Tiếng Việt
Tiếng Việt Tiếng Anh

Vận dụng lý thuyết lãnh đạo chuyển đổi trong đổi mới quản trị quốc gia theo tinh thần Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng

Ngày đăng: 16/10/2026   12:52
Đọc bài viết
Mặc định Cỡ chữ
Tóm tắt: Bài viết phân tích lý thuyết Lãnh đạo chuyển đổi (Transformational Leadership) và mô hình 4I trong khu vực công, đồng thời chỉ ra sự giao thoa giữa lý thuyết này với tư duy đổi mới phương thức lãnh đạo, quản trị quốc gia trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp mang tính thực tiễn nhằm đổi mới nền công vụ, tinh gọn bộ máy, hoàn thiện cơ chế đánh giá cán bộ theo sản phẩm đầu ra và bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, góp phần đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

Từ khóa: Cải cách hành chính; chất lượng đội ngũ cán bộ; chế độ công vụ; lãnh đạo chuyển đổi; quản trị quốc gia; Văn kiện Đại hội XIV.

Abstract: This article analyzes the Transformational Leadership theory and the Four I's (4I) model within the public sector, while highlighting the convergence between this theoretical framework and the innovative thinking on leadership methods and national governance articulated in the Documents of the 14th National Party Congress. On this basis, the paper proposes practical solutions to reform the civil service, streamline the organizational apparatus, refine the output-based cadre performance evaluation mechanism, and protect cadres who dare to think and dare to act, thereby contributing to meeting the requirements of national development in the new era.

Keywords: administrative reform; cadre quality; civil service system; transformational leadership; national governance; Documents of the 14th National Party Congress.

 

1. Cơ sở lý luận về lãnh đạo chuyển đổi trong quản trị công hiện đại

Nghiên cứu khoa học lãnh đạo hiện đại đã dịch chuyển mạnh mẽ từ phân tích hành vi cá nhân sang tiếp cận lãnh đạo như một quá trình tương tác động giữa chủ thể lãnh đạo và các bên liên quan nhằm dẫn dắt sự thay đổi tổ chức. Trong bối cảnh quản trị công thế kỷ XXI gia tăng tính bất định và phức tạp, các mô hình quản lý hành chính thuần túy dựa trên mệnh lệnh, kiểm soát và tuân thủ quy trình xơ cứng tỏ ra bế tắc trước yêu cầu kiến tạo phát triển. Lý thuyết Lãnh đạo chuyển đổi (Transformational Leadership) xuất hiện như một khung khổ lý thuyết trung tâm, cung cấp luận cứ sắc bén để tái thiết phương thức quản trị khu vực công.

Khác với Lãnh đạo giao dịch (Transactional Leadership) vốn vận hành dựa trên cơ chế trao đổi lợi ích ngắn hạn và duy trì sự tuân thủ quy trình sẵn có (James MacGregor Burns, 1978), Lãnh đạo chuyển đổi hướng tới việc biến đổi nhận thức, khơi dậy lý tưởng và chuyển hóa động cơ cá nhân thành cam kết cống hiến vì mục tiêu chung của tổ chức và cộng đồng. Bernard M. Bass (1985, 2006) và Mark W. Van Wart (2013) đã cụ thể hóa mô hình này trong khu vực công, khẳng định nhà lãnh đạo chuyển đổi giúp tổ chức đạt được “hiệu suất vượt kỳ vọng” thông qua việc tái thiết văn hóa công vụ và nâng cao năng lực tự học hỏi của bộ máy. Cấu trúc vận hành cốt lõi của Lãnh đạo chuyển đổi được hệ thống hóa qua Mô hình 4I - Four I's (Bernard M. Bass và các cộng sự, 1985) như sau:

Idealized Influence- Ảnh hưởng lý tưởng: Xây dựng uy tín chính trị, hình mẫu đạo đức công vụ và sự liêm chính tuyệt đối để tạo sự chính danh và niềm tin.

Inspirational Motivation - Truyền cảm hứng: Xác lập và truyền tải tầm nhìn chiến lược dài hạn, khơi dậy khát vọng phát triển và tinh thần phụng sự.

Intellectual Stimulation - Kích thích trí tuệ: Khuyến khích tư duy phản biện, thách thức các lối mòn quan liêu và dung chấp rủi ro có kiểm soát trong đổi mới sáng tạo.

Individualized Consideration- Quan tâm cá nhân: Chú trọng đào tạo, phân cấp, trao quyền và đồng hành cùng từng cán bộ, công chức.

Trong quản trị công hiện đại, Lãnh đạo chuyển đổi giúp khu vực công thoát khỏi tư duy “cai trị” hành chính thụ động để chuyển sang mô hình chính quyền kiến tạo phát triển. Mô hình này giúp xác lập “trục tích hợp chiến lược” cho chính sách, tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và đặt nhân tố con người/công chức vào vị trí trung tâm của mọi cải cách.

2. Sự phát triển lý luận lãnh đạo của Đảng trong Văn kiện Đại hội XIV

Đại hội XIV của Đảng diễn ra trong bối cảnh thế giới biến động nhanh, cạnh tranh chiến lược gay gắt và sự bùng nổ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (trọng tâm là AI và công nghệ số). Bối cảnh này đòi hỏi bước chuyển dịch lý luận vượt bậc về phương thức lãnh đạo và quản trị nhà nước.

Thứ nhất, chuyển từ tư duy “giữ ổn định” sang “chủ động kiến tạo phát triển”. Văn kiện Đại hội XIV đánh dấu bước phát triển lý luận quan trọng: đặt “ổn định” trong mối quan hệ động với “đổi mới và đột phá phát triển”. Lãnh đạo không dừng lại ở duy trì quỹ đạo hành chính sẵn có mà phải chủ động mở ra không gian phát triển mới. Sự chuyển dịch này vận hành qua việc: (1) Định hình nhận thức đúng về thời cơ và thách thức; (2) Xác lập bộ ba đột phá chiến lược (Thể chế, Nhân lực, Hạ tầng); và (3) Khơi dậy khát vọng phát triển dân tộc.

Thứ hai, đề cao kỷ luật thực thi và xóa bỏ khoảng cách “ý chí - kết quả”. Đảng tập trung cao độ vào khâu tổ chức thực hiện, chuyển trọng tâm từ “ban hành chủ trương đúng” sang “tổ chức thực hiện nghiêm túc, có kiểm chứng thực tiễn”. Hiệu lực lãnh đạo được đo lường bằng sản phẩm đầu ra, sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp và mức độ tinh gọn, hiệu năng của bộ máy hành chính. Mọi chương trình hành động phải tuân thủ nguyên tắc “6 rõ” (rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền, rõ kết quả).

Thứ ba, lãnh đạo trong bối cảnh chuyển đổi số, AI và quản trị dựa trên dữ liệu. Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là động lực trung tâm để tái định hình lực lượng sản xuất và phương thức quản trị nhà nước. Lãnh đạo trong bối cảnh mới đòi hỏi người đứng đầu phải làm chủ công nghệ, chuyển sang phương thức điều hành dựa trên dữ liệu (Data-driven Governance), kết hợp tư duy công nghệ hiện đại với bản lĩnh chính trị và chuẩn mực đạo đức công vụ.

Bảng 1: Sự phát triển lý luận lãnh đạo của Đảng tại Đại hội XIV

Nội dung

Trước Đại hội XIV

Tại Đại hội XIV

Giá trị lý luận phát triển

Tư duy định hướng

Giữ vững ổn định chính trị - xã hội; duy trì quỹ đạo phát triển sẵn có.

Kiến tạo phát triển trong bối cảnh biến động; đặt ổn định trong mối quan hệ động với đột phá.

Chuyển chức năng lãnh đạo từ “duy trì” sang “chủ động kiến tạo”.

Khâu thực thi

Trọng tâm vào xác lập đường lối, ban hành nghị quyết.

Chuyển hóa cam kết thành hành động: “Rõ mục tiêu, rõ trách nhiệm, rõ tiến độ, rõ kết quả”.

Lấy sản phẩm công vụ thực tế và hiệu lực thực thi làm thước đo uy tín cán bộ.

Vai trò công nghệ

Công nghệ là công cụ hỗ trợ quy trình hành chính.

Công nghệ, AI và dữ liệu là động lực trung tâm tái cấu trúc phương thức quản trị.

Nâng từ “thích ứng công nghệ” lên “dẫn dắt chuyển đổi bằng dữ liệu”.

(Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp)

 3. Sự tương thích giữa lãnh đạo chuyển đổi và yêu cầu đổi mới công vụ, quản trị quốc gia

Sự giao thoa giữa lý thuyết Lãnh đạo chuyển đổi hiện đại và định hướng trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng thể hiện sự thống nhất giữa quy luật quản trị công tiên tiến và thực tiễn cải cách bộ máy tại Việt Nam. Có thể xem qua bảng so sánh, phân tích dưới đây:

Bảng 2: Sự giao thoa giữa lý thuyết Lãnh đạo chuyển đổi hiện đại

và định hướng của Văn kiện Đại hội XIV

Nội dung

Trước Đại hội XIV

Tại Đại hội XIV

Giá trị lý luận phát triển

Tư duy định hướng

Giữ vững ổn định chính trị - xã hội; duy trì quỹ đạo phát triển đã lựa chọn phù hợp với các mục tiêu sẵn có.

Tư duy kiến tạo phát triển trong bối cảnh biến động cao; chủ động phát hiện động lực tăng trưởng mới; đặt “ổn định” trong quan hệ động với “đột phá”.

Nâng lãnh đạo từ chức năng “giữ vững quỹ đạo” sang “kiến tạo phát triển”; khẳng định bản chất dẫn dắt quốc gia trong điều kiện bất định.

Khâu thực thi

Trọng tâm đặt vào việc hình thành nhận thức đúng, xác lập chủ trương đúng, ban hành quyết sách chính trị đúng đắn.

Chuyển hóa nhận thức và cam kết thành chương trình hành động: “Rõ mục tiêu, rõ trách nhiệm, rõ tiến độ, rõ kết quả”; kiểm chứng bằng thực tiễn.

Đặt giá trị lãnh đạo trực tiếp vào hiệu lực thực thi; lấy kết quả xã hội và trách nhiệm giải trình làm thước đo chất lượng lãnh đạo.

Vai trò công nghệ

Khoa học, công nghệ, AI được nhìn nhận là nguồn lực hỗ trợ tăng trưởng, hiện đại hóa quy trình hành chính.

Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số là động lực trung tâm; AI là ưu tiên hàng đầu để tái định hình lực lượng sản xuất.

Công nghệ trở thành môi trường phát triển mới; nâng lãnh đạo từ “thích ứng công nghệ” lên “dẫn dắt chuyển đổi bằng dữ liệu và AI”.

Giá trị lý luận tổng quát

Định hình đường lối, bảo đảm ổn định, từng bước thích ứng với sự thay đổi của môi trường.

Giải phóng nguồn lực, đề cao hiệu lực thực thi, hiện đại hóa bộ máy trong kỷ nguyên số, củng cố niềm tin bằng kết quả và sự liêm chính.

Hoàn thiện lý luận lãnh đạo toàn diện: rõ chủ thể, đối tượng, công cụ, chuẩn mực và cơ chế chuyển hóa ý chí thành kết quả phát triển.

(Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp)

4. Giải pháp vận dụng lý thuyết Lãnh đạo chuyển đổi để nâng cao hiệu quả quản trị quốc gia ở Việt Nam

Để chuyển hóa các nguyên lý của lý thuyết Lãnh đạo chuyển đổi và tinh thần Đại hội XIV của Đảng vào thực tiễn xây dựng nền công vụ, cần triển khai đồng bộ 5 nhóm giải pháp trọng tâm:

Một là, đổi mới tư duy của người đứng đầu và tinh gọn bộ máy chính quyền. Cần chuyển đổi triệt để sang tư duy chính quyền kiến tạo để bắt buộc người đứng đầu các cơ quan, đơn vị từ bỏ tư duy quản lý “xin - cho”, kiểm soát thụ động sang tư duy phục vụ, chủ động mở rộng không gian phát triển cho doanh nghiệp và phục vụ nhân dân. Xây dựng bộ máy tinh gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả: quyết liệt đẩy mạnh cuộc cách mạng về sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy, vận hành hiệu quả mô hình chính quyền địa phương 02 cấp tinh gọn, phân định rõ thẩm quyền theo nguyên tắc “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”, xóa bỏ triệt để các khâu trung gian đùn đẩy trách nhiệm.

Hai là, thúc đẩy chính phủ số và quản trị công dựa trên dữ liệu. Hiện đại hóa hạ tầng dữ liệu liên thông theo hướng đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện trong cơ quan hành chính nhà nước; dữ liệu quốc gia liên thông, phục vụ chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu thời gian thực (Data-driven Governance). Chuẩn hóa quy trình và cung cấp dịch vụ công trực tuyến bảo đảm cung cấp 100% dịch vụ công trực tuyến toàn trình, lấy chỉ số hài lòng của người dân và doanh nghiệp làm thước đo tối cao đánh giá chất lượng phục vụ của cơ quan hành chính.

Ba là, đổi mới công tác cán bộ theo hướng đánh giá theo hiệu suất và kết quả đầu ra (KPIs/OKRs). Thay đổi phương thức đánh giá cán bộ: Xóa bỏ triệt để cách đánh giá định tính, cào bằng. Áp dụng hệ thống đo lường hiệu suất công việc (KPIs) và kết quả sản phẩm đầu ra cụ thể và mức độ hài lòng của người dân (OKRs). Hiện đại hóa chương trình đào tạo công vụ theo hướng đưa các nội dung về Lãnh đạo chuyển đổi, quản trị sự thay đổi, kỹ năng lãnh đạo số và đạo đức công vụ vào chương trình bồi dưỡng cán bộ cấp chiến lược và cán bộ cấp cơ sở.

Bốn là, thể chế hóa cơ chế bảo vệ cán bộ “dám nghĩ, dám làm, dám đột phá”. Cụ thể hóa Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 22/8/2026 về phát huy tính tiên phong, gương mẫu, tinh thần đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong kỷ nguyên mới và Quy định số 220-QĐ/TW ngày 30/9/2026 của Ban Bí thư thành các quy định pháp luật minh bạch để bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám bứt phá vì lợi ích chung. Đây chính là giải pháp quan trọng nhất để khơi dậy năng lực Kích thích trí tuệ (Intellectual Stimulation) trong nền công vụ. Phân định ranh giới pháp lý rõ ràng bảo đảm chính xác giữa sai sót vô tư trong quá trình thử nghiệm (sandbox), đổi mới sáng tạo với các hành vi cố ý làm trái, trục lợi cá nhân, nhằm tạo “hành lang an toàn” để cán bộ yên tâm hiến kế và hành động.

Năm là, khơi dậy khát vọng cống hiến và sự đồng thuận xã hội. Thực hiện tham vấn chính sách đa chiều theo hướng bắt buộc tổ chức đối thoại, tham vấn ý kiến cộng đồng doanh nghiệp, các nhà khoa học và Nhân dân trước khi ban hành các quyết sách kinh tế - xã hội quan trọng. Lan tỏa hình mẫu lãnh đạo liêm chính: đẩy mạnh tuyên dương, nhân rộng các điển hình lãnh đạo, công chức tận tụy, dám chịu trách nhiệm, tạo không khí thi đua tích cực trong toàn hệ thống chính trị.

5. Kết luận

Lý thuyết Lãnh đạo chuyển đổi cung cấp khung phân tích khoa học hiện đại, có giá trị bổ trợ trực tiếp cho sự phát triển lý luận lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã được khẳng định rất mạnh mẽ, quyết liệt trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng. Việc vận dụng mô hình này vào thực tiễn quản trị công đã và sẽ tiếp tục góp phần đẩy nhanh, quyết liệt quá trình tinh gọn, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, nâng cao hiệu lực thực thi, khơi dậy tinh thần đổi mới sáng tạo và bảo vệ đội ngũ cán bộ dám nghĩ, dám làm. Bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, một nền công vụ hiện đại, liêm chính, trách nhiệm giải trình lấy sự phụng sự Nhân dân làm trung tâm sẽ là đòn bẩy quyết định đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững./.

--------------------------------------------

Tài liệu tham khảo:

1. Ban Bí thư (2026), Quy định số 220-QĐ/TW ngày 30/9/2026 về cơ chế tôn vinh, trọng dụng và bảo vệ cán bộ dám đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.

2. Bass, B. M. và Riggio, R. E. (2006), Transformational Leadership, ấn bản thứ hai, Psychology Press.

3. Bộ Chính trị (2021), Kết luận số 14-KL/TW ngày 22/9/2021 về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung.

4. Bộ Chính trị (2026), Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 22/8/2026 về phát huy tính tiên phong, gương mẫu, tinh thần đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong kỷ nguyên mới.

5. Burns, J. M. (1978), Leadership, Harper & Row.

6. Chính phủ (2023), Nghị định số 73/2023/NĐ-CP ngày 29/9/2023 quy định về khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.

7. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (2 tập), NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

8. Van Wart, M. (2013), “Administrative leadership theory: A reassessment after 10 years”, Public Administration Review, 73(4), tr. 521-543.

TS Bùi Thị Hồng Hà,

Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh

ThS Nguyễn Thị Ngọt,

ThS Nguyễn Thanh Bách, ThS Tăng Hữu Cường,

Thuế Thành phố Hồ Chí Minh

.

Bài viết cùng tác giả