Xây dựng học liệu số
Thông tư số 23/2026/TT-BNV quy định, học liệu số được xây dựng trên cơ sở đề cương hoặc kịch bản phù hợp với loại học liệu số. Đề cương hoặc kịch bản học liệu số gồm các nội dung chủ yếu: tên học liệu, mục tiêu và kết quả cần đạt, đối tượng sử dụng, nội dung chính, loại học liệu, cấu trúc, thời lượng dự kiến, nguồn tài liệu và hoạt động tương tác, thực hành, kiểm tra, đánh giá (nếu có).
Trong quá trình xây dựng học liệu số, cơ quan, tổ chức, đơn vị được giao nhiệm vụ xây dựng học liệu số có trách nhiệm: Bảo đảm nội dung, cấu trúc, hình thức thể hiện và sản phẩm đầu ra phù hợp với đề cương, kịch bản; Bảo đảm học liệu số đáp ứng yêu cầu quy định tại Điều 5 Thông tư này; Kiểm soát nguồn tài liệu, dữ liệu và các thành phần được sử dụng trong học liệu số; bảo đảm quyền sử dụng, khai thác, chỉnh sửa, cập nhật, chia sẻ và tái sử dụng theo quy định; Kiểm tra sản phẩm học liệu số trước khi trình rà soát, thẩm định.
Trường hợp thuê tổ chức, cá nhân tham gia xây dựng học liệu số, hợp đồng hoặc văn bản giao nhiệm vụ phải xác định rõ sản phẩm bàn giao; tệp nguồn, dữ liệu nguồn cần thiết; quyền quản lý, khai thác, chỉnh sửa, cập nhật, chia sẻ, tái sử dụng học liệu số; trách nhiệm về quyền tác giả, quyền liên quan, bảo mật thông tin và các yêu cầu khác có liên quan.
Cơ quan có thẩm quyền quản lý học liệu số tiếp nhận sản phẩm, tệp nguồn, dữ liệu nguồn và tài liệu có liên quan để lập, quản lý hồ sơ học liệu số, phục vụ thẩm định, phê duyệt, cập nhật, khai thác, chia sẻ và tái sử dụng.
Cơ quan có thẩm quyền, trách nhiệm quản lý học liệu số
Thông tư số 23/2026/TT-BNV quy định, cơ quan có thẩm quyền, trách nhiệm quản lý học liệu số, gồm:
Cơ quan quản lý học liệu số là cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền quản lý, ban hành hoặc phê duyệt chương trình, tài liệu bồi dưỡng cán bộ ở cấp xã và công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức hoặc được cấp có thẩm quyền giao quản lý học liệu số.
Cơ quan quản lý học liệu số chịu trách nhiệm tổ chức và quản lý học liệu số thuộc phạm vi quản lý, bao gồm: Xác định nhu cầu, nội dung, loại học liệu số; tổ chức xây dựng học liệu số; Tổ chức thẩm định hoặc lấy ý kiến chuyên gia, phê duyệt học liệu số theo quy định của Thông tư này; Quản lý hồ sơ, phiên bản, quyền sở hữu trí tuệ, nguồn học liệu; bảo đảm chất lượng, tính chính xác, cập nhật, an toàn thông tin, an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu cá nhân và bí mật nhà nước; Chịu trách nhiệm về nội dung học liệu số thuộc phạm vi quản lý; Tổ chức đăng tải, công bố, khai thác, chia sẻ, tái sử dụng, cập nhật học liệu số và đề xuất đưa học liệu số vào kho học liệu số dùng chung; Theo dõi việc khai thác, tiếp nhận phản hồi của người học, cơ quan sử dụng và cơ sở đào tạo, bồi dưỡng; tổ chức rà soát và quyết định việc cập nhật, thay thế, tạm dừng hoặc ngừng sử dụng học liệu số thuộc phạm vi quản lý.
Quản lý, sử dụng, tra cứu và xác minh kết quả học tập trực tuyến
Theo Thông tư số 23/2026/TT-BNV, kết quả học tập trực tuyến được xác nhận, lưu trữ và quản lý trên nền tảng học tập số, bao gồm tiến độ học tập, kết quả kiểm tra, đánh giá và tình trạng hoàn thành khóa học.
Đối với khóa học trực tuyến thuộc chương trình, kế hoạch bồi dưỡng được cấp có thẩm quyền phê duyệt hoặc giao thực hiện, kết quả hoàn thành khóa học trực tuyến được tổng hợp vào kết quả bồi dưỡng của cán bộ, công chức, viên chức theo quy định.
Đối với khóa học trực tuyến do người học tự chọn, tự bồi dưỡng, kết quả được ghi nhận để theo dõi quá trình học tập và phát triển kiến thức, kỹ năng của người học; việc sử dụng kết quả cho mục đích quản lý cán bộ, công chức, viên chức do cơ quan có thẩm quyền quyết định theo quy định của pháp luật.
Người học và cơ quan, đơn vị có thẩm quyền được tra cứu, xác minh kết quả học tập trong phạm vi được phân quyền.
Dữ liệu kết quả học tập trực tuyến được kết nối, chia sẻ với cơ sở dữ liệu, hệ thống thông tin có liên quan khi pháp luật có quy định hoặc theo quyết định, phân công của cấp có thẩm quyền. Việc kết nối, chia sẻ dữ liệu thực hiện theo quy định của pháp luật có liên quan.
Việc quản lý, khai thác, kết nối và chia sẻ dữ liệu kết quả học tập phải đúng mục đích, đúng thẩm quyền, bảo đảm kiểm soát truy cập, lưu vết, an toàn thông tin, an ninh mạng và bảo vệ dữ liệu cá nhân theo quy định của pháp luật.
Thông tư số 23/2026/TT-BNV có hiệu lực thi hành kể từ ngày 29/9/2026.
Người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố khi tham gia bồi dưỡng, tập huấn trên nền tảng “Bình dân học vụ số” và nền tảng học tập số khác theo quy định của cấp có thẩm quyền được áp dụng quy định tại Thông tư này.
Học liệu số, khóa học trực tuyến đã được xây dựng, phê duyệt, đăng tải hoặc tổ chức trước ngày Thông tư số 23/2026/TT-BNV có hiệu lực được tiếp tục khai thác, sử dụng.
Cơ quan quản lý học liệu số có trách nhiệm rà soát và cập nhật khi nội dung không còn phù hợp hoặc không đáp ứng yêu cầu về an toàn thông tin, an ninh mạng, quyền sở hữu trí tuệ, bảo vệ dữ liệu cá nhân, bí mật nhà nước theo quy định của pháp luật.
Đối với khóa học trực tuyến đang tổ chức tại thời điểm Thông tư này có hiệu lực, việc kiểm tra, đánh giá, xác nhận hoàn thành khóa học được thực hiện theo kế hoạch đã phê duyệt./.
Nhật Nam
Tin tức cùng chuyên mục
Bài viết cùng tác giả