Từ khóa: Cán bộ, đảng viên; chăm lo bộ đội; niềm tin của bộ đội; tổ chức đảng ở cơ sở; xây dựng Đảng trong Quân đội.
Abstract: The absolute, direct, and comprehensive leadership of the Communist Party of Vietnam over the Vietnam People’s Army is a fundamental principle that determines the Army’s revolutionary nature, goals, fighting ideals, and strength. In practice, the quality of leadership is reflected not only in the issuance of policies and resolutions but also in the capacity to organize their implementation, the responsibilities of cadres and Party members, and tangible improvements at the grassroots level. This article clarifies the theoretical foundations of the relationship between the quality of Party organization leadership and soldiers’ trust; analyzes the practical implementation of Party policies, efforts to care for military personnel’s well-being, and emerging issues; and proposes solutions to establish service to soldiers as a practical standard in building grassroots Party organizations and developing cadres and Party members.
Keywords: Cadres and Party members; care for soldiers; soldiers’ trust; grassroots Party organizations; Party building in the military.
Ảnh
minh họa.
1. Đặt vấn đề
Quân đội nhân dân Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh thành lập, tổ chức, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện. Trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, sự lãnh đạo tuyệt đối về mọi mặt của Đảng là nhân tố quyết định bản chất cách mạng, mục tiêu, lý tưởng chiến đấu và sức mạnh của Quân đội. Quy định số 332-QĐ/TW ngày 24/6/2025 của Bộ Chính trị tiếp tục khẳng định nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội nhân dân Việt Nam thông qua hệ thống tổ chức đảng và các tổ chức, lực lượng có liên quan trong Quân đội(1).
Yêu cầu xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh đặt ra đòi hỏi ngày càng cao đối với năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XII, nhiệm kỳ 2025-2030 đã xác định rõ các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng và xây dựng Đảng bộ Quân đội; đồng thời yêu cầu nhanh chóng đưa nghị quyết vào thực tiễn(2). Đối với ngành Hậu cần - Kỹ thuật, yêu cầu đó gắn với việc kiện toàn tổ chức, nâng cao hiệu quả phối hợp và bảo đảm nhiệm vụ hậu cần, kỹ thuật thống nhất, liên tục trong toàn quân.
Trong đời sống đơn vị, bộ đội cảm nhận sự lãnh đạo của Đảng không chỉ qua chủ trương, nghị quyết mà còn qua cách tổ chức thực hiện, việc giải quyết công việc và thái độ, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên đối với họ. Một chế độ được bảo đảm đầy đủ, một khó khăn chính đáng được xử lý kịp thời, một việc khó được cán bộ, đảng viên chủ động nhận trách nhiệm đều góp phần củng cố niềm tin. Điều đó đặt ra yêu cầu xem xét chất lượng lãnh đạo từ kết quả thực hiện nhiệm vụ và những chuyển biến cụ thể trong đời sống bộ đội; đồng thời làm rõ trách nhiệm của tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên trong chuyển hóa chủ trương thành hành động thiết thực ở cơ sở.
2. Cơ sở lý luận về chất lượng lãnh đạo của tổ chức đảng và niềm tin của bộ đội
Sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội được thực hiện thông qua hệ thống tổ chức đảng, tổ chức chỉ huy, cơ quan chính trị và đội ngũ cán bộ, đảng viên. Vì vậy, giá trị của chủ trương, nghị quyết không chỉ nằm ở tính đúng đắn của nội dung mà còn được phản ánh qua chất lượng tổ chức thực hiện và kết quả đạt được ở cơ sở. Nghị quyết sát thực tiễn nhưng chậm được cụ thể hóa, nhiệm vụ đã giao nhưng trách nhiệm không rõ, hoặc báo cáo hoàn thành mà đời sống và công tác của bộ đội ít chuyển biến thì hiệu quả lãnh đạo khó được thể hiện đầy đủ. Chất lượng lãnh đạo do đó cần được xem xét trong mối quan hệ giữa chủ trương, tổ chức thực hiện, kiểm tra và kết quả thực tế.
Cán bộ, đảng viên là lực lượng trực tiếp chuyển chủ trương của Đảng thành hành động ở đơn vị quân đội. Uy tín của họ được hình thành từ sự gương mẫu, công tâm và khả năng giải quyết công việc, nhất là khi phát sinh nhiệm vụ khó hoặc vấn đề liên quan đến quyền lợi, đời sống của quân nhân. Nêu gương không dừng ở lời nói; điều có sức thuyết phục là thái độ có trách nhiệm, cách làm đúng nguyên tắc và kết quả cụ thể. Bởi vậy, niềm tin của bộ đội có quan hệ chặt chẽ với chất lượng thực thi chức trách và tính nhất quán giữa lời nói với việc làm của cán bộ, đảng viên.
Chăm lo, phục vụ bộ đội không đồng nghĩa với dễ dãi hoặc đáp ứng mọi yêu cầu theo cảm tính. Đó là thực hiện đúng chức trách, chế độ và nguyên tắc với tinh thần trách nhiệm cao; biết lắng nghe, ứng xử công tâm, tận tình và chủ động giải quyết công việc trong phạm vi thẩm quyền. Sự tận tâm phải đi cùng công bằng, minh bạch và kỷ luật; gần gũi phải gắn với nguyên tắc; chăm lo đời sống phải thống nhất với yêu cầu xây dựng đơn vị chính quy, vững mạnh. Đây là cơ sở để xác định chăm lo bộ đội vừa là nhiệm vụ cụ thể, vừa là thước đo thực tiễn đối với trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và hiệu quả lãnh đạo ở cơ sở.
3. Thực trạng và những vấn đề đặt ra từ thực tiễn chăm lo bộ đội
Việc sáp nhập Tổng cục Hậu cần và Tổng cục Kỹ thuật, tổ chức lại thành Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật từ đầu năm 2025 là bước điều chỉnh quan trọng trong tổ chức lực lượng hậu cần, kỹ thuật toàn quân. Sau sáp nhập, yêu cầu đặt ra không chỉ là kiện toàn tổ chức, biên chế mà còn phải duy trì sự lãnh đạo liên tục, phân định rõ trách nhiệm, hoàn thiện cơ chế phối hợp và bảo đảm nhiệm vụ không bị gián đoạn. Đây cũng là nội dung được nhấn mạnh trong quá trình triển khai nhiệm vụ của Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật(3).
Đối với ngành Hậu cần - Kỹ thuật, chăm lo đời sống của bộ đội thể hiện trực tiếp qua chất lượng bảo đảm ăn, mặc, ở, chăm sóc sức khỏe, vận tải, quản lý, bảo dưỡng và bảo đảm kỹ thuật trang bị. Sau khi được tổ chức lại, ngành Hậu cần - Kỹ thuật đứng trước yêu cầu tiếp tục thống nhất chỉ đạo, phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, đơn vị, bảo đảm kịp thời cho huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và các nhiệm vụ đột xuất; đồng thời quan tâm cải thiện điều kiện làm việc, sinh hoạt và đời sống tinh thần của bộ đội. Vì vậy, chất lượng lãnh đạo ở cơ sở cần được đánh giá bằng khả năng chuyển hóa chủ trương thành kết quả bảo đảm cụ thể, đúng chế độ, tiêu chuẩn và đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.
Đại hội đại biểu Đảng bộ Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030 đã đánh giá kết quả lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ từ khi sáp nhập, đồng thời xác định phương hướng, mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ và giải pháp cho nhiệm kỳ mới(4). Tiếp đó, Đảng ủy Tổng cục tổ chức quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XII và chương trình hành động của Đảng bộ Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật(5). Những hoạt động này cho thấy yêu cầu quan trọng sau kiện toàn tổ chức là cụ thể hóa nghị quyết thành chương trình, kế hoạch hành động gắn với trách nhiệm của từng cấp, từng cơ quan, đơn vị và kết quả thực hiện nhiệm vụ.
4. Giải pháp tiếp tục nâng cao chất lượng lãnh đạo của tổ chức đảng từ thực tiễn chăm lo đời sống của bộ đội
Thứ nhất, đổi mới việc ban hành và tổ chức thực hiện nghị quyết theo hướng sát thực tiễn, rõ trách nhiệm, cụ thể kết quả.
Nghị quyết của cấp ủy cần xuất phát từ những vấn đề thực tế của cơ quan, đơn vị, lựa chọn đúng trọng tâm, tránh dàn trải và hình thức. Khi triển khai, cần xác định rõ nhiệm vụ, người chịu trách nhiệm, thời hạn hoàn thành và kết quả cần đạt; công tác kiểm tra phải tập trung vào những điểm nghẽn trong tổ chức thực hiện để kịp thời điều chỉnh.
Thứ hai, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có năng lực tổ chức thực hiện và tinh thần trách nhiệm trước bộ đội.
Cán bộ, đảng viên phải nói đi đôi với làm, dám nhận việc khó, không né tránh vấn đề phát sinh và chịu trách nhiệm về nhiệm vụ được giao. Đánh giá cán bộ cần coi trọng kết quả thực hiện chức trách, khả năng giải quyết công việc ở cơ sở, uy tín trước bộ đội và thái độ đối với những vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền lợi chính đáng của quân nhân.
Thứ ba, cụ thể hóa tinh thần phục vụ bộ đội thành chuẩn mực trong thực hiện chức trách.
Đối với từng cơ quan, vị trí công tác và khâu giải quyết công việc, cần xác định yêu cầu rõ ràng: đúng chế độ, đúng thời gian; hướng dẫn đầy đủ, dễ hiểu; ứng xử đúng mực; không gây phiền hà, đùn đẩy hoặc né tránh; chủ động xử lý vấn đề thuộc thẩm quyền. Những chuẩn mực này phải gắn với kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ, tránh dừng ở cam kết chung.
Thứ tư, hướng phương thức lãnh đạo về cơ sở, tăng đối thoại, lắng nghe và giải quyết vấn đề từ nơi phát sinh.
Cấp ủy, cán bộ chủ trì cần trực tiếp gặp gỡ, trao đổi, nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của bộ đội; kết hợp tiếp nhận ý kiến tại hội nghị với chủ động phát hiện những khó khăn chưa được phản ánh. Kiến nghị thuộc thẩm quyền phải được giải quyết kịp thời; vấn đề vượt thẩm quyền cần được báo cáo, đề xuất đúng quy định. Sâu sát với bộ đội phải gắn với khả năng giải quyết vấn đề, không chỉ dừng ở việc nắm tình hình.
Thứ năm, lấy chuyển biến thực tế ở đơn vị làm căn cứ đánh giá chất lượng lãnh đạo.
Việc đánh giá tổ chức đảng không nên chỉ dựa vào số lượng nghị quyết, hội nghị, báo cáo hoặc hồ sơ hoàn thành, mà cần xem xét kết quả bộ đội trực tiếp cảm nhận: nhiệm vụ có được thực hiện tốt hơn không; chế độ, chính sách có được bảo đảm đầy đủ, kịp thời không; công việc có được giải quyết đúng, nhanh, minh bạch không; kỷ luật, đoàn kết và đời sống bộ đội có chuyển biến không. Các tiêu chí này cần được lồng ghép phù hợp vào kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết và đánh giá tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên.
Thực hiện đồng bộ các giải pháp trên sẽ góp phần gắn xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh với nâng cao chất lượng thực hiện chức trách và chăm lo đời sống bộ đội. Tinh thần phục vụ khi được cụ thể hóa thành hành vi, quy trình và kết quả có thể kiểm chứng sẽ trở thành một bộ phận của văn hóa công tác ở đơn vị cơ sở. Sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng là nhân tố quyết định bản chất cách mạng, mục tiêu, lý tưởng chiến đấu và sức mạnh của Quân đội nhân dân Việt Nam; trong xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, chất lượng lãnh đạo của tổ chức đảng cần được thể hiện qua năng lực tổ chức thực hiện, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và những chuyển biến cụ thể tại cơ sở. Khi chế độ, chính sách được bảo đảm đầy đủ; khó khăn chính đáng được giải quyết kịp thời; ý kiến của bộ đội được lắng nghe; cán bộ, đảng viên công tâm, trách nhiệm và làm việc đến nơi đến chốn thì niềm tin của bộ đội đối với Đảng sẽ ngày càng được củng cố, nâng cao. Đây cũng là cơ sở để nâng cao uy tín của tổ chức đảng, phát huy sức mạnh đoàn kết và xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới./.
---------------------------------------
Tài liệu tham khảo:
1. Ban Chấp hành Trung ương, Quy định số 332-QĐ/TW ngày 24/6/2025 về tổ chức đảng trong Quân đội nhân dân Việt Nam.
2. Đảng bộ Quân đội (2025), Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XII, nhiệm kỳ 2025 – 2030, Hà Nội.
3. Bộ Quốc phòng (2025), “Bàn giao các cơ quan, đơn vị thuộc Tổng cục Hậu cần, Tổng cục Kỹ thuật về Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật”, Cổng Thông tin điện tử Bộ Quốc phòng, ngày 07/02/2025.
4. Báo Quân đội nhân dân (2025), “Đảng ủy Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XII”, tháng 11/2025.
5. Báo Quân đội nhân dân (2025), “Đại hội đại biểu Đảng bộ Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật lần thứ I thành công tốt đẹp”, ngày 14/8/2025.
Trần Ngọc Minh - Học viện Hậu cần, Bộ Quốc phòng
Tin tức cùng chuyên mục
Bài viết cùng tác giả