Tiếng Việt
Tiếng Việt Tiếng Anh

Tác động của sắp xếp tổ chức chính quyền địa phương đến thực thi pháp luật về phát triển đô thị tại các phường thuộc Thành phố Hồ Chí Minh

Ngày đăng: 15/10/2026   12:16
Đọc bài viết
Mặc định Cỡ chữ
Tóm tắt: Bài viết phân tích tác động của việc sắp xếp chính quyền địa phương đến thực hiện pháp luật về quản lý phát triển đô thị tại các phường ở Thành phố Hồ Chí Minh, trên cơ sở lý thuyết “quan liêu cấp cơ sở” và năm phương diện: phân định thẩm quyền, bố trí nhân lực, bảo đảm dữ liệu, phối hợp liên cơ quan và tương tác với người dân. Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc sắp xếp đơn vị hành chính và mở rộng thẩm quyền của chính quyền cấp xã đặt ra yêu cầu bảo đảm đồng bộ các điều kiện thực thi pháp luật. Một số khó khăn về văn bản hướng dẫn, nhân lực và dữ liệu dùng chung có thể ảnh hưởng đến hiệu quả thực thi. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất các giải pháp hoàn thiện điều kiện thi hành pháp luật, bố trí nhân lực phù hợp, chuẩn hóa dữ liệu và nâng cao trách nhiệm giải trình.

Từ khóa: Phát triển đô thị; quản lý nhà nước; Thành phố Hồ Chí Minh; tổ chức chính quyền địa phương; thực hiện pháp luật.

Abstract: This article analyzes the impact of local government reorganization on the implementation of urban development management laws in wards of Ho Chi Minh City, drawing on the theory of “street-level bureaucracy” and examining five dimensions: delineation of authority, personnel allocation, data availability, inter-agency coordination, and interaction with citizens. The findings indicate that the reorganization of administrative units and the expansion of commune-level government authority have created a need to ensure that all conditions for law enforcement are aligned and adequately supported. Certain challenges related to implementing guidelines, human resources, and shared data may affect enforcement effectiveness. On this basis, the article proposes solutions to improve the conditions for law enforcement, ensure appropriate personnel allocation, standardize data, and strengthen accountability.

Keywords: Urban development; state management; Ho Chi Minh City; local government organization; law enforcement.

1. Đặt vấn đề

Sắp xếp tổ chức chính quyền địa phương không chỉ là điều chỉnh địa giới hành chính mà còn là quá trình tái cấu trúc thể chế, tổ chức bộ máy, nhân lực và phương thức vận hành của chính quyền. Nghị quyết số 60-NQ/TW ngày 12/4/2025 của Hội nghị lần thứ 11 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã thông qua chủ trương sắp xếp, tổ chức lại đơn vị hành chính các cấp, hướng tới xây dựng mô hình chính quyền địa phương 02 cấp (Ban Chấp hành Trung ương, 2025). Từ ngày 01/7/2025, mô hình này chính thức đi vào hoạt động trên cả nước. Trong đó, Thành phố Hồ Chí Minh có 168 đơn vị hành chính cấp xã, đặt ra yêu cầu cao đối với năng lực quản trị và tổ chức thực thi pháp luật tại cơ sở (Ủy ban Thường vụ Quốc hội, 2025).

Theo đó, ở phường, việc sắp xếp tổ chức bộ máy tác động trực tiếp đến hoạt động quản lý đô thị, nhất là trong phát hiện, xử lý vi phạm trật tự xây dựng và quản lý không gian đô thị. Đây là cấp chính quyền trực tiếp giải quyết nhiều vấn đề phát sinh trong đời sống dân cư; do đó, hiệu quả thực thi pháp luật tại phường có ý nghĩa quan trọng đối với chất lượng quản trị đô thị và niềm tin của người dân. Vấn đề đặt ra là việc sắp xếp tổ chức chính quyền địa phương đã tác động đến năng lực thực thi pháp luật của chính quyền phường như thế nào, thông qua những cơ chế nào và cần có giải pháp gì để nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về quản lý phát triển đô thị.

Một số nghiên cứu quốc tế về sáp nhập đơn vị hành chính chủ yếu tập trung vào hiệu quả kinh tế theo quy mô và chi tiêu công. Chẳng hạn, Blom-Hansen và cộng sự (2016), qua nghiên cứu cải cách chính quyền địa phương tại Đan Mạch, cho thấy việc sáp nhập không nhất thiết tạo ra mức tiết kiệm chi tiêu đáng kể. Tại Việt Nam, các nghiên cứu và thảo luận chủ yếu đề cập đến thiết kế thể chế, phân quyền và chất lượng cung ứng dịch vụ hành chính (Nguyễn Thị Luyện, 2026). Trong khi đó, tác động của việc sắp xếp đơn vị hành chính đến năng lực thực thi pháp luật của đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở, đặc biệt trong lĩnh vực quản lý phát triển đô thị, vẫn cần được nghiên cứu sâu hơn.

Trên cơ sở đó, bài viết sử dụng phương pháp phân tích văn bản quy phạm pháp luật kết hợp tổng hợp tài liệu thứ cấp từ các cơ quan Đảng, Nhà nước và tạp chí chuyên ngành; đồng thời, đối chiếu thời điểm ban hành các văn bản để nhận diện độ trễ thể chế và phân tích cơ chế tác động của việc sắp xếp chính quyền địa phương đến thực thi pháp luật về quản lý phát triển đô thị tại các phường thuộc Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Cơ sở lý luận và khung phân tích tác động của việc sắp xếp chính quyền địa phương đến thực thi pháp luật về quản lý phát triển đô thị

2.1. Bản chất của thực thi pháp luật về quản lý phát triển đô thị ở phường

Trong khoa học pháp lý Việt Nam, thực hiện pháp luật là một quá trình hoạt động có mục đích nhằm đưa các quy phạm pháp luật đi vào đời sống thực tiễn, được biểu hiện thông qua bốn hình thức: tuân thủ, chấp hành, sử dụng và áp dụng pháp luật. Trong lĩnh vực quản lý phát triển đô thị, chính quyền phường tham gia kiến tạo trật tự chủ yếu thông qua hai hình thức mang tính quyền lực nhà nước cao nhất. Thứ nhất, chấp hành pháp luật: tổ chức thi hành các quy hoạch đô thị đã được phê duyệt, duy trì trật tự không gian công cộng, vỉa hè, lòng đường theo sự phân cấp của cấp trên. Thứ hai, áp dụng pháp luật: ban hành các quyết định hành chính cá biệt như cấp giấy phép xây dựng (trong giới hạn thẩm quyền), thiết lập hồ sơ vi phạm, ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính và tổ chức lực lượng cưỡng chế tháo dỡ.

Nền tảng pháp lý để điều chỉnh các hoạt động này được quy định bởi Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025 (Luật số 72/2025/QH15). Theo đó, Chủ tịch UBND phường bên cạnh tư cách là người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước cấp cơ sở, còn được trao trọng trách đặc thù: chỉ đạo quản lý dân cư đô thị và quản lý, bảo vệ không gian, kiến trúc, cảnh quan (Quốc hội, 2025a). Tiếp đến là hệ thống pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, đặc biệt là Luật số 88/2025/QH15, đánh dấu bước ngoặt trong việc nới rộng trần phạt tiền và trao quyền mạnh mẽ hơn cho cấp cơ sở (Quốc hội, 2025c); các văn bản phân cấp, ủy quyền nội bộ của UBND Thành phố Hồ Chí Minh, điển hình là Quyết định số 25/2025/QĐ-UBND (Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, 2025a).

2.2. Lý thuyết nền tảng và khái niệm “độ lệch pha” trong thực thi chính sách

Để giải mã hành vi của bộ máy cơ sở, nghiên cứu mượn lăng kính của lý thuyết “Quan liêu cấp cơ sở” do Michael Lipsky (1980) khởi xướng. Lipsky lập luận rằng những công chức trực tiếp tương tác với người dân luôn sở hữu một “không gian tự quyết” nhất định, nhưng họ lại phải vận hành trong bối cảnh nguồn lực luôn khan hiếm so với khối lượng nhu cầu khổng lồ. Để tồn tại, họ phát triển các “cơ chế đối phó”, tự động thiết lập các quy trình rút gọn hoặc đảo lộn thứ tự ưu tiên. Luận điểm này khẳng định: chất lượng áp dụng pháp luật không nằm tĩnh tại trên văn bản, mà được định hình lại qua các điều kiện làm việc và giới hạn chịu đựng của người thi hành.

Đồng thuận với góc nhìn đa chiều, O’Toole (2000) nhấn mạnh kết quả thực thi chính sách là sản phẩm của một mạng lưới các biến số đan xen, bao gồm cả cấu trúc điều phối giữa các tổ chức và nguồn lực được cấp phát. Trong bối cảnh cải cách hành chính tại Việt Nam, Kết luận số 76-KL/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương đã chỉ đạo rõ: năng lực thực thi thực tế của cán bộ cấp xã chính là thước đo cao nhất để kiểm định sự thành công của mô hình chính quyền địa phương 02 cấp (Báo Nhân Dân, 2026).

Từ các quan điểm trên, bài viết đưa ra khái niệm “độ lệch pha” để mô tả trạng thái bất đối xứng, cả về mặt thời gian và mức độ, giữa thẩm quyền được pháp luật trao cho cấp cơ sở và sự sẵn sàng của các điều kiện bảo đảm thực thi (nhân lực, dữ liệu, công cụ pháp lý phái sinh, quy trình phối hợp). Giả thuyết trung tâm của nghiên cứu là: Việc sắp xếp lại tổ chức chính quyền địa phương tác động đến chất lượng thực thi pháp luật thông qua sự co giãn của “độ lệch pha” này.

2.3. Khung phân tích năm cơ chế tác động

Khung phân tích được vận hành qua năm cơ chế cốt lõi:

(1) Phân định thẩm quyền và trách nhiệm pháp lý: Sự tương thích giữa nhiệm vụ được giao và giới hạn quyền lực được sử dụng, cũng như độ trễ của văn bản hướng dẫn.

(2) Bố trí nhân lực và năng lực chuyên môn: Mức độ đáp ứng của biên chế, cơ cấu ngạch bậc và năng lực xử lý chuyên môn sâu về đô thị.

(3) Bảo đảm dữ liệu và nguồn lực: Hạ tầng số, sự liên thông của dữ liệu không gian, địa chính và quy hoạch.

(4) Phối hợp liên cơ quan: Sự thông suốt trong mạng lưới kết nối giữa phường với thanh tra chuyên ngành và ban quản lý các khu chức năng.

(5) Tương tác với người dân: Năng lực thiết lập các kênh phản hồi, tiếp nhận giám sát và giải quyết triệt để phản ánh của công chúng.

3. Thực trạng sắp xếp chính quyền địa phương và tác động đến thực thi pháp luật về quản lý phát triển đô thị tại các phường thuộc Thành phố Hồ Chí Minh

Thứ nhất, quy mô và nhịp độ sắp xếp “chưa từng có tiền lệ”.

Thành phố Hồ Chí Minh đã trải qua một cuộc cách mạng về sắp xếp địa giới hành chính với nhịp độ vô cùng khẩn trương. Cụ thể, theo Nghị quyết số 1278/NQ-UBTVQH15, từ ngày 01/01/2025, thành phố (cũ) đã sáp nhập 80 phường thành 41 phường (Ủy ban Thường vụ Quốc hội, 2024). Tuy nhiên, chỉ 06 tháng sau, vào ngày 01/7/2025, khi Nghị quyết số 202/2025/QH15 của Quốc hội hợp nhất Thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Bình Dương và tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu thành Thành phố Hồ Chí Minh (Quốc hội, 2025b). Kế tiếp đó, Nghị quyết số 1685/NQ-UBTVQH15 cấu trúc lại toàn bộ không gian này thành 168 đơn vị hành chính cấp xã, quản lý diện tích 6.773 km² và hơn 14 triệu dân (Ủy ban Thường vụ Quốc hội, 2025).

Việc điều chỉnh địa giới hành chính đồng thời với chuyển đổi mô hình tổ chức chính quyền địa phương theo hướng bỏ cấp huyện đã tạo ra những thay đổi lớn đối với hoạt động quản lý nhà nước ở cấp cơ sở. Trong thời gian ngắn, đội ngũ công chức quản lý đô thị phải thích ứng với những thay đổi về địa giới hành chính, cơ cấu tổ chức, thẩm quyền và phương thức thực hiện nhiệm vụ; đồng thời tiếp nhận, xử lý khối lượng hồ sơ và công việc được chuyển giao từ cấp huyện (Quốc hội, 2025a). Những thay đổi này đặt ra yêu cầu cao về khả năng thích ứng của bộ máy hành chính, tính liên tục trong giải quyết công việc và bảo đảm thực thi pháp luật về quản lý phát triển đô thị tại phường.

Thứ hai, về phân định thẩm quyền: mở rộng thẩm quyền gắn với yêu cầu hoàn thiện kịp thời các công cụ pháp lý.

Việc triển khai mô hình chính quyền địa phương 02 cấp tại Thành phố Hồ Chí Minh đi đôi với đẩy mạnh phân cấp, ủy quyền và chuyển giao nhiệm vụ quản lý nhà nước cho cấp cơ sở. Theo Nguyễn Thị Luyện (2026), lãnh đạo Thành phố đã ban hành 25 quyết định ủy quyền, chuyển giao 1.066 nhiệm vụ quản lý nhà nước xuống cấp cơ sở. Trong lĩnh vực xử phạt vi phạm hành chính, Luật số 88/2025/QH15 và Nghị định số 189/2025/NĐ-CP đã điều chỉnh thẩm quyền xử phạt của Chủ tịch UBND cấp xã, mở rộng giới hạn tiền phạt và thẩm quyền áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định pháp luật, trong đó có biện pháp buộc phá dỡ công trình, phần công trình xây dựng vi phạm (Đặng Ngọc, 2025; Quốc hội, 2025c).

Tuy nhiên, việc mở rộng thẩm quyền cần được triển khai đồng bộ với việc hoàn thiện các quy định hướng dẫn và xác định rõ trách nhiệm giữa các cấp chính quyền. Mô hình chính quyền địa phương 02 cấp chính thức vận hành từ ngày 01/7/2025, trong khi Quyết định số 25/2025/QĐ-UBND của UBND Thành phố Hồ Chí Minh về phân cấp quản lý trật tự xây dựng được ban hành ngày 08/11/2025 (Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, 2025a). Khoảng thời gian giữa hai mốc này đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc bảo đảm tính kịp thời, đồng bộ và thống nhất của các quy định điều chỉnh hoạt động quản lý nhà nước tại phường. Khi thẩm quyền, trách nhiệm và quy trình phối hợp chưa được hướng dẫn đầy đủ, cán bộ, công chức cơ sở có thể gặp khó khăn trong xác định căn cứ pháp lý, tổ chức thực hiện nhiệm vụ và xử lý các vụ việc phát sinh, qua đó làm gia tăng nguy cơ sai sót trong thực thi công vụ.

Bên cạnh đó, việc phân định phạm vi quản lý và trách nhiệm thực hiện giữa lĩnh vực trật tự xây dựng và trật tự đô thị cũng cần được làm rõ nhằm hạn chế chồng chéo hoặc bỏ sót nhiệm vụ. Việc Sở Xây dựng Thành phố kiến nghị Bộ Xây dựng hướng dẫn phân định các nội dung này cho thấy yêu cầu tiếp tục hoàn thiện cơ chế phối hợp và hướng dẫn chuyên môn giữa các cơ quan có liên quan (Báo Đại biểu Nhân dân, 2025d). Vì vậy, để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về phát triển đô thị, việc phân cấp, ủy quyền cần gắn với hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, xác định rõ thẩm quyền và trách nhiệm, đồng thời bảo đảm các điều kiện cần thiết để chính quyền phường thực hiện đầy đủ, đúng pháp luật các nhiệm vụ được giao.

Thứ ba, về bố trí nhân lực: mất cân đối giữa yêu cầu nhiệm vụ và năng lực thực thi ở cấp cơ sở.

Từ góc độ tổ chức bộ máy, việc sắp xếp chính quyền địa phương đặt ra yêu cầu cấp thiết về bố trí, sử dụng nhân lực phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và đặc điểm của từng địa bàn. Theo phản ánh từ các cơ quan chức năng của Thành phố Hồ Chí Minh, tình trạng thừa, thiếu nhân lực cục bộ vẫn tồn tại; trong đó, cấp xã còn thiếu công chức có chuyên môn sâu về đất đai, xây dựng và quản lý đô thị, mặc dù đã thực hiện các phương án sắp xếp, tinh giản đội ngũ (Toàn Thắng, 2025). Việc phân bổ biên chế chưa gắn đầy đủ với quy mô dân số, đặc điểm địa bàn và khối lượng công việc cũng bộc lộ những hạn chế. Tại một số đơn vị, mỗi phòng chuyên môn cấp xã chỉ có từ 05 đến 07 công chức nhưng phải đảm nhiệm từ 04 đến 09 lĩnh vực công tác, đồng thời phối hợp với nhiều cơ quan chuyên môn cấp trên (Tạp chí Luật sư Việt Nam, 2025). Thực trạng này tạo áp lực lớn đối với việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ, nhất là trong lĩnh vực quản lý đất đai, trật tự xây dựng và phát triển đô thị.

Bên cạnh đó, việc tổ chức lại bộ máy sau khi kết thúc hoạt động của chính quyền cấp huyện đòi hỏi phải sắp xếp lại lực lượng trực tiếp thực hiện nhiệm vụ quản lý trật tự xây dựng tại địa bàn. Trước yêu cầu bảo đảm tính liên tục của hoạt động quản lý nhà nước, Thành phố Hồ Chí Minh đã triển khai phương án biệt phái khoảng 900 thanh tra viên xây dựng đến hỗ trợ các phường, xã (Pháp luật TP.HCM, 2025a; Toàn Thắng, 2025). Đây là giải pháp nhằm bổ sung nhân lực chuyên môn trong giai đoạn chuyển tiếp, đồng thời cho thấy yêu cầu tiếp tục hoàn thiện cơ chế bố trí và sử dụng nhân lực phù hợp với mô hình tổ chức mới.

Vận dụng lý thuyết về công chức thực thi chính sách ở cấp cơ sở của Lipsky (1980), có thể thấy rằng khi khối lượng công việc lớn, nguồn lực hạn chế và yêu cầu xử lý vụ việc ngày càng cao, cán bộ, công chức có thể gặp khó khăn trong việc duy trì đầy đủ các quy trình thực thi theo yêu cầu. Trong lĩnh vực quản lý đô thị, điều này có nguy cơ làm giảm tính chủ động trong kiểm tra, giám sát địa bàn, khiến hoạt động xử lý vi phạm phụ thuộc nhiều hơn vào phản ánh của người dân thay vì được thực hiện thường xuyên, chủ động. Những áp lực về khối lượng công việc và điều kiện bảo đảm thực thi nhiệm vụ cũng được phản ánh trong các thông tin về khó khăn của đội ngũ lãnh đạo cấp phường (Toàn Thắng, 2025). Vì vậy, cần tiếp tục rà soát, phân bổ biên chế theo vị trí việc làm và yêu cầu thực tiễn; tăng cường nhân lực có chuyên môn phù hợp; đồng thời bảo đảm điều kiện làm việc, cơ chế phối hợp và hỗ trợ nghiệp vụ để nâng cao chất lượng thực thi pháp luật về quản lý phát triển đô thị tại cấp cơ sở.

Thứ tư, về dữ liệu và hạ tầng số: yêu cầu đồng bộ dữ liệu phục vụ thực thi pháp luật.

Ứng dụng công nghệ số trong quản lý nhà nước tại Thành phố Hồ Chí Minh có sự phát triển không đồng đều giữa các lĩnh vực. Theo Nguyễn Thị Luyện (2026), tỷ lệ số hóa dữ liệu phục vụ giải quyết thủ tục hành chính, trong đó có dữ liệu hộ tịch và dân cư, đạt trên 90%. Tuy nhiên, việc khai thác dữ liệu không gian phục vụ quản lý đất đai, quy hoạch và trật tự xây dựng vẫn đặt ra những yêu cầu về chuẩn hóa, kết nối và đồng bộ dữ liệu giữa các địa bàn sau sắp xếp.

Việc sáp nhập, hợp nhất Thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Bình Dương và tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu làm gia tăng yêu cầu tích hợp cơ sở dữ liệu địa chính, bản đồ và thông tin quy hoạch do các địa phương trước đây sử dụng những tham số kỹ thuật khác nhau trong hệ tọa độ VN-2000. Theo hệ thống EPSG, Thành phố Hồ Chí Minh (cũ) và tỉnh Bình Dương vận hành trên kinh tuyến trục 105°45’ (EPSG:9210), trong khi tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu sử dụng kinh tuyến trục 107°45’ (EPSG:5899) (EPSG Geodetic Parameter Dataset, n.d.-a, n.d.-b), do đó các hệ thống được sử dụng tại những địa bàn này có sự khác biệt về kinh tuyến trục. Điều đó đòi hỏi quá trình chuẩn hóa, chuyển đổi và tích hợp dữ liệu phải được thực hiện đồng bộ, bảo đảm tính thống nhất và độ chính xác của thông tin không gian.

Trong trường hợp dữ liệu địa chính, bản đồ quy hoạch và thông tin công trình chưa được kết nối, chia sẻ kịp thời trên hệ thống dùng chung, cán bộ, công chức cấp phường có thể gặp khó khăn khi tra cứu ranh giới quy hoạch, xác định vị trí công trình và đối chiếu hiện trạng với hồ sơ pháp lý. Việc phải sử dụng nhiều nguồn dữ liệu hoặc thực hiện đối chiếu thủ công có thể kéo dài thời gian xử lý hồ sơ, ảnh hưởng đến tính chính xác và kịp thời của hoạt động kiểm tra, xác minh và xử lý vi phạm. Vì vậy, yêu cầu đặt ra là đẩy mạnh xây dựng, kết nối và khai thác hiệu quả cơ sở dữ liệu dùng chung; chuẩn hóa dữ liệu không gian; đồng thời bảo đảm khả năng tiếp cận thông tin phục vụ công tác quản lý đô thị tại phường. Đây là điều kiện quan trọng để thúc đẩy chuyển đổi số trong quản lý nhà nước, nâng cao chất lượng thực thi pháp luật và hạn chế sai sót trong quá trình giải quyết công việc.

Thứ năm, về phối hợp liên cơ quan và tương tác với người dân: yêu cầu tăng cường phối hợp và phát huy vai trò giám sát ở cơ sở.

Nhằm tăng cường phối hợp trong quản lý trật tự xây dựng sau khi triển khai mô hình chính quyền địa phương 02 cấp, Thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành Quyết định số 25/2025/QĐ-UBND và quy chế phối hợp ngày 21/11/2025, hướng tới xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan trong công tác kiểm tra, xử lý vi phạm (Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, 2025a, 2025b; VOH, 2025). Tuy nhiên, tại các địa bàn có sự tham gia quản lý của nhiều cơ quan, đơn vị như Sở Xây dựng, Ban Quản lý khu công nghiệp và UBND phường, việc chia sẻ thông tin về cấp phép xây dựng, quy hoạch và tình trạng pháp lý của công trình có ý nghĩa quan trọng đối với hiệu quả phối hợp. Nếu thông tin chưa được cập nhật, trao đổi kịp thời hoặc trách nhiệm giữa các cơ quan chưa được xác định rõ, quá trình kiểm tra, xác minh và xử lý vi phạm có thể gặp khó khăn, ảnh hưởng đến tính thống nhất và kịp thời trong thực thi pháp luật.

Đối với tương tác với người dân, tỷ lệ hài lòng đối với dịch vụ hành chính công đạt 90,69% theo Nguyễn Thị Luyện (2026) là một chỉ số tham khảo về chất lượng phục vụ hành chính. Tuy nhiên, chỉ số này chưa phản ánh đầy đủ hiệu quả tiếp nhận, xác minh và xử lý phản ánh, kiến nghị liên quan đến vi phạm trật tự xây dựng. Do đó, cần có các chỉ số đánh giá cụ thể hơn đối với từng khâu của quy trình xử lý phản ánh, bảo đảm công khai, minh bạch và nâng cao trách nhiệm giải trình của cơ quan có thẩm quyền. Bên cạnh đó, việc tổ chức lại các mô hình tự quản tại khu dân cư sau sắp xếp đơn vị hành chính cũng đặt ra yêu cầu tiếp tục phát huy vai trò tham gia, giám sát của người dân và cộng đồng trong phát hiện, phản ánh các vi phạm phát sinh. Việc duy trì các kênh tiếp nhận thông tin thuận tiện, bảo đảm phản hồi kịp thời và tăng cường phối hợp giữa chính quyền với cộng đồng dân cư sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý trật tự xây dựng ngay từ cơ sở.

Nhìn chung, việc sắp xếp chính quyền địa phương tại Thành phố Hồ Chí Minh đã thúc đẩy quá trình điều chỉnh tổ chức, phân định thẩm quyền và phương thức phối hợp trong quản lý nhà nước. Tuy nhiên, thực tiễn đặt ra yêu cầu tiếp tục bảo đảm sự đồng bộ giữa phân cấp, ủy quyền với bố trí nhân lực, hoàn thiện cơ sở dữ liệu, chuẩn hóa quy trình phối hợp và tăng cường tương tác với người dân. Những hạn chế về tiến độ hoàn thiện quy định, điều kiện bảo đảm thực thi, kết nối dữ liệu và phối hợp liên cơ quan có thể ảnh hưởng đến hiệu quả thực hiện pháp luật về quản lý phát triển đô thị. Vì vậy, phân cấp, ủy quyền cần đi đôi với xác định rõ trách nhiệm, bảo đảm nguồn lực, hướng dẫn nghiệp vụ và hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát, qua đó nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và chất lượng phục vụ người dân (Bảo Phương, 2026; VietnamPlus, 2026).

4. Định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về quản lý phát triển đô thị tại các phường sau sắp xếp

Một là, chuẩn hóa và hoàn thiện các điều kiện thi hành thẩm quyền đã được phân cấp.

Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cần sớm hệ thống hóa và số hóa các quy trình nội bộ, ban hành bộ “Quy trình chuẩn” (SOPs) về lập biên bản, ra quyết định xử phạt và cưỡng chế vi phạm trật tự xây dựng, quy định rõ lưu đồ thời gian (SLA) đối với từng cá nhân tham gia. Để giảm tải cho các chủ tịch UBND phường, cần xem xét, cân nhắc việc thể chế hóa và thúc đẩy mạnh mẽ cơ chế ủy quyền xử phạt vi phạm hành chính cho các phó chủ tịch và công chức chuyên môn đủ điều kiện theo đúng quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương (Quốc hội, 2025a) và Luật Xử lý vi phạm hành chính (Quốc hội, 2025c). Cần có thông tư hoặc văn bản liên sở hướng dẫn rõ ranh giới chuyên môn giữa trật tự đô thị và trật tự xây dựng. Đồng thời, thành phố cần ban hành cơ chế tài chính đặc thù hỗ trợ khâu cưỡng chế công trình và cụ thể hóa quy định bảo vệ công chức “dám nghĩ, dám làm” trong lĩnh vực nhạy cảm này, như tinh thần Kết luận số 76-KL/TW (Báo Nhân Dân, 2026).

Hai là, đổi mới cơ chế phân bổ biên chế theo đặc thù và yêu cầu quản lý của từng địa bàn đô thị.

Việc phân bổ biên chế cần từng bước chuyển từ cách tiếp cận chủ yếu dựa trên định mức chung sang phương thức gắn với vị trí việc làm, khối lượng công việc và đặc điểm của từng địa bàn, bảo đảm phù hợp với yêu cầu tinh gọn tổ chức bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương. Chủ trương bố trí thêm phó chủ tịch UBND tại các phường có quy mô dân số trên 50.000 người (Báo Đại biểu Nhân dân, 2026) là cơ sở tham khảo để nghiên cứu phương án bố trí nhân lực chuyên môn phù hợp với đặc điểm quản lý đô thị. Theo đó, việc xác định nhu cầu nhân lực cần xem xét đồng thời các tiêu chí như quy mô, mật độ dân số; số lượng hồ sơ cấp phép xây dựng; số công trình đang thi công; diện tích và đặc điểm sử dụng đất; tình hình vi phạm trật tự xây dựng trên địa bàn. Trên cơ sở đánh giá thực tiễn, cần rà soát, hoàn thiện đề án vị trí việc làm và nghiên cứu bố trí bổ sung từ 05 đến 07 công chức chuyên trách hoặc nhân lực chuyên môn phù hợp cho công tác quản lý trật tự xây dựng tại những phường có khối lượng công việc lớn (Tạp chí Luật sư Việt Nam, 2025). Đồng thời, cần xây dựng phương án sử dụng ổn định, lâu dài đội ngũ nhân lực chuyên môn, gắn với yêu cầu tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao năng lực thực thi công vụ, từng bước khắc phục sự phụ thuộc vào các phương án biệt phái trong giai đoạn chuyển tiếp (Pháp luật TP.HCM, 2025a).

Ba là, hoàn thiện hạ tầng dữ liệu không gian địa lý đồng bộ, liên thông và bảo đảm nguồn lực vận hành.

Thành phố cần ưu tiên bố trí nguồn lực phù hợp để rà soát, chuẩn hóa, tích hợp và khai thác hiệu quả cơ sở dữ liệu không gian địa lý, đặc biệt là dữ liệu đất đai, địa chính, quy hoạch và cấp phép xây dựng, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước trong điều kiện tổ chức chính quyền địa phương theo mô hình 02 cấp. Trước hết, cần nghiên cứu thành lập tổ công tác chuyên trách nhằm đánh giá hiện trạng dữ liệu, thống nhất tiêu chuẩn kỹ thuật, chuẩn hóa hệ tọa độ và định dạng dữ liệu GIS, bảo đảm khả năng kết nối, chia sẻ và sử dụng thống nhất trên phạm vi toàn Thành phố. Quá trình chuyển đổi, tích hợp dữ liệu cần tuân thủ các tiêu chuẩn kỹ thuật và quy định hiện hành, đồng thời bảo đảm tính chính xác, toàn vẹn và khả năng truy xuất của thông tin.

Trên cơ sở hạ tầng dữ liệu được chuẩn hóa, cần phát triển các nền tảng và công cụ số phục vụ công chức cấp phường tra cứu, đối chiếu thông tin quy hoạch, hồ sơ cấp phép xây dựng và dữ liệu địa chính tại hiện trường theo thẩm quyền được giao. Đồng thời, từng bước số hóa quy trình kiểm tra, phát hiện, lập hồ sơ và xử lý vi phạm, gắn thông tin về thời gian, vị trí, hình ảnh hiện trường và biên bản điện tử với từng vụ việc; bảo đảm dữ liệu được quản lý, lưu trữ, bảo vệ và khai thác theo quy định pháp luật. Việc ứng dụng công nghệ số cần đi đôi với hoàn thiện quy trình nghiệp vụ, xác định rõ trách nhiệm của cơ quan, cá nhân có liên quan và nâng cao năng lực sử dụng hệ thống, qua đó góp phần hạn chế sai sót, tăng tính minh bạch và nâng cao chất lượng thực thi pháp luật về quản lý phát triển đô thị.

Bên cạnh đầu tư hạ tầng kỹ thuật, Thành phố cần xây dựng phương án bảo đảm kinh phí thường xuyên cho việc cập nhật, duy trì, vận hành và nâng cấp hệ thống dữ liệu, phần mềm và thiết bị phục vụ quản lý đô thị. Việc bố trí, sử dụng nguồn lực tài chính cần thực hiện theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước và pháp luật có liên quan; nghiên cứu cơ chế phân bổ kinh phí phù hợp với nhiệm vụ, khối lượng công việc và yêu cầu quản lý của cấp phường. Đối với nguồn thu từ xử phạt vi phạm hành chính, việc quản lý và sử dụng phải tuân thủ quy định hiện hành, không mặc nhiên xác định một tỷ lệ để lại cho cấp phường khi chưa có căn cứ pháp lý cụ thể. Đây là điều kiện quan trọng để bảo đảm tính ổn định, hiệu quả và bền vững của quá trình chuyển đổi số trong quản lý phát triển đô thị.

Bốn là, lượng hóa năng lực thực thi, nâng cao trách nhiệm giải trình và tăng cường giám sát cộng đồng.

Quản trị công hiện đại đo lường kết quả bằng dữ liệu. Thành phố cần xây dựng Bộ chỉ số năng lực thực thi (KPI) dành riêng cho cấp cơ sở, xoay quanh năm trụ cột: (1) Thời gian trung bình tiếp cận và lập biên bản hiện trường; (2) Tỷ lệ xử lý dứt điểm vi phạm; (3) Tỷ lệ quyết định xử phạt bị tòa án hủy bỏ; (4) Tỷ lệ tin báo được phản hồi đúng hạn; (5) Tỷ lệ vi phạm do chính quyền chủ động phát hiện so với tin báo của dân. Các chỉ số này cần được công khai minh bạch trên các cổng thông tin điện tử của phường. Cuối cùng, để bù đắp khoảng trống sau khi bãi bỏ HĐND quận, HĐND phường cần đẩy mạnh các phiên giải trình chuyên đề về quy hoạch xây dựng, đồng thời thiết lập lại mạng lưới giám sát tình nguyện tại các khu dân cư để tái khởi động các “ăng-ten” phát hiện sớm vi phạm từ cơ sở.

Bốn là, xây dựng hệ thống chỉ số đánh giá năng lực thực thi, nâng cao trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát của cộng đồng.

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi pháp luật về quản lý phát triển đô thị đòi hỏi phải gắn việc thực hiện nhiệm vụ với các tiêu chí đánh giá cụ thể, có khả năng đo lường và kiểm chứng. Thành phố cần nghiên cứu xây dựng bộ chỉ số đánh giá kết quả thực thi nhiệm vụ của chính quyền cấp phường trong lĩnh vực quản lý trật tự xây dựng và phát triển đô thị, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và điều kiện thực tiễn của từng địa bàn. Các chỉ số có thể tập trung vào năm nhóm tiêu chí: (1) thời gian tiếp nhận thông tin, kiểm tra và lập hồ sơ vi phạm tại hiện trường; (2) tỷ lệ vụ việc được xử lý theo đúng thẩm quyền, trình tự và thời hạn quy định; (3) tỷ lệ quyết định xử phạt vi phạm hành chính bị cơ quan có thẩm quyền hủy bỏ hoặc sửa đổi do sai sót trong quá trình ban hành; (4) tỷ lệ phản ánh, kiến nghị của người dân được tiếp nhận và trả lời đúng hạn; (5) tỷ lệ vụ việc vi phạm được phát hiện thông qua hoạt động kiểm tra, giám sát chủ động của cơ quan chức năng so với tổng số vụ việc được phát hiện. Việc thiết kế và áp dụng các chỉ số cần bảo đảm tính khách quan, thống nhất về phương pháp tính, có cơ chế kiểm tra, đối chiếu dữ liệu và tránh tạo động cơ chạy theo thành tích hoặc làm phát sinh các biện pháp xử lý không phù hợp. Trên cơ sở đó, Thành phố cần xem xét công khai kết quả đánh giá theo hình thức và phạm vi phù hợp trên các cổng thông tin điện tử, bảo đảm tuân thủ quy định về công khai thông tin và bảo vệ dữ liệu.

Cùng với việc đánh giá kết quả thực thi, cần tăng cường trách nhiệm giải trình của cơ quan hành chính và người có thẩm quyền trong việc tiếp nhận, xử lý vi phạm, giải quyết phản ánh, kiến nghị của người dân. Trong mô hình chính quyền địa phương 02 cấp, Hội đồng nhân dân phường cần phát huy đầy đủ chức năng giám sát theo quy định pháp luật, chú trọng các chuyên đề liên quan đến quản lý quy hoạch, trật tự xây dựng, xử lý vi phạm hành chính và giải quyết kiến nghị của cử tri. Đồng thời, cần tăng cường phối hợp giữa chính quyền phường với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và cộng đồng dân cư trong tiếp nhận thông tin, giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật và phản ánh kịp thời những vấn đề phát sinh tại địa bàn. Việc phát huy vai trò giám sát của người dân cần được thực hiện thông qua các hình thức phù hợp, bảo đảm công khai, minh bạch, đúng quy định pháp luật, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Qua đó, góp phần nâng cao tính chủ động của cơ quan quản lý, củng cố trách nhiệm giải trình và tăng cường sự tham gia của người dân trong quản lý phát triển đô thị ở cơ sở./.

----------------------------------------

Tài liệu tham khảo:

1. Ban Chấp hành Trung ương (2025), Nghị quyết số 60-NQ/TW ngày 12/4/ 2025 của Hội nghị lần thứ 11 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII.

2. Bảo Phương (2026), Cán bộ, công chức cấp xã “điểm tựa” của chính quyền địa phương 2 cấp. Bài 3: Đủ năng lực biến chủ trương đúng thành hiệu quả thực chất. Báo Đại biểu Nhân dân. https://daibieunhandan.vn/print/10422624.html.

3. Báo Đại biểu Nhân dân (2025b), Hồ Chí Minh: Biệt phái công chức cấp Sở về xã quản lý trật tự xây dựng, đô thị. https://daibieunhandan.vn/print/10396762.html.

4. Báo Đại biểu Nhân dân (2025d), Hồ Chí Minh: Kiến nghị hướng dẫn liên quan công tác quản lý trật tự đô thị tại cấp xã. https://daibieunhandan.vn/print/10393759.html.

5. Báo Đại biểu Nhân dân (2026), Hồ Chí Minh: 83 xã, phường được bố trí thêm Phó Chủ tịch UBND. https://daibieunhandan.vn/tp-ho-chi-minh-83-xa-phuong-duoc-bo-tri-them-pho-chu-tich-ubnd-10403484.html.

6. Báo Nhân Dân (2026), Tiếp tục hoàn thiện, vận hành hiệu quả mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị và chính quyền địa phương 2 cấp. https://nhandan.vn/tiep-tuc-hoan-thien-van-hanh-hieu-qua-mo-hinh-to-chuc-tong-the-cua-he-thong-chinh-tri-va-chinh-quyen-dia-phuong-2-cap-post978554.html.

7. Blom-Hansen, J., Houlberg, K., Serritzlew, S., & Treisman, D. (2016). Jurisdiction size and local government policy expenditure: Assessing the effect of municipal amalgamation. American Political Science Review, 110(4), 812-831. https://doi.org/10.1017/S0003055416000320.

8. Đặng Ngọc (2025), Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã: Mở rộng để sát gần thực tiễn quản lý cơ sở. Cổng thông tin điện tử phổ biến, giáo dục pháp luật thành phố Cần Thơ. https://pbgdpl.cantho.gov.vn.

9. EPSG Geodetic Parameter Dataset. (n.d.-a). EPSG:9210 VN-2000/TM-3 105-45. https://spatialreference.org/ref/epsg/9210/

10. EPSG Geodetic Parameter Dataset. (n.d.-b). EPSG:5899 VN-2000/TM-3 107-45. https://spatialreference.org/ref/epsg/5899/.

11. Lipsky, M. (1980). Street-level bureaucracy: Dilemmas of the individual in public services. Russell Sage Foundation.

12. Nguyễn Thị Luyện (2026), Trung tâm phục vụ hành chính công: Trường hợp Thành phố Hồ Chí Minh trong triển khai chính quyền địa phương 2 cấp. Tạp chí Khoa học xã hội Thành phố Hồ Chí Minh, 1(340), 32-43.

13. O’Toole, L. J. (2000). Research on policy implementation: Assessment and prospects. Journal of Public Administration Research and Theory, 10(2), 263-288.

14. Pháp Luật TP.HCM (2025a), TP.HCM biệt phái gần 900 cán bộ Sở Xây dựng về phường, xã. https://plo.vn/tphcm-biet-phai-gan-900-can-bo-so-xay-dung-ve-phuong-xa-post869667.html.

15. Quốc hội (2025a), Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 72/2025/QH15 ngày 16/6/2025.

16. Quốc hội (2025b), Nghị quyết số 202/2025/QH15 ngày 12/6/2025 về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh.

17. Quốc hội (2025c), Luật số 88/2025/QH15 ngày 25/6/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính.

18. Tạp chí Kinh tế Tài chính (2026), Chính phủ đẩy nhanh hoàn thiện thể chế, vận hành hiệu quả mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. https://tapchikinhtetaichinh.vn.

19. Tạp chí Luật sư Việt Nam (2025), TP. HCM kiến nghị bổ sung thêm biên chế, thêm quyền cho phường xã. https://lsvn.vn.

20. Toàn Thắng (2025), TPHCM bàn giải pháp với “bài toán” cán bộ: Vừa thừa vừa thiếu. VOH. https://voh.com.vn/tin-tp-ho-chi-minh/tphcm-ban-giai-phap-voi-bai-toan-can-bo-vua-thua-vua-thieu-616756.html.

21. Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (2025a), Quyết định số 25/2025/QĐ-UBND ngày 08/11/2025 quy định về phân cấp quản lý trật tự xây dựng trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.

22. Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (2025b), Quyết định số 2850/QĐ-UBND ngày 21/11/2025 ban hành Quy chế phối hợp quản lý trật tự xây dựng tại Thành phố Hồ Chí Minh.

23. Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2024), Nghị quyết số 1278/NQ-UBTVQH15 ngày 14/11/2024 về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã của Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2023 đến 2025.

24. Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2025), Nghị quyết số 1685/NQ-UBTVQH15 ngày 16/6/2025 về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã của Thành phố Hồ Chí Minh năm 2025.

25. VOH (2025), TPHCM phân cấp xử lý vi phạm xây dựng về cấp xã. https://voh.com.vn/xa-hoi/tphcm-phan-cap-xu-ly-vi-pham-xay-dung-ve-cap-xa-635928.html.

ThS Nguyễn Ngọc Bảo Duy - Phòng Kinh tế, Hạ tầng và Đô thị, UBND phường An Hội Đông, Thành phố Hồ Chí Minh

Bài viết cùng tác giả