Tập huấn công tác rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ
thoát nghèo cuối năm 2026 và giai đoạn 2027-2030 trên địa bàn tỉnh.
Giảm nghèo gắn với phát triển sinh kế
Trên cơ sở các văn bản chỉ đạo của Trung ương và của tỉnh, các cấp, các ngành đã lồng ghép mục tiêu, nhiệm vụ giảm nghèo vào kế hoạch phát triển của từng ngành, cơ quan, đơn vị, đồng thời gắn với việc triển khai các Chương trình MTQG. Cùng với hỗ trợ trực tiếp, tỉnh Tuyên Quang tập trung tạo sinh kế và nâng cao khả năng tự vươn lên của người dân. Nhiều nội dung được triển khai như phát triển kinh tế tập thể, xây dựng và nhân rộng mô hình tổ hợp tác, hợp tác xã; khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn; hỗ trợ giao khoán, bảo vệ và phát triển rừng; cải tạo vườn tạp, phát triển kinh tế vườn hộ. Đây là những hướng đi có ý nghĩa trong việc tạo việc làm, nâng cao thu nhập và từng bước giảm sự phụ thuộc của người dân vào các chính sách hỗ trợ.
Trong quá trình thực hiện, các sở, ban, ngành, địa phương đã chủ động phối hợp, thống nhất phương án triển khai; đồng thời thường xuyên kiểm tra, giám sát tại cơ sở để nắm bắt tiến độ, phát hiện khó khăn, vướng mắc để kịp thời tháo gỡ. Công tác tuyên truyền, phổ biến chủ trương, chính sách về giảm nghèo cũng được đẩy mạnh, góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với công tác giảm nghèo.
Theo kết quả rà soát hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2022-2025, đầu năm 2022, toàn tỉnh Tuyên Quang có 170.398 hộ nghèo và cận nghèo, tỷ lệ nghèo đa chiều là 42,46%, trong đó hộ nghèo chiếm 32,18% và hộ cận nghèo chiếm 10,28%. Đến cuối năm 2025, số hộ nghèo và cận nghèo còn 93.551 hộ, chiếm 22,91%. Tỷ lệ nghèo đa chiều giai đoạn 2022-2025 giảm bình quân 4,89%/năm, giảm 19,55% so với năm 2022 và vượt mục tiêu kế hoạch đề ra.
Cùng với đó, hệ thống hạ tầng tại các địa bàn nghèo cũng từng bước được quan tâm đầu tư; 100% huyện nghèo trước đây được hỗ trợ đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội liên kết vùng. Các công trình phục vụ dân sinh, sản xuất, thương mại, lưu thông hàng hóa và cung cấp dịch vụ xã hội cơ bản được ưu tiên, trong đó chú trọng các dự án giao thông có tính liên kết và phạm vi tác động lớn đến phát triển kinh tế - xã hội.
Việc đầu tư hạ tầng, hỗ trợ sản xuất và mở rộng tiếp cận các chính sách an sinh đã tạo điều kiện để người dân cải thiện cuộc sống. Người nghèo từng bước tiếp cận tốt hơn các dịch vụ xã hội cơ bản như y tế, giáo dục, nhà ở, nước sinh hoạt và thông tin. Các chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất, đào tạo nghề, giải quyết việc làm, tín dụng ưu đãi… cũng được chú trọng triển khai, góp phần hỗ trợ các hộ dân, nhất là hộ đồng bào dân tộc thiểu số có thêm điều kiện ổn định cuộc sống và vươn lên thoát nghèo.
Tập trung tạo sinh kế, hạn chế tái nghèo
Bên cạnh những kết quả đạt được, Tuyên Quang cũng xác định giảm nghèo là nhiệm vụ lâu dài với không ít thách thức. Đến cuối năm 2025, tỷ lệ nghèo đa chiều của tỉnh ở mức 22,9%, tương ứng khoảng 93.551 hộ nghèo đa chiều theo chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2022-2025. Toàn tỉnh còn 60/124 xã, phường có tỷ lệ nghèo đa chiều trên 30%; 84/124 xã thuộc khu vực III. Đáng chú ý, có 94,06% tỷ lệ hộ nghèo tập trung ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, cho thấy sự chênh lệch giữa các khu vực vẫn còn lớn và nguy cơ tái nghèo còn cao.
Ở một số địa bàn, công tác tuyên truyền chưa được quan tâm thường xuyên; một bộ phận cán bộ cơ sở và người dân còn tâm lý trông chờ, ỷ lại vào chính sách hỗ trợ. Một số xã có tỷ lệ nghèo giảm chưa tương xứng với nguồn lực đầu tư. Nguồn thu ngân sách còn hạn hẹp, đời sống kinh tế của người dân còn thấp so với mức bình quân chung của cả nước. Tại một số xã vùng sâu, vùng xa và vùng đồng bào dân tộc thiểu số, phát triển kinh tế - xã hội chưa đồng đều; tập quán sản xuất chậm thay đổi, sản xuất nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, giá trị gia tăng thấp, khả năng tích lũy của người dân hạn chế. Trong khi đó, các mô hình sinh kế phi nông nghiệp chưa nhiều, khiến việc đa dạng hóa nguồn thu nhập còn gặp khó khăn.
Cùng với đó, việc tổ chức thực hiện Chương trình tại cơ sở cũng còn những điểm cần khắc phục. Một số văn bản hướng dẫn còn chậm; một số chính sách giữa các chương trình có sự chồng chéo, nhất là trong phát triển sản xuất, đào tạo nghề và hỗ trợ người lao động đi làm việc ở nước ngoài. Năng lực của một bộ phận cán bộ làm công tác giảm nghèo tại các xã vùng sâu, vùng xa còn hạn chế; trong khi một bộ phận người dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số còn gặp khó khăn trong tiếp cận chính sách, thay đổi phương thức sản xuất và sử dụng các dịch vụ xã hội cơ bản.
Bước vào giai đoạn 2026-2030, Tuyên Quang xác định tiếp tục thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững theo cách tiếp cận đa chiều, duy trì giảm tỷ lệ nghèo đa chiều bình quân từ 3%/năm trở lên; phấn đấu đưa tỷ lệ hộ nghèo đa chiều vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi xuống dưới 10%, hạn chế thấp nhất tình trạng tái nghèo; tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi cơ bản không còn xã, thôn đặc biệt khó khăn.
Để thực hiện các mục tiêu này, tỉnh tiếp tục đề cao vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền các cấp; xác định giảm nghèo là nhiệm vụ trọng tâm trong xây dựng và thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Cùng với đó, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội trong việc tuyên truyền, vận động, giám sát và huy động nguồn lực chăm lo người nghèo, hỗ trợ đoàn viên, hội viên thay đổi phương thức sản xuất, tiếp cận vốn và phát triển kinh tế.
Với nền tảng kết quả đạt được trong giai đoạn 2021-2025, cùng định hướng ưu tiên tạo việc làm, phát triển sinh kế, nâng cao năng lực sản xuất và mở rộng khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, Tuyên Quang đang từng bước tạo nền tảng cho giai đoạn giảm nghèo mới. Trọng tâm không chỉ là giảm số hộ nghèo, mà quan trọng hơn là giúp người dân có điều kiện nâng cao thu nhập, tự chủ sinh kế và hạn chế nguy cơ tái nghèo, qua đó góp phần bảo đảm an sinh xã hội và phát triển kinh tế - xã hội bền vững./.
Minh Hương
Tin tức cùng chuyên mục
Bài viết cùng tác giả