Trong bối cảnh biến đổi khí hậu diễn biến ngày càng phức tạp, tác động sâu rộng đến sinh kế và đời sống của người dân, đặc biệt là ở các vùng khó khăn, công cuộc giảm nghèo bền vững đã trở thành bài toán tổng hợp gắn với năng lực thích ứng, khả năng chống chịu và vai trò chủ thể của cộng đồng. Trong tiến trình đó, phụ nữ, nhất là phụ nữ dân tộc thiểu số, ngày càng khẳng định vị trí trung tâm trong các mô hình sinh kế thích ứng biến đổi khí hậu, góp phần quan trọng vào việc thực hiện hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021 - 2025.
Thực tiễn cho thấy, biến đổi khí hậu đang làm gia tăng các hình thái rủi ro sinh kế tại vùng núi cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và các địa bàn thường xuyên chịu tác động của thiên tai. Tại nhiều địa phương, rét đậm rét hại, hạn hán kéo dài, sạt lở đất và suy giảm tài nguyên rừng đã làm đứt gãy phương thức sản xuất truyền thống, khiến nguy cơ tái nghèo luôn hiện hữu. Trong bối cảnh đó, phụ nữ là nhóm chịu ảnh hưởng kép, vừa gánh trách nhiệm chăm lo gia đình, vừa tham gia sản xuất nhưng còn hạn chế về nguồn lực, kỹ năng và khả năng tiếp cận chính sách.
Nhận thức rõ yêu cầu đặt ra, Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững đã chuyển mạnh từ hỗ trợ an sinh thuần túy sang đầu tư cho sinh kế, trong đó nhấn mạnh yêu cầu thích ứng với biến đổi khí hậu và phát huy vai trò chủ thể của phụ nữ. Cách tiếp cận này không chỉ giúp hộ nghèo có sinh kế ổn định mà còn nâng cao năng lực tự chủ, giảm phụ thuộc vào trợ cấp và tăng khả năng chống chịu trước các cú sốc khí hậu.
![]() |
| Người dân được hỗ trợ chuyển đổi cơ cấu cây trồng, nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp cũng như thu nhập. |
Một trong những minh chứng tiêu biểu cho hướng đi đúng đắn này là Dự án đa dạng hóa sinh kế và phát triển mô hình giảm nghèo bền vững tại các huyện nghèo tỉnh Hà Giang. Dự án được triển khai tại các huyện Đồng Văn, Mèo Vạc, Yên Minh và Quản Bạ trong giai đoạn 2021 - 2025, là những địa bàn có điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, mùa đông rét đậm kéo dài, địa hình chia cắt mạnh và tỷ lệ hộ nghèo ở mức cao.
Là một trong những địa phương có điều kiện tự nhiên khó khăn nhất cả nước, Hà Giang có trên 40% dân số sinh sống ở khu vực miền núi cao với địa hình chia cắt mạnh. Theo báo cáo của địa phương, tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh năm 2021 ở mức trên 43 phần trăm, riêng các huyện Đồng Văn, Mèo Vạc, Yên Minh và Quản Bạ đều thuộc nhóm có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất cả nước. Trong bối cảnh đó, việc triển khai Dự án đa dạng hóa sinh kế và phát triển mô hình giảm nghèo bền vững tại các huyện nghèo tỉnh Hà Giang giai đoạn 2021 - 2025 đã trở thành điểm tựa quan trọng cho hàng nghìn hộ nghèo, trong đó phụ nữ dân tộc thiểu số là lực lượng tham gia chủ yếu.
Giai đoạn 2021 - 2024, dự án đã hỗ trợ trực tiếp cho trên 3.000 hộ nghèo và cận nghèo tại bốn huyện nói trên, trong đó phụ nữ chiếm trên 60% số người tham gia các mô hình sinh kế. Riêng mô hình chăn nuôi bò sinh sản thích ứng rét đậm được triển khai tại hơn 120 thôn bản, với trên 1.500 con bò giống được hỗ trợ, qua đó góp phần nâng thu nhập bình quân của hộ tham gia tăng từ 20 - 30 triệu đồng mỗi năm so với trước khi tham gia dự án.
Song song với đó, các mô hình trồng cây dược liệu bản địa như đương quy, cát cánh dưới tán rừng được triển khai trên diện tích hàng trăm héc ta tại các xã vùng cao. Theo đánh giá của ngành nông nghiệp địa phương, thu nhập từ trồng dược liệu đạt từ 80 - 120 triệu đồng mỗi héc ta mỗi năm, cao gấp nhiều lần so với trồng ngô trên đất dốc. Đáng chú ý, trên 70% lao động trực tiếp tham gia các mô hình này là phụ nữ dân tộc thiểu số, qua đó tạo việc làm ổn định, hạn chế tình trạng di cư lao động tự do và tăng vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình.
Một kết quả quan trọng khác của dự án là việc hình thành và duy trì các tổ hợp tác phụ nữ gắn với sinh kế thích ứng biến đổi khí hậu. Tính đến cuối năm 2024, tại bốn huyện Đồng Văn, Mèo Vạc, Yên Minh và Quản Bạ đã thành lập trên 80 tổ hợp tác và nhóm liên kết sản xuất do phụ nữ làm nòng cốt. Thông qua các tổ chức này, phụ nữ được tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi từ Ngân hàng Chính sách xã hội, với dư nợ cho vay bình quân mỗi hộ từ 50 - 100 triệu đồng, đồng thời được tập huấn kỹ thuật sản xuất, quản lý tài chính và phòng tránh rủi ro thiên tai.
Điểm nổi bật của mô hình tại Hà Giang không chỉ nằm ở việc lựa chọn sinh kế phù hợp mà còn ở cách thức tổ chức thực hiện. Thông qua việc thành lập các tổ hợp tác phụ nữ, dự án đã tạo điều kiện để phụ nữ tham gia quản lý, chia sẻ kinh nghiệm sản xuất, tiếp cận vốn vay ưu đãi và liên kết tiêu thụ sản phẩm. Từ chỗ là đối tượng thụ hưởng thụ động, nhiều phụ nữ đã trở thành chủ thể tổ chức sản xuất, từng bước nâng cao vị thế trong gia đình và cộng đồng.
Từ thực tiễn Hà Giang có thể rút ra bài học quan trọng rằng sinh kế thích ứng biến đổi khí hậu chỉ thực sự bền vững khi gắn với tri thức bản địa, điều kiện sinh thái và vai trò chủ thể của phụ nữ. Đây cũng là định hướng xuyên suốt trong triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững tại nhiều địa phương khác.
Ở các vùng khó khăn, khi phụ nữ được tiếp cận đầy đủ thông tin, được đào tạo kỹ thuật và hỗ trợ tổ chức sản xuất, hiệu quả giảm nghèo được nâng lên rõ rệt. Các mô hình sinh kế không chỉ mang lại thu nhập mà còn góp phần thay đổi tư duy sản xuất, từ manh mún sang liên kết, từ ngắn hạn sang dài hạn và từ đối phó sang chủ động thích ứng.
Một yếu tố quan trọng làm nên thành công của các mô hình sinh kế thích ứng là sự lồng ghép đồng bộ giữa hỗ trợ sinh kế với đào tạo kỹ năng và nâng cao năng lực quản lý cho phụ nữ. Tại Hà Giang, cùng với hỗ trợ giống, vật tư và kỹ thuật, phụ nữ còn được tập huấn về quản lý tài chính hộ gia đình, lập kế hoạch sản xuất và phòng tránh rủi ro thiên tai. Điều này giúp các hộ gia đình không chỉ tăng thu nhập mà còn biết tích lũy, tái đầu tư và chủ động ứng phó với biến động khí hậu.
Bên cạnh đó, việc gắn sinh kế với bảo vệ rừng và sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên đã tạo ra hiệu quả kép, vừa giảm nghèo vừa bảo vệ môi trường sinh thái. Các mô hình trồng dược liệu dưới tán rừng tại Hà Giang cho thấy bảo vệ rừng không làm giảm thu nhập, trái lại còn mở ra hướng phát triển kinh tế mới phù hợp với điều kiện vùng cao.
Tuy nhiên, để các mô hình sinh kế thích ứng biến đổi khí hậu thực sự lan tỏa và bền vững, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế chính sách và tăng cường nguồn lực đầu tư. Trước hết, cần nhân rộng các mô hình đã chứng minh hiệu quả như mô hình đa dạng hóa sinh kế tại Hà Giang sang các địa bàn có điều kiện tương đồng, đồng thời xây dựng bộ tiêu chí đánh giá cụ thể về hiệu quả kinh tế, xã hội và khả năng thích ứng khí hậu.
Cùng với đó, cần đẩy mạnh liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị, tạo đầu ra ổn định cho sản phẩm của phụ nữ vùng khó khăn. Việc kết nối với doanh nghiệp, hợp tác xã và thị trường tiêu thụ sẽ giúp các mô hình sinh kế giảm thiểu rủi ro về giá cả và nâng cao giá trị sản phẩm.
Ngoài ra, công tác truyền thông và nhân rộng điển hình cần được chú trọng hơn nữa. Những câu chuyện thực tiễn từ các huyện nghèo của Hà Giang, nơi phụ nữ dân tộc thiểu số đã vươn lên thoát nghèo nhờ sinh kế thích ứng biến đổi khí hậu, cần được lan tỏa để tạo động lực và niềm tin cho các địa phương khác.
Giảm nghèo bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu là quá trình lâu dài, đòi hỏi cách tiếp cận toàn diện, lấy con người làm trung tâm và sinh kế thích ứng làm trụ cột. Thực tiễn từ Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững, đặc biệt là mô hình đa dạng hóa sinh kế tại các huyện nghèo tỉnh Hà Giang, cho thấy nếu khi phụ nữ được trao cơ hội, được hỗ trợ đúng cách và được đặt vào vị trí chủ thể, sẽ góp phần giảm nghèo bền vững và lan tỏa sâu rộng.
Đó cũng chính là con đường để giảm nghèo không dừng lại ở những con số thống kê mà trở thành động lực phát triển lâu dài, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống ở vùng khó khăn và củng cố niềm tin của người dân vào chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trong giai đoạn phát triển mới./.
Thanh Tâm
Tin tức cùng chuyên mục
Bài viết cùng tác giả