Hỗ
trợ mô hình sinh kế tại xã Vĩnh Tuy, giúp người dân vươn lên thoát
nghèo bền vững.
Đặt công tác giảm nghèo trong nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội
Triển khai thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Ban Bí thư, Nghị quyết số 160/NQ-CP của Chính phủ và Kế hoạch số 136-KH/TU ngày 26/5/2026 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giảm nghèo bền vững đến năm 2030, tỉnh Tuyên Quang đặt mục tiêu tiếp tục thực hiện giảm nghèo theo cách tiếp cận đa chiều, hạn chế tái nghèo và phát sinh nghèo, bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao thu nhập và chất lượng cuộc sống của người dân.
Đáng chú ý, tỉnh phấn đấu duy trì mức giảm tỷ lệ nghèo đa chiều bình quân từ 3%/năm trở lên; giảm tỷ lệ hộ nghèo đa chiều vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi xuống dưới 10%. Đồng thời, Tuyên Quang hướng tới mục tiêu vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi cơ bản không còn xã, thôn đặc biệt khó khăn vào năm 2030.
Một trong những điểm nhấn trong định hướng của Tuyên Quang là tiếp tục nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền, các cơ quan, đơn vị đối với công tác giảm nghèo. Tỉnh xác định giảm nghèo không chỉ là nhiệm vụ của riêng ngành chuyên môn mà là trách nhiệm chung của cả hệ thống chính trị, được triển khai đồng bộ từ tỉnh đến cơ sở. Các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền được yêu cầu tiếp tục quán triệt sâu sắc quan điểm giảm nghèo bền vững là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, thường xuyên và lâu dài. Mục tiêu, chỉ tiêu giảm nghèo phải được xác định cụ thể trong nghị quyết, chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hằng năm và từng giai đoạn.
Cùng với đó, tỉnh đề cao trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, thủ trưởng cơ quan, đơn vị đối với kết quả giảm nghèo trên địa bàn, lĩnh vực phụ trách. Kết quả thực hiện công tác giảm nghèo được xác định là một trong những tiêu chí đánh giá, xếp loại chất lượng tập thể, cá nhân hằng năm. Việc phân công trách nhiệm cụ thể cho từng tổ chức, cá nhân từ cấp tỉnh đến cơ sở cũng nhằm bảo đảm công tác giảm nghèo có địa chỉ, có người chịu trách nhiệm và có cơ chế theo dõi kết quả.
Tuyên Quang cũng chú trọng đổi mới phương thức quản lý, điều hành công tác giảm nghèo. Việc ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng hệ thống báo cáo số, cập nhật thông tin theo thời gian thực được xác định là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả theo dõi, đánh giá. Các cuộc giao ban chuyên đề về giảm nghèo sẽ được tổ chức định kỳ để kịp thời nhận diện khó khăn, vướng mắc và tháo gỡ ngay từ cơ sở.
Cùng với nâng cao hiệu quả chỉ đạo, công tác tuyên truyền tiếp tục được xác định là giải pháp quan trọng. Tỉnh yêu cầu các cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội đẩy mạnh phổ biến chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về giảm nghèo tới cán bộ, đảng viên và nhân dân. Trọng tâm tuyên truyền không chỉ là giúp người dân hiểu và tiếp cận chính sách mà còn khơi dậy ý chí tự lực, tự cường, chủ động vươn lên. Tư duy “hỗ trợ người nghèo” từng bước được chuyển sang “trao cơ hội thoát nghèo bền vững”, trong đó người nghèo được tạo điều kiện về sinh kế, việc làm, đào tạo nghề, vốn, thông tin và các dịch vụ xã hội để phát huy năng lực của chính mình.
Đặc biệt, tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, vùng sâu, vùng xa, công tác giảm nghèo được gắn với giảm nghèo về thông tin. Việc tạo điều kiện để hộ nghèo tiếp cận phương tiện thông tin, dịch vụ viễn thông sẽ giúp người dân có thêm cơ hội tiếp cận kiến thức sản xuất, thị trường, việc làm và các chính sách hỗ trợ.
Huy động nguồn lực, tạo sinh kế để người dân vươn lên
Cùng với tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, Tuyên Quang xác định huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực là yếu tố quan trọng để thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững đến năm 2030. Theo kế hoạch, tỉnh tiếp tục lồng ghép nguồn lực từ các chương trình mục tiêu quốc gia, nhất là các chương trình về xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035, giai đoạn I từ năm 2026 đến năm 2030.
Nguồn lực được ưu tiên đầu tư cho kết cấu hạ tầng thiết yếu, nhất là giao thông liên thôn, liên xã, điện, nước sinh hoạt và hạ tầng số. Đây là những điều kiện có ý nghĩa trực tiếp đối với sản xuất và đời sống, giúp tăng khả năng kết nối giữa khu vực nông thôn với trung tâm kinh tế, vùng động lực phát triển, mở rộng giao thương hàng hóa, tiếp cận dịch vụ và công nghệ.
Cùng với nguồn lực nhà nước, tỉnh đẩy mạnh huy động sự tham gia của doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân, các nhà tài trợ và cộng đồng thông qua các phong trào, cuộc vận động ủng hộ Quỹ “Vì người nghèo”. Nguồn lực xã hội hóa được định hướng tập trung cho phát triển sản xuất, giáo dục nghề nghiệp, tạo việc làm, hỗ trợ sinh kế và đầu tư kết cấu hạ tầng tại những địa bàn còn khó khăn.
Trong đó, hỗ trợ sinh kế, đào tạo nghề và tạo việc làm được xem là những giải pháp có tính căn cơ để nâng cao thu nhập cho người nghèo. Các tổ chức chính trị - xã hội được khuyến khích xây dựng, nhân rộng mô hình hỗ trợ sinh kế, chuyển giao khoa học kỹ thuật, hỗ trợ vay vốn, phát triển sản xuất, kinh doanh; hướng dẫn người dân sử dụng hiệu quả các nguồn lực được hỗ trợ.
Tuyên Quang đồng thời chú trọng hỗ trợ người nghèo, hộ cận nghèo tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, ổn định sinh kế, phát triển sản xuất và tăng thu nhập. Việc rà soát nguyên nhân nghèo được đặt ra để có giải pháp phù hợp với từng nhóm đối tượng, từng địa bàn, hạn chế cách hỗ trợ dàn trải.
Để bảo đảm các chính sách đi vào thực chất, Tuyên Quang tiếp tục củng cố, kiện toàn Ban Chỉ đạo các chương trình mục tiêu quốc gia từ tỉnh đến cơ sở; nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác giảm nghèo. Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong vận động nguồn lực, hỗ trợ xóa nhà tạm, nhà dột nát, xây dựng mô hình sinh kế và giám sát thực hiện chính sách.
Cùng với triển khai các giải pháp, tỉnh tăng cường kiểm tra, giám sát, đánh giá thực trạng đời sống hộ nghèo để kịp thời điều chỉnh chính sách, giải pháp phù hợp. Việc sơ kết, tổng kết, biểu dương, khen thưởng những tập thể, cá nhân và hộ gia đình có thành tích trong công tác giảm nghèo cũng được thực hiện định kỳ.
Với cách tiếp cận lấy người dân làm chủ thể, lấy sinh kế và thu nhập làm nền tảng, đồng thời tăng cường trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền và huy động sự chung tay của toàn xã hội, Tuyên Quang đang từng bước tạo nền tảng cho mục tiêu giảm nghèo bền vững đến năm 2030. Qua đó, không chỉ giảm số hộ nghèo mà quan trọng hơn là nâng cao khả năng tự chủ của người dân, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng, bảo đảm an sinh xã hội và tạo động lực cho phát triển kinh tế - xã hội bền vững./.
Hồng Phượng
Tin tức cùng chuyên mục
Bài viết cùng tác giả