Gắn đào tạo sau đại
học với trách nhiệm phục vụ là giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn kinh
phí đào tạo.
Ưu tiên nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
Đào tạo sau đại học đối với công chức hướng tới mục tiêu nâng cao trình độ, chuyên môn, nghiệp vụ, đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực của các cơ quan, đơn vị, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao. Trong bối cảnh chuyển đổi số và đổi mới phương thức hoạt động của bộ máy hành chính, việc phát triển đội ngũ công chức có kiến thức chuyên sâu, năng lực nghiên cứu và khả năng thích ứng với yêu cầu mới ngày càng có ý nghĩa quan trọng.
Theo quy định tại Điều 4 Nghị định số 171/2025/NĐ-CP ngày 30/6/2025 quy định về đào tạo, bồi dưỡng công chức, việc đào tạo sau đại học cần chú trọng các lĩnh vực khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, kỹ năng số và công nghệ số. Đây là những lĩnh vực có vai trò thiết thực trong nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, cải tiến quy trình xử lý công việc và thúc đẩy ứng dụng công nghệ trong hoạt động công vụ. Việc ưu tiên các lĩnh vực này góp phần định hướng công tác đào tạo theo nhu cầu phát triển của cơ quan, đơn vị, thay vì chỉ tập trung vào việc nâng cao bằng cấp.
Hoạt động đào tạo sau đại học được thực hiện theo quy định của pháp luật về giáo dục và đào tạo. Đồng thời, việc lựa chọn, cử công chức đi học phải bảo đảm các điều kiện cụ thể, gắn nhu cầu đào tạo với vị trí việc làm và yêu cầu sử dụng nhân lực sau đào tạo.
Theo Điều 5, công chức được cử đi đào tạo sau đại học phải có thời gian công tác từ đủ 3 năm trở lên; trong 2 năm liên tục liền kề trước thời điểm được cử đi học phải hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên. Quy định này nhằm bảo đảm người được lựa chọn có kinh nghiệm thực tiễn, thể hiện năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ ổn định trước khi tham gia chương trình đào tạo dài hạn.
Bên cạnh đó, công chức phải không quá 45 tuổi, tính từ thời điểm được cử đi đào tạo sau đại học lần đầu. Chuyên ngành đào tạo phải phù hợp với vị trí việc làm. Các điều kiện này giúp cơ quan, đơn vị cân nhắc giữa nhu cầu nâng cao trình độ và khả năng vận dụng kiến thức sau đào tạo vào thực tiễn công tác.
Một yêu cầu quan trọng khác là công chức phải cam kết tiếp tục thực hiện nhiệm vụ, công vụ tại cơ quan, đơn vị cử đi đào tạo sau khi hoàn thành chương trình học trong thời gian ít nhất gấp 3 lần thời gian đào tạo. Đây là cơ sở để bảo đảm nguồn lực đầu tư cho đào tạo được chuyển hóa thành hiệu quả công việc, đồng thời giúp cơ quan, đơn vị chủ động trong kế hoạch sử dụng, bố trí nhân sự.
Đối với công chức được cử đi đào tạo theo các chương trình hợp tác với nước ngoài do cơ quan có thẩm quyền của Đảng và Nhà nước ký kết hoặc gia nhập nhân danh Nhà nước, Chính phủ Việt Nam, ngoài các điều kiện nêu trên, người được cử đi học còn phải đáp ứng những yêu cầu khác của chương trình hợp tác.
Việc quy định rõ điều kiện đào tạo góp phần nâng cao tính chủ động, trách nhiệm trong công tác phát triển đội ngũ. Cơ quan, đơn vị có căn cứ lựa chọn đúng người, đúng chuyên ngành, phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ; công chức cũng cần xác định rõ mục tiêu học tập, kế hoạch công tác và trách nhiệm của mình trước khi tham gia chương trình.
Rõ trách nhiệm đền bù, bảo đảm hiệu quả kinh phí đào tạo
Cùng với việc tạo điều kiện nâng cao trình độ, các quy định về đào tạo sau đại học đặt ra trách nhiệm đối với công chức được sử dụng kinh phí từ ngân sách nhà nước hoặc nguồn kinh phí của cơ quan quản lý, đơn vị sử dụng công chức. Theo đó, công chức phải đền bù chi phí đào tạo nếu thuộc một trong các trường hợp: tự ý bỏ học, bỏ việc trong thời gian đào tạo; bị kỷ luật buộc thôi việc; không được cơ sở đào tạo cấp văn bằng tốt nghiệp; hoặc đã hoàn thành khóa học, được cấp bằng nhưng bỏ việc hay bị kỷ luật buộc thôi việc khi chưa phục vụ đủ thời gian cam kết.
Quy định này nhằm đề cao trách nhiệm của người được cử đi học, đồng thời bảo đảm việc sử dụng kinh phí đào tạo đúng mục đích, tránh lãng phí nguồn lực công. Khi được cơ quan, đơn vị đầu tư kinh phí để nâng cao trình độ, công chức có trách nhiệm hoàn thành chương trình và thực hiện đầy đủ cam kết phục vụ sau đào tạo, trừ các trường hợp được miễn đền bù theo quy định.
Chi phí đền bù bao gồm học phí và tất cả các khoản chi khác phục vụ khóa đào tạo, không tính tiền lương và các khoản phụ cấp, nếu có. Mức đền bù được xác định căn cứ vào nguyên nhân phát sinh nghĩa vụ và thời gian công tác thực tế sau đào tạo.
Đối với trường hợp tự ý bỏ học, bỏ việc trong thời gian đào tạo; bị kỷ luật buộc thôi việc; hoặc không được cấp văn bằng tốt nghiệp, công chức phải hoàn trả 100% chi phí đền bù. Trong khi đó, nếu đã tốt nghiệp nhưng không thực hiện đủ thời gian phục vụ theo cam kết, khoản đền bù được tính tương ứng với thời gian còn thiếu.
Công thức tính được xác định bằng tổng chi phí đào tạo nhân với tỷ lệ giữa thời gian cam kết phục vụ còn thiếu và tổng thời gian phải phục vụ sau đào tạo. Chẳng hạn, một công chức được cử đi học thạc sĩ trong 2 năm, với tổng kinh phí đào tạo 60 triệu đồng, phải cam kết phục vụ cơ quan ít nhất 72 tháng sau khi tốt nghiệp. Nếu người này mới công tác được 24 tháng rồi tự ý bỏ việc, thời gian cam kết còn thiếu là 48 tháng. Khi đó, số tiền phải đền bù là 60 triệu đồng nhân với 48/72, tương đương 40 triệu đồng.
Bên cạnh các trường hợp phải đền bù, quy định cũng xác định những trường hợp được miễn hoặc giảm chi phí. Công chức không phải đền bù nếu không được cấp bằng do mắc bệnh hiểm nghèo hoặc gặp rủi ro do thiên tai, dịch bệnh và được cấp có thẩm quyền xác nhận.
Tương tự, nếu sau khi được cử đi đào tạo, công chức được cơ quan có thẩm quyền quyết định điều động, luân chuyển, biệt phái hoặc chuyển công tác sang cơ quan khác nhưng vẫn thuộc hệ thống cơ quan của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp xã thì không phải đền bù chi phí đào tạo. Quy định này bảo đảm quyền lợi của công chức trong trường hợp thay đổi vị trí công tác theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền, đồng thời tránh làm phát sinh nghĩa vụ tài chính không phù hợp với nguyên nhân khách quan.
Đối với trường hợp được xem xét giảm chi phí đền bù, công chức là nữ hoặc người dân tộc thiểu số được tính giảm 1,5% chi phí cho mỗi năm công tác trước đào tạo; các trường hợp khác được tính giảm 1% cho mỗi năm công tác trước đào tạo. Thời gian công tác sau đào tạo không được tính vào thời gian làm căn cứ giảm chi phí.
Về thời hạn thực hiện nghĩa vụ, công chức phải hoàn trả đầy đủ chi phí đền bù chậm nhất trong vòng 120 ngày kể từ ngày nhận được quyết định đền bù của cơ quan có thẩm quyền. Khoản tiền này được nộp cho cơ quan, đơn vị đã chi trả kinh phí đào tạo. Nếu công chức không thực hiện nghĩa vụ hoặc hai bên không thống nhất được việc đền bù, các bên có quyền khiếu nại hoặc khởi kiện theo quy định của pháp luật.
Có thể thấy, các quy định về đào tạo sau đại học không chỉ hướng tới nâng cao trình độ chuyên môn mà còn gắn quyền lợi học tập với trách nhiệm công vụ. Việc thực hiện nghiêm các điều kiện cử đi học, cam kết phục vụ và quy định đền bù sẽ góp phần sử dụng hiệu quả kinh phí đào tạo, bảo đảm tính công bằng, minh bạch và nâng cao chất lượng đội ngũ công chức. Qua đó, hoạt động đào tạo từng bước gắn chặt hơn với yêu cầu thực tiễn, đáp ứng nhiệm vụ xây dựng nền hành chính chuyên nghiệp, hiện đại và phục vụ người dân, doanh nghiệp ngày càng tốt hơn./.
Thanh Hà
Tin tức cùng chuyên mục
Bài viết cùng tác giả