Tiếng Việt
Tiếng Việt Tiếng Anh

Nâng cao ý thức tự hào dân tộc cho sinh viên các trường đại học trong kỷ nguyên số hiện nay

Ngày đăng: 16/10/2026   11:57
Đọc bài viết
Mặc định Cỡ chữ
Tóm tắt: Trong kỷ nguyên số, nâng cao ý thức tự hào dân tộc cho sinh viên đại học có ý nghĩa quan trọng đối với việc phát huy giá trị văn hóa, củng cố bản lĩnh và trách nhiệm công dân. Bài viết làm rõ cơ sở lý luận về ý thức tự hào dân tộc, khái quát những biểu hiện và vấn đề đặt ra trong môi trường số, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao nhận thức lịch sử, đổi mới giáo dục lý tưởng, phát huy vai trò của văn hóa số, tăng cường năng lực chọn lọc thông tin và gắn niềm tự hào dân tộc với hành động thực tiễn của sinh viên.

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên số, nâng cao ý thức tự hào dân tộc cho sinh viên đại học có ý nghĩa quan trọng đối với việc phát huy giá trị văn hóa, củng cố bản lĩnh và trách nhiệm công dân. Bài viết làm rõ cơ sở lý luận về ý thức tự hào dân tộc, khái quát những biểu hiện và vấn đề đặt ra trong môi trường số, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao nhận thức lịch sử, đổi mới giáo dục lý tưởng, phát huy vai trò của văn hóa số, tăng cường năng lực chọn lọc thông tin và gắn niềm tự hào dân tộc với hành động thực tiễn của sinh viên.

Từ khóa: Giáo dục lý tưởng; kỷ nguyên số; sinh viên đại học; tự hào dân tộc; văn hóa số.

Abstract: In the digital era, fostering national pride among university students is important for promoting cultural values and strengthening their political steadfastness and civic responsibility. This article clarifies the theoretical foundations of national pride, outlines its manifestations and the issues arising in the digital environment, and proposes solutions to enhance historical awareness, renew ideological education, promote the role of digital culture, strengthen information literacy and selection skills, and connect students’ national pride with practical action.

Keywords: Ideological education; digital era; university students; national pride; digital culture.

Trong bối cảnh hiện nay, sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ và mạng xã hội mở rộng cơ hội tiếp cận tri thức, giao lưu văn hóa, đồng thời đặt ra yêu cầu mới về việc gìn giữ bản sắc, phát huy giá trị dân tộc, lòng tự hào dân tộc. Đối với sinh viên đại học, ý thức tự hào dân tộc không chỉ thể hiện ở nhận thức về lịch sử, truyền thống; mà còn ở trách nhiệm học tập, sáng tạo và ứng xử có văn hóa trong môi trường số. Vì vậy, nâng cao ý thức tự hào dân tộc cho sinh viên là yêu cầu cấp thiết khách quan trong giáo dục đại học hiện nay.

Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Sinh viên Việt Nam lần thứ XI, nhiệm kỳ 2023-2028. (ảnh: Báo Nhân Dân)

1. Cơ sở lý luận về nâng cao ý thức tự hào dân tộc cho sinh viên đại học trong kỷ nguyên số

1.1. Khái niệm và biểu hiện của ý thức tự hào dân tộc

Ý thức tự hào dân tộc là một bộ phận của ý thức xã hội, thể hiện ở nhận thức, tình cảm và thái độ trân trọng của mỗi cá nhân đối với lịch sử, truyền thống, văn hóa, những giá trị, thành tựu của cộng đồng dân tộc mình. Ý thức này được hình thành, củng cố thông qua quá trình giáo dục, kế thừa di sản lịch sử, trải nghiệm thực tiễn và giao tiếp xã hội.

Đối với sinh viên đại học, ý thức tự hào dân tộc không chỉ là tình cảm gắn bó với quê hương, đất nước mà còn thể hiện ở nhận thức về giá trị dân tộc, ý thức gìn giữ bản sắc văn hóa, trách nhiệm đóng góp cho sự phát triển quốc gia. Là lực lượng trí thức trẻ, có khả năng và điều kiện tiếp cận nhanh nhạy với tri thức hiện đại và xu thế toàn cầu hóa, sinh viên đại học chính là một trong những chủ thể nòng cốt, tiên phong chuyển hóa niềm tự hào ấy thành hành động cụ thể. Điều đó được minh chứng qua nỗ lực học tập, nghiên cứu khoa học, tinh thần chủ động tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại trên nền tảng bản lĩnh dân tộc vững vàng, cũng như ý thức bảo vệ nền tảng tư tưởng, chủ quyền quốc gia trong không gian số.

Cần phân biệt ý thức tự hào dân tộc với lòng yêu nước hay ý thức tự tôn dân tộc. Lòng yêu nước nhấn mạnh tình cảm gắn bó và hành động vì đất nước; ý thức tự tôn dân tộc thể hiện sự nhận thức về phẩm giá, vị thế, giá trị của dân tộc; còn ý thức tự hào dân tộc là sự trân trọng những giá trị lịch sử, văn hóa, thành tựu của cộng đồng dân tộc, đồng thời được thể hiện thông qua thái độ và hành động cụ thể. Những nội dung này có quan hệ chặt chẽ, bổ sung cho nhau, góp phần hình thành bản lĩnh và trách nhiệm công dân.

Ý thức tự hào dân tộc của sinh viên được biểu hiện trên ba phương diện cơ bản: một là, nhận thức đúng đắn về lịch sử, truyền thống, văn hóa Việt Nam; hai là, tình cảm trân trọng, gắn bó với cộng đồng dân tộc; ba là, hành động có trách nhiệm trong học tập, nghiên cứu, lao động, sáng tạo, bảo vệ các giá trị văn hóa. Vì vậy, niềm tự hào dân tộc cần được xây dựng trên cơ sở hiểu biết lịch sử, tôn trọng sự thật và nhận thức khách quan về quá trình phát triển đất nước, tránh biểu hiện cảm tính, cực đoan hoặc chỉ dừng lại ở lời nói.

1.2. Vai trò của ý thức tự hào dân tộc đối với sinh viên đại học

Ý thức tự hào dân tộc góp phần hình thành lý tưởng sống, bản lĩnh và trách nhiệm xã hội của sinh viên. Ý thức tự hào dân tộc góp phần hình thành lý tưởng sống, bản lĩnh, trách nhiệm xã hội của sinh viên. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Dân ta phải biết sử ta, cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam” (Hồ Chí Minh, tập 3, 2011, tr.255). Lời căn dặn này khẳng định ý nghĩa của việc tìm hiểu lịch sử dân tộc trong bồi dưỡng nhận thức, tình cảm, trách nhiệm của mỗi người đối với đất nước. Khi nhận thức sâu sắc về lịch sử, truyền thống, hay những thành tựu của đất nước, sinh viên có cơ sở xác định trách nhiệm của bản thân đối với cộng đồng, từ đó hình thành động lực học tập, rèn luyện và cống hiến.

Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng đã nhấn mạnh yêu cầu phải tiếp tục: “Khơi dậy mạnh mẽ truyền thống yêu nước, khát vọng phát triển, tinh thần đoàn kết, ý chí tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc; phát huy sức mạnh văn hóa, con người thành nguồn lực nội sinh và động lực mạnh mẽ cho sự phát triển” (Đảng Cộng sản Việt Nam, tập I, 2026, tr.82). Quan điểm này đặt niềm tự hào dân tộc trong mối quan hệ với việc phát huy nguồn lực con người và động lực phát triển đất nước.

Đối với sinh viên, niềm tự hào dân tộc còn có ý nghĩa thúc đẩy tinh thần học tập, nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực nghề nghiệp. Giá trị của niềm tự hào dân tộc không chỉ nằm ở sự trân trọng những thành tựu đã đạt được mà còn ở ý thức tiếp nối truyền thống, khắc phục hạn chế, đóng góp vào sự phát triển trong tương lai. Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng xác định yêu cầu: “Tăng cường giáo dục thế hệ trẻ Việt Nam về lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống, lòng yêu nước, tự hào dân tộc, nuôi dưỡng ước mơ, hoài bão, ý chí, khát vọng cống hiến, nêu cao trách nhiệm đối với đất nước, xã hội” (Đảng Cộng sản Việt Nam, tập I, 2026, tr. 124). Đây là cơ sở định hướng việc gắn giáo dục tự hào dân tộc với phát triển lý tưởng sống và trách nhiệm thực tiễn của sinh viên.

Bên cạnh đó, ý thức tự hào dân tộc góp phần gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế. Sinh viên cần có khả năng tiếp thu tri thức, thành tựu khoa học và những giá trị tiến bộ của nhân loại, đồng thời hiểu biết và trân trọng các giá trị văn hóa dân tộc. Sự kết hợp giữa bản lĩnh văn hóa và năng lực hội nhập giúp sinh viên chủ động giới thiệu hình ảnh đất nước, con người Việt Nam, đồng thời đóng góp vào quá trình phát triển văn hóa trong điều kiện mới.

1.3. Những vấn đề đặt ra trong kỷ nguyên số

Kỷ nguyên số tạo điều kiện mở rộng khả năng tiếp cận tri thức lịch sử, di sản văn hóa và thông tin về đất nước. Thông qua các nền tảng trực tuyến, sinh viên có thể tham gia bảo tàng số, tìm hiểu tư liệu lịch sử, sáng tạo nội dung, lan tỏa các giá trị văn hóa Việt Nam. Tuy nhiên, môi trường số cũng đặt ra yêu cầu nâng cao năng lực kiểm chứng thông tin, tư duy phản biện và trách nhiệm khi tham gia truyền thông. Nếu thiếu kiến thức nền tảng và kỹ năng số, sinh viên có thể tiếp nhận thông tin phiến diện, bị tác động bởi nội dung sai lệch hoặc thể hiện niềm tự hào dân tộc theo phong trào mà chưa gắn với hành động thực tế.

Trước yêu cầu đó, Văn kiện Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh nhiệm vụ phát triển toàn diện con người Việt Nam về “ý thức dân tộc, trách nhiệm công dân [...] năng lực sáng tạo [...] kỹ năng sống, kỹ năng nghề nghiệp, kỹ năng số” (Đảng Cộng sản Việt Nam, tập I, 2026, tr.99). Đồng thời, Văn kiện cũng đặt ra yêu cầu xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, tiến bộ, văn minh trong gia đình, nhà trường, cộng đồng và trên không gian mạng. Những định hướng này cho thấy giáo dục ý thức tự hào dân tộc cần gắn với việc phát triển năng lực nhận thức, kỹ năng số và trách nhiệm văn hóa của người học. Vì vậy, giáo dục ý thức tự hào dân tộc trong kỷ nguyên số cần chuyển từ truyền đạt kiến thức đơn thuần sang kết hợp học tập với trải nghiệm, tương tác, sáng tạo nội dung, hoạt động cộng đồng. Quá trình này phải bảo đảm tính chính xác của tư liệu, khuyến khích trao đổi có căn cứ và gắn nhận thức với trách nhiệm công dân. Đây là cơ sở để xây dựng các giải pháp giáo dục phù hợp, góp phần hình thành niềm tự hào dân tộc dựa trên tri thức, bản lĩnh văn hóa, khát vọng cống hiến của sinh viên đại học.

 

 

2. Một số giải pháp nâng cao ý thức tự hào dân tộc cho sinh viên đại học trong kỷ nguyên số

Hiện nay, sự phát triển của công nghệ thông tin và các nền tảng truyền thông trực tuyến tạo điều kiện mở rộng khả năng tiếp cận lịch sử, văn hóa và những giá trị truyền thống của dân tộc đối với sinh viên đại học. Các tư liệu lịch sử số, bảo tàng trực tuyến, phim tư liệu, chương trình giáo dục, hoạt động truyền thông nhân các ngày lễ lớn góp phần đa dạng hóa phương thức giáo dục truyền thống. Sinh viên không chỉ tiếp nhận thông tin mà còn có thể tham gia sáng tạo nội dung, giới thiệu di sản, quảng bá hình ảnh đất nước và lan tỏa những giá trị tích cực đến cộng đồng. Đây là điều kiện thuận lợi để kết hợp giáo dục lý luận với các hoạt động trải nghiệm, qua đó củng cố nhận thức và tình cảm gắn bó với dân tộc.

Việc khai thác những lợi thế của công nghệ số trong giáo dục ý thức tự hào dân tộc cần gắn với các định hướng của Đảng về giáo dục thế hệ trẻ, phát huy giá trị văn hóa dân tộc. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh yêu cầu phát huy truyền thống yêu nước, niềm tự hào dân tộc và sức mạnh văn hóa, con người Việt Nam. Đặc biệt, xác định nhiệm vụ tăng cường giáo dục thế hệ trẻ về lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống, lòng yêu nước, tự hào dân tộc và trách nhiệm đối với đất nước, xã hội. Những định hướng này cho thấy giáo dục ý thức tự hào dân tộc cho sinh viên cần được đặt trong tổng thể nhiệm vụ phát triển con người, bồi dưỡng lý tưởng sống và khơi dậy khát vọng cống hiến.

Tuy nhiên, bên cạnh những điều kiện thuận lợi, môi trường số cũng đặt ra một số vấn đề cần quan tâm. Việc tiếp nhận thông tin nhanh nhưng thiếu kiểm chứng có thể khiến sinh viên hình thành nhận thức phiến diện về lịch sử, văn hóa… Trong một số trường hợp, sự thể hiện niềm tự hào dân tộc trên mạng xã hội có thể thiên về cảm xúc hoặc tương tác nhất thời, chưa gắn chặt với hiểu biết sâu sắc và hành động thực tiễn. Bên cạnh đó, nếu hoạt động giáo dục còn nặng về truyền đạt kiến thức, thiếu trải nghiệm, đối thoại, thì việc hình thành thái độ chủ động, năng lực phản biện, trách nhiệm công dân có thể chưa đạt hiệu quả như mong muốn. Đây là những vấn đề cần tiếp tục khảo sát, đánh giá trên cơ sở dữ liệu thực tế, không nên mặc nhiên xem là biểu hiện phổ biến ở toàn bộ sinh viên.

Những hạn chế này có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân: nội dung, phương pháp giáo dục ở một số trường chưa gắn kết đầy đủ với đặc điểm tiếp nhận thông tin của người học; hoạt động truyền thông giáo dục chưa khai thác hết tiềm năng của công nghệ số; năng lực kiểm chứng thông tin, sáng tạo nội dung có trách nhiệm của sinh viên chưa đồng đều; sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và các tổ chức đoàn thể của sinh viên có thể chưa thường xuyên. Từ những vấn đề đặt ra, cần triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm đổi mới nội dung, phương thức giáo dục, phát huy vai trò chủ thể của sinh viên, đồng thời gắn ý thức tự hào dân tộc với năng lực số và trách nhiệm cống hiến trong thực tiễn.

Một là, đổi mới giáo dục lịch sử, truyền thống, giá trị văn hóa dân tộc theo hướng dễ tiếp cận, giàu trải nghiệm.

Giáo dục lịch sử và truyền thống cần giúp sinh viên hiểu được nguồn gốc, quá trình hình thành, phát triển của dân tộc, những giá trị văn hóa được kế thừa qua các thế hệ, trách nhiệm gìn giữ, phát huy các giá trị đó trong điều kiện mới. Để đạt mục tiêu này, các trường đại học cần kết hợp phương pháp giảng dạy trực tiếp với khai thác tư liệu số, phim tài liệu, bảo tàng trực tuyến, bản đồ tương tác và các nguồn dữ liệu lịch sử có độ tin cậy cao. Việc sử dụng công nghệ cần phục vụ mục tiêu làm sâu sắc nhận thức, không chỉ tạo hiệu ứng hình ảnh hoặc tăng tính hấp dẫn bề ngoài.

Bên cạnh đó, cần tăng cường các hoạt động tham quan di tích lịch sử, tìm hiểu truyền thống địa phương, giao lưu với nhân chứng lịch sử, thực hiện dự án học tập về di sản văn hóa. Sinh viên có thể được giao nhiệm vụ xây dựng hồ sơ số về một di tích, giới thiệu một nhân vật lịch sử hoặc nghiên cứu sự biến đổi của một giá trị văn hóa trong đời sống đương đại. Những hoạt động này tạo điều kiện để người học chủ động tìm kiếm, xử lý, trình bày thông tin, đồng thời kết nối kiến thức với trải nghiệm thực tế. Quá trình tổ chức phải bảo đảm tính chính xác của tư liệu, tôn trọng sự thật lịch sử, khuyến khích sinh viên tiếp cận các vấn đề bằng tinh thần khoa học. Qua đó, ý thức tự hào dân tộc được hình thành trên cơ sở hiểu biết, nhận thức và sự trân trọng có chiều sâu.

Hai là, tích hợp giáo dục ý thức tự hào dân tộc vào chương trình đào tạo cũng như hoạt động giáo dục của nhà trường.

Nâng cao ý thức tự hào dân tộc không nên chỉ được thực hiện thông qua các đợt sinh hoạt chính trị hoặc hoạt động kỷ niệm theo thời điểm, mà cần trở thành nội dung có tính liên tục trong quá trình giáo dục sinh viên. Các trường đại học cần lựa chọn hình thức tích hợp phù hợp vào các học phần lý luận chính trị, lịch sử, văn hóa, pháp luật và những hoạt động kỹ năng sống. Nội dung triển khai phải phù hợp với mục tiêu của từng học phần, tránh lồng ghép hình thức hoặc làm giảm tính chuyên môn của chương trình đào tạo.

Giảng viên cần chuyển từ cách truyền đạt chủ yếu yêu cầu ghi nhớ sang tổ chức thảo luận, phân tích tình huống, xử lý vấn đề và liên hệ thực tiễn. Sinh viên có thể trao đổi về ý nghĩa của các giá trị lịch sử, trách nhiệm của thế hệ trẻ trong bảo tồn di sản hoặc vai trò của tri thức, khoa học - công nghệ đối với sự phát triển đất nước. Cùng với đó, cần phát huy vai trò của đội ngũ cố vấn học tập, tổ chức Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên, các câu lạc bộ trong tổ chức hoạt động tìm hiểu lịch sử, văn hóa và trách nhiệm cộng đồng.

Những giải pháp đồng bộ này cũng chính là sự cụ thể hóa sâu sắc tinh thần chỉ đạo trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng về việc giáo dục lòng yêu nước, tự hào dân tộc, nuôi dưỡng khát vọng cống hiến và nâng cao trách nhiệm của thế hệ trẻ đối với đất nước, xã hội. Quán triệt định hướng này, các cơ sở đào tạo cần xây dựng kế hoạch giáo dục có mục tiêu, nội dung, tiêu chí đánh giá rõ ràng; đồng thời tăng cường phối hợp giữa các đơn vị để bảo đảm sự thống nhất giữa giáo dục trong lớp học và hoạt động ngoại khóa. Qua đó, ý thức tự hào dân tộc được củng cố thường xuyên, gắn với quá trình hình thành nhân cách, lý tưởng sống, trách nhiệm công dân của sinh viên.

Ba là, phát huy vai trò của sinh viên trong sáng tạo và lan tỏa nội dung tích cực về đất nước trên môi trường số.

Trong môi trường truyền thông số, sinh viên không chỉ là người tiếp nhận mà còn là chủ thể sáng tạo chia sẻ, lan tỏa thông tin. Vì vậy, các trường đại học cần khuyến khích sinh viên sử dụng kiến thức chuyên ngành, kỹ năng truyền thông và công nghệ để giới thiệu lịch sử, văn hóa, con người và những thành tựu phát triển của Việt Nam. Các hình thức có thể triển khai gồm video ngắn, podcast, bài viết, triển lãm trực tuyến, các dự án truyền thông về di sản lịch sử, văn hóa địa phương. Nội dung cần được xây dựng bằng ngôn ngữ phù hợp với người trẻ, có sức hấp dẫn nhưng vẫn bảo đảm tính chính xác, chiều sâu và trách nhiệm xã hội.

Đồng thời, các cơ sở đào tạo cần chủ động tạo sân chơi thông qua các cuộc thi thiết kế sản phẩm truyền thông số, ngày hội văn hóa, dự án quảng bá di sản, qua đó tạo cơ hội để sinh viên vận dụng kiến thức vào sản phẩm cụ thể. Quá trình này cần kết hợp giữa sự chủ động sáng tạo của người học với hướng dẫn chuyên môn của giảng viên. Đối với những nội dung liên quan đến lịch sử, nhân vật, sự kiện, di sản văn hóa, cần có quy trình kiểm tra nguồn, xác minh dữ liệu và tôn trọng bản quyền. Đồng thời, nên khuyến khích sinh viên trình bày những câu chuyện có căn cứ, phản ánh chân thực đời sống, thành tựu của đất nước, tránh chạy theo lượt xem hoặc sử dụng thông tin gây tranh cãi để thu hút sự chú ý. Qua những hoạt động đó, sinh viên chủ động tìm hiểu, lan tỏa những giá trị văn hóa dân tộc đến cộng đồng, nâng cao niềm tự hào dân tộc và tinh thần trách nhiệm của người trẻ trong kỷ nguyên số.

Bốn là, nâng cao năng lực số, tư duy phản biện, khả năng nhận diện thông tin sai lệch cho sinh viên.

Nâng cao năng lực số, tư duy phản biện và khả năng nhận diện thông tin sai lệch là một yêu cầu quan trọng trong quá trình giáo dục ý thức tự hào dân tộc cho sinh viên hiện nay. Định hướng này gắn với yêu cầu phát triển con người Việt Nam toàn diện được Văn kiện Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh, chú trọng bồi dưỡng ý thức dân tộc, trách nhiệm công dân và nâng cao năng lực thích ứng với sự phát triển của khoa học - công nghệ. Từ quan điểm này, việc giáo dục sinh viên cần hướng đến hình thành khả năng tiếp nhận, đánh giá, kiểm chứng thông tin một cách chủ động, có căn cứ. Mục tiêu không chỉ là hạn chế tác động của thông tin sai lệch mà còn giúp sinh viên xây dựng niềm tự hào dân tộc dựa trên tri thức, khả năng phân tích và nhận thức khách quan. Từ đó, tình cảm dân tộc được củng cố bằng hiểu biết trên cơ sở hiểu biết đúng đắn về lịch sử, truyền thống đất nước, đồng thời, giúp sinh viên có thái độ tôn trọng sự khác biệt về văn hóa, chủ động tham gia giao lưu, hợp tác quốc tế.

Nâng cao ý thức tự hào dân tộc trong môi trường số cần đi đôi với phát triển năng lực tiếp nhận và đánh giá thông tin. Sinh viên cần được trang bị phương pháp xác định nguồn phát hành, kiểm tra thời điểm công bố, đối chiếu dữ kiện giữa các nguồn đáng tin cậy, phân biệt thông tin thực tế với nhận xét chủ quan. Đối với các nội dung liên quan đến lịch sử, văn hóa và những vấn đề xã hội, cần đặc biệt chú ý hiện tượng cắt ghép hình ảnh, sử dụng tư liệu không đúng bối cảnh hoặc lan truyền thông tin chưa được kiểm chứng.

Các trường đại học nên đưa nội dung kỹ năng số và trách nhiệm truyền thông vào hoạt động giáo dục, thông qua bài tập phân tích nguồn tin, thảo luận tình huống và thực hành kiểm chứng thông tin. Sinh viên cần được hướng dẫn cách sử dụng ngôn ngữ có trách nhiệm, tranh luận dựa trên bằng chứng, phản hồi những quan điểm khác biệt bằng lập luận phù hợp. Khi gặp thông tin chưa rõ độ tin cậy, người học cần biết cách tạm dừng chia sẻ, tìm kiếm nguồn đối chiếu và tham khảo ý kiến chuyên môn thay vì phản ứng chỉ dựa trên cảm xúc.

Năm là, gắn ý thức tự hào dân tộc với trách nhiệm học tập, sáng tạo và cống hiến của sinh viên.

Ý thức tự hào dân tộc chỉ phát huy đầy đủ ý nghĩa khi được chuyển hóa thành động lực hành động. Vì vậy, các trường đại học cần tạo điều kiện để sinh viên thể hiện trách nhiệm với đất nước thông qua học tập, nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo, hoạt động tình nguyện, bảo vệ môi trường và bảo tồn di sản văn hóa. Các dự án phục vụ cộng đồng nên được thiết kế gắn với chuyên ngành đào tạo, giúp sinh viên vận dụng kiến thức, kỹ năng để giải quyết những vấn đề cụ thể của đời sống. Chẳng hạn, sinh viên công nghệ có thể xây dựng sản phẩm số giới thiệu di tích lịch sử; sinh viên ngành truyền thông có thể thực hiện chiến dịch quảng bá văn hóa; sinh viên các ngành kinh tế, giáo dục hoặc môi trường có thể đề xuất sáng kiến phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

Nhà trường cần khuyến khích tinh thần chủ động, khả năng hợp tác, đồng thời tạo môi trường để sinh viên đề xuất sáng kiến và phát triển năng lực cá nhân. Việc đánh giá hiệu quả giáo dục ý thức tự hào dân tộc không nên chỉ căn cứ vào mức độ tham gia phong trào hay biểu hiện cảm xúc, mà cần chú trọng kết quả thực hiện, chất lượng sản phẩm, tính sáng tạo và giá trị đóng góp cho cộng đồng.

Bên cạnh đó, cần xây dựng cơ chế phối hợp giữa nhà trường, gia đình, các tổ chức đoàn thể của sinh viên, doanh nghiệp, các tổ chức xã hội nhằm mở rộng cơ hội trải nghiệm, thực hành của sinh viên. Kết quả hoạt động cần được phản hồi, tổng kết và sử dụng làm căn cứ điều chỉnh nội dung giáo dục. Khi được đặt trong môi trường thực tiễn thì ý thức tự hào dân tộc không chỉ là nhận thức hay tình cảm mà còn trở thành động lực tự hoàn thiện, nâng cao năng lực nghề nghiệp và đóng góp cho sự phát triển bền vững của đất nước.

Nâng cao ý thức tự hào dân tộc cho sinh viên đại học trong kỷ nguyên số có ý nghĩa quan trọng đối với việc phát triển con người Việt Nam, gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc và khơi dậy khát vọng cống hiến xây dựng, phát triển đất nước. Quá trình này cần kết hợp giáo dục lịch sử, đổi mới hoạt động đào tạo, phát huy sáng tạo nội dung số, nâng cao năng lực kiểm chứng thông tin, gắn nhận thức với hành động thực tiễn. Việc triển khai đồng bộ các giải pháp, phù hợp với đặc điểm người học và điều kiện từng cơ sở đào tạo sẽ góp phần hình thành niềm tự hào dân tộc dựa trên tri thức, trách nhiệm công dân và tinh thần chủ động đóng góp vào sự phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới./.

--------------------------------------

Tài liệu tham khảo:

1. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 3, Nxb CTQG-ST, H.2011, tr.255.

2, 3, 4. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội ĐBTQ lần thứ XIV, tập I, Nxb CTQG-ST, H.2026, tr.82; tr.124, tr.99.

5. Phạm Thị Phượng (2024), Sự cần thiết giáo dục lòng yêu nước và ý thức trách nhiệm xã hội cho sinh viên hiện nay, Tạp chí Khoa học, (01/19), 127-136.

6. Nguyễn Thùy Dương và Trần Bích Ngọc (2025), Giải pháp giáo dục lòng yêu nước, ý thức dân tộc cho thế hệ trẻ Việt Nam trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, Tạp chí Giáo dục, 25(5), 407-412.

ThS Trần Thị Hà My - Viện Triết học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam

ThS Đinh Văn Hoàng - Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương

.

Bài viết cùng tác giả