Từ khóa: Cán bộ, công chức, viên chức; công vụ, lợi ích; kiểm soát; thực thi công vụ; xung đột lợi ích.
Abstract: Conflicts of interest in the performance of official duties arise from tensions between the personal interests of public officials and the public interests they are responsible for serving. This article discusses fundamental theoretical issues concerning conflicts of interest, existing regulations, and potential conflicts of interest in the performance of official duties during the implementation of policies amid Vietnam’s transition into an era of national rise. It also proposes several solutions to strengthen the control of such conflicts.
Keywords: Cadres, civil servants, and public employees; public duties; interests; control; performance of official duties; conflicts of interest.
![]()
1. Đặt vấn đề
Cán bộ, công chức, viên chức và những người được giao thực thi công vụ, nhiệm vụ của Nhà nước khi được giao quyền lực, có trách nhiệm thực thi nhiệm vụ, công vụ một cách khách quan, minh bạch nhằm hướng đến mục tiêu xây dựng nền hành chính hiệu lực, hiệu quả và phục vụ Nhân dân. Tuy nhiên, thực tế trong hoạt động thực thi công vụ vẫn xuất hiện nhiều hành vi vì lợi ích của họ và của người có liên quan mà lợi dụng công vụ để làm trái với lợi ích công của Nhà nước, hiện tượng này được xác định là xung đột lợi ích trong thực thi công vụ (gọi tắt là xung đột lợi ích). Đây không phải là một hiện tượng mới mẻ ở trên thế giới cũng như ở Việt Nam và nếu không có cơ chế kiểm soát kịp thời, hiện tượng này sẽ trở thành một trong các nguy cơ tiềm tàng phát sinh tham nhũng, làm ảnh hưởng đến hiệu lực, hiệu quả của hoạt động công vụ, của hoạt động quản lý nhà nước (QLNN) và xét đến cùng sẽ xâm hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của Nhân dân.
2. Khái quát về xung đột lợi ích trong thực thi công vụ và quy định về kiểm soát xung đột lợi ích trong thực thi công vụ ở Việt Nam hiện nay
2.1. Xung đột lợi ích trong thực thi công vụ
Thuật ngữ “xung đột lợi ích” đã được luật hóa ở Việt Nam, theo đó tại khoản 8 Điều 3 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), xung đột lợi ích được hiểu là: “Tình huống mà trong đó lợi ích của người có chức vụ, quyền hạn hoặc người thân thích của họ tác động hoặc sẽ tác động không đúng đến việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ”. Việc ghi nhận khái niệm này cho thấy, Đảng và Nhà nước ta không chỉ coi pháp luật là công cụ pháp lý hữu hiệu trong việc chống tham nhũng mà thông qua đó còn dự liệu các tình huống dễ nảy sinh tham nhũng, để ngăn chặn từ sớm từ xa hành vi tiêu cực này.
Do là một nguy cơ tạo ra tham nhũng nên có những dấu hiệu để nhận biết tình huống xung đột lợi ích trong thực thi công vụ. Đó là: Thứ nhất, về chủ thể là cán bộ, công chức, viên chức được giao quyền (thẩm quyền) trong quá trình thực thi công vụ theo quy định của pháp luật. Thứ hai, nguyên nhân là khi lợi ích cá nhân (của chủ thể hoặc người liên quan) không thống nhất với việc thực hiện thẩm quyền được giao. Thứ ba, có hành vi tác động hoặc có nguy cơ sẽ tác động không đúng đến việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ.
Khi xem xét bản chất xung đột lợi ích công vụ, các nghiên cứu thường chia hiện tượng này thành hai loại chủ yếu, đó là: xung đột lợi ích thực tế và xung đột lợi ích tiềm tàng. Trong đó, xung đột lợi ích thực tế là tình huống mà lợi ích cá nhân của cán bộ, công chức, viên chức có tác động trực tiếp (hay xung đột trực tiếp) tới việc thực hiện trách nhiệm được giao hoặc có căn cứ chắc chắn rằng, lợi ích cá nhân của công chức có thể ảnh hưởng không phù hợp đến việc thực hiện trách nhiệm, nhiệm vụ công, mặc dù sự tác động, ảnh hưởng đó đã xảy ra trên thực thế hay chưa (ICAC, 2014). Ở xung đột lợi ích thực tế, có thể thấy đầy đủ các yếu tố để nhận diện, đó là chủ thể của tình huống này là của cán bộ, công chức, viên chức được trao quyền lực nhà nước và có sự thực hiện quyền lực trong QLNN và lợi ích cá nhân đã xung đột với lợi ích công được giao, dù là xung đột đã xảy ra trực tiếp hoặc có căn cứ chắc chắn rằng xung đột sẽ xảy ra.
Đối với xung đột lợi ích tiềm tàng (tiềm ẩn) là tình huống mà lợi ích cá nhân của cán bộ, công chức, viên chức có thể xung đột với việc thực hiện công vụ của họ trong tương lai (ICAC, 2014). Nghĩa là ở thời điểm hiện tại, cán bộ, công chức, viên chức được trao quyền lực nhà nước và thực hiện quyền lực đó thì lợi ích cá nhân của họ chưa xung đột với nhiệm vụ công được giao, nhưng lợi ích này có thể xung đột với chức trách, nhiệm vụ công được giao khi tình hình có sự thay đổi trong tương lai. Đây là loại xung đột ở hiện tại chưa nảy sinh nhưng khi có điều kiện (trong tương lai) sẽ nảy sinh và “điều kiện nảy sinh” này lại rất dễ xuất hiện trong hoạt động công vụ của cán bộ, công chức, viên chức đó. Do đó, nhận thức đúng về xung đột lợi ích từ sớm, từ xa giúp ngăn ngừa nguy cơ nảy sinh các hành vi làm trái, lợi dụng, lạm dụng nhiệm vụ, công vụ, những dấu hiệu bước đầu của tham nhũng, ảnh hưởng đến hoạt động đúng đắn của nhà nước và quyền, lợi ích của các chủ thể liên quan.
2.2. Quy định về kiểm soát xung đột lợi ích trong thực thi công vụ hiện nay
Ở Việt Nam, các quy định hiện hành được sử dụng để kiểm soát xung đột lợi ích có thể chia thành hai nhóm chính là: nhóm các quy định về phòng ngừa xung đột lợi ích và nhóm các quy định về nhận biết, giám sát, xử lý tình huống có xung đột lợi ích. Cụ thể:
(1) Nhóm các quy định về phòng ngừa xung đột lợi ích gồm:
Quy định về nguyên tắc công khai, minh bạch trong hoạt động công vụ: “Công khai, minh bạch về tổ chức và hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị là việc công bố, cung cấp thông tin, giải trình về tổ chức bộ máy, việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm trong khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, đơn vị” (Điều 3, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018). Theo đó, trừ nội dung thuộc bí mật nhà nước, bí mật kinh doanh và nội dung khác theo quy định của pháp luật thì đều phải thực hiện công khai, minh bạch.
Quy định về trách nhiệm giải trình trong thực thi công vụ, theo quy định hiện hành: “Trách nhiệm giải trình là việc cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có thẩm quyền làm rõ thông tin, giải thích kịp thời, đầy đủ về quyết định, hành vi của mình trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ được giao (Điều 3, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018). Trách nhiệm này thuộc người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc người được phân công, người được ủy quyền hợp pháp. Pháp luật hiện hành cũng quy định cụ thể về nội dung giải trình, những nội dung không thuộc phạm vi giải trình, điều kiện tiếp nhận yêu cầu giải trình, quyền và nghĩa vụ của những chủ thể có liên quan trong yêu cầu và thực hiện trách nhiệm giải trình, trình tự, thủ tục thực hiện trách nhiệm giải trình…
Quy định về quyền hạn, trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức trong hoạt động công vụ, như: cấm cán bộ, công chức, viên chức tận dụng hoặc lợi dụng nhiệm vụ, quyền hạn; sử dụng thông tin liên quan đến dịch vụ dân sự để trục lợi (Điều 18 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2019, năm 2025); cán bộ, công chức, viên chức phải thực hiện nếp sống lành mạnh, trung thực, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư và tu dưỡng, rèn luyện đạo đức nghề nghiệp, thực hiện quy tắc ứng xử (Điều 15, Điều 16 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2019, năm 2025) của công chức, viên chức. Các quy định quy tắc ứng xử của người có chức vụ, quyền hạn, quy định việc tặng quà và nhận quà, kiểm soát xung đột lợi ích… cũng nhằm phòng ngừa việc tạo ra những hành vi thu lợi bất chính từ việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ của cán bộ, công chức, viên chức trong hoạt động công vụ. Ngoài ra, còn có các quy định cấm thành lập, quản lý điều hành và góp vốn vào doanh nghiệp trong Điều 17 Luật Doanh nghiệp năm 2020 hoặc các quy định hạn chế trong hoạt động đấu thầu tại Điều 16 Luật Đấu thầu năm 2023.
(2) Nhóm các quy định về nhận biết, giám sát, xử lý tình huống có xung đột lợi ích bao gồm:
Các quy định về trách nhiệm kiểm soát xung đột lợi ích. Nghị định số 59/2019/NĐ-CP ngày 01/7/2019 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phòng, chống tham nhũng, như: quy định cụ thể về trách nhiệm xử lý thông tin, báo cáo về xung đột lợi ích (Điều 31; giám sát việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ được giao của người có xung đột lợi ích (Điều 32); tạm đình chỉ, đình chỉ việc thực thi công vụ của người có xung đột lợi ích (Điều 33). Bên cạnh đó, còn có các quy định về thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động đấu thầu và những hành vi bị cấm trong hoạt động đấu thầu, trong đó có tình huống xung đột lợi ích trong hoạt động đấu thầu (Điều 16 Luật Đấu thầu năm 2023)…
Các quy định về xử lý khi xảy ra xung đột lợi ích trong hoạt động công vụ gồm: quy định việc nhận quà tặng, báo cáo, nộp lại và xử lý quà tặng; quy định việc công khai bản kê khai tài sản, thu nhập theo những hình thức mà cơ quan có chức năng, người dân tại nơi cư trú có thể thông qua đó giám sát những thay đổi bất thường trong thu nhập, tài sản của cán bộ, công chức, viên chức. Trong đó, Điều 30 Nghị định số 59/2019/NĐ-CP cũng quy định khá cụ thể về các trường hợp xung đột lợi ích để nhận diện trên thực tế, trách nhiệm thông tin, báo cáo về xung đột lợi ích của các chủ thể khi xác định có xung đột lợi ích. Bộ luật Hình sự năm 2015 cũng quy định chế tài nghiêm khắc đối với công chức lợi dụng quyền hạn hoặc vị trí công tác để mưu lợi cá nhân bên cạnh hình phạt chính được áp dụng sẽ bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 1 - 5 năm (Điều 353 đến Điều 359 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025).
Có thể thấy, ở Việt Nam đã dần hình thành nhận thức đúng đắn về hiện tượng xung đột lợi ích trong thực thi công vụ, hiểu rõ bản chất, nguyên nhân của tình trạng này và bước đầu đã xây dựng hệ thống các quy định pháp luật trong phòng ngừa, nhận biết giám sát và xử lý đối với hiện tượng này. Tuy nhiên, trước những chủ trương như: sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy bảo đảm hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả; xây dựng đội ngũ cán bộ đủ năng lực; tăng cường chuyển đổi số; chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực;… đáp ứng yêu cầu trong kỷ nguyên mới đòi hỏi những thay đổi phù hợp hướng đến hoàn thiện việc kiểm soát hiện tượng xung đột lợi ích công vụ trong tình hình mới.
3. Tăng cường kiểm soát xung đột lợi ích, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới
3.1. Nguy cơ xung đột lợi ích và yêu cầu kiểm soát trong quá trình thực hiện các định hướng phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Xung đột lợi ích ở Việt Nam cũng có thể xảy ra ở nhiều lĩnh vực và biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau. Trong lĩnh vực đầu tư kinh doanh, nơi các nhà đầu tư nước ngoài, trong nước bên cạnh việc tạo doanh thu còn góp phần tạo công ăn việc làm, phát triển xã hội, đóng góp vào ngân sách, nơi nhà nước thực hiện các cam kết của các hiệp định thương mại quốc tế, mặc dù đã có nhiều thay đổi trong việc khuyến khích đầu tư, giảm thiểu các thủ tục, hạn chế nhũng nhiễu của cán bộ nhà nước nhưng vẫn còn ít nhiều biểu hiện tiêu cực, thể hiện xung đột lợi ích trong thực thi công vụ (Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, 2021). Ở góc nhìn quản lý kinh tế, Ngân hàng Thế giới (WB) khi nghiên cứu về kiểm soát xung đột khu vực công ở Việt Nam cho thấy, xung đột lợi ích biểu hiện phổ biến dưới bốn hình thức: tặng/nhận quà; đầu tư chia sẻ lợi ích; sử dụng lợi thế thông tin để vụ lợi; ra quyết định hoặc tác động có lợi cho người thân (Lê Quốc Lý, 2014).
Bên cạnh đó, nếu nhìn nhận rộng hơn, xung đột lợi ích không chỉ diễn ra trong hoạt động quản lý kinh tế mà có thể xuất hiện trong các hoạt động QLNN theo nghĩa rộng nếu không được nhận diện và kiểm soát hiệu quả. Với góc nhìn khi nhận diện xung đột lợi ích trong QLNN theo nghĩa rộng, xung đột lợi ích trong thi hành công vụ ở Việt Nam hiện nay có thể được nhận diện thành các nhóm: xung đột lợi ích trong xây dựng, ban hành quyết định QLNN; xung đột lợi ích trong thực hiện nhiệm vụ QLNN; xung đột lợi ích trong cung cấp dịch vụ công và xung đột lợi ích trong thực thi nhiệm vụ của cán bộ, công chức, viên chức (đặc biệt là hiện tượng “vị thân” trong thi hành công vụ) (http://www.issi.gov.vn/nhan-dien-xung-dot-loi-ich-trong-hoat-dong-cong-vu-o-viet-nam_t104c2716n3101tn.aspx). Có thể thấy, đây là góc nhìn bao quát hơn trong nhận diện xung đột lợi ích trong việc thực hiện hoạt động công vụ giúp kiểm soát hiệu quả hơn với các xung đột lợi ích công vụ ở Việt Nam.
Trong quá trình thực hiện các yêu cầu khi đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều quyết sách mang tính lịch sử từ khẩn trương hoàn thiện thể chế tạo điều kiện hợp pháp cho sắp xếp lại bộ máy nhà nước, tổ chức lại đơn vị hành chính các cấp; sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy với những quy định vừa thực chất, quyết liệt, vừa có sự điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện thực tế. Bên cạnh các quyết sách về phương thức lãnh đạo của Đảng, về thể chế, tổ chức cán bộ,… để bảo đảm ổn định xã hội, phát triển đất nước còn có các quyết sách về phát triển kinh tế, chuyển đổi số là các định hướng chiến lược, đúng đắn của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhận định và chỉ đạo thực hiện đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Tuy nhiên, để thực hiện hiệu quả cần dự liệu những vấn đề tác động gây ảnh hưởng đến quá trình thực hiện đúng các chính sách, mà một trong những tác động đó chính là những nguy cơ khi xảy ra xung đột lợi ích công vụ trong quá trình thực hiện các định hướng này. Cụ thể là:
Thứ nhất, nguy cơ xung đột lợi ích trong xây dựng và đánh giá chính sách. Có thể thấy, đây là một trong những hình thái của tham nhũng chính sách thông qua việc lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong quá trình xây dựng pháp luật để mang lại lợi ích không chính đáng cho cơ quan, tổ chức, địa phương, ngành nghề hoặc công tác QLNN và xung đột lợi ích trong trường hợp này chính là lợi ích đem lại lúc này có liên quan đến người xây dựng, tư vấn, thẩm định, thẩm tra… chính sách, pháp luật. Đặc biệt, trong bối cảnh hiện nay, đất nước ta đang triển khai nhiều chủ trương, định hướng lớn, đặt ra yêu cầu tiếp tục đổi mới, hoàn thiện đồng bộ thể chế, tổ chức bộ máy nhà nước và mô hình chính quyền địa phương. Quá trình này đòi hỏi phải rà soát, sửa đổi, bổ sung nhiều quy định có tính nền tảng, từ Hiến pháp, các luật về tổ chức bộ máy nhà nước như Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức chính quyền địa phương… cho đến các văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động kinh tế, đầu tư và quản lý nguồn lực như Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư công, Luật Đầu tư, Luật Đấu thầu... Trong quá trình xây dựng, sửa đổi và tổ chức thực thi chính sách, pháp luật, nếu không nhận diện đầy đủ, không có cơ chế phòng ngừa và kiểm soát hiệu quả xung đột lợi ích, nguy cơ lợi dụng quá trình hoạch định, ban hành chính sách để phục vụ lợi ích cục bộ, lợi ích nhóm, thậm chí hình thành tham nhũng chính sách là vấn đề cần đặc biệt quan tâm. Điều này không chỉ làm suy giảm tính công khai, minh bạch và công bằng trong QLNN mà còn có thể làm sai lệch mục tiêu, cản trở quá trình thể chế hóa và tổ chức thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, ảnh hưởng đến hiệu quả phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Thứ hai, xung đột lợi ích trong thực thi nhiệm vụ QLNN, biểu hiện phổ biến là việc tặng quà, tài trợ, tri ân, trao giải thưởng hoặc các hình thức lợi ích khác cho cán bộ, công chức, viên chức nhằm tác động, chi phối hoặc tạo lợi thế trong quá trình thực thi công vụ. Đáng chú ý, những lợi ích này không chỉ được trao dưới hình thức cá nhân mà còn có thể được che đậy, hợp thức hóa thông qua danh nghĩa tổ chức tặng, biếu tổ chức. Trong bối cảnh đẩy mạnh tinh gọn tổ chức bộ máy, sắp xếp đơn vị hành chính, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, yêu cầu bảo đảm khách quan, công tâm, minh bạch trong công tác cán bộ càng trở nên cấp thiết. Đây vừa là cơ hội để phát hiện, trọng dụng người có đức, có tài, có tâm, có tầm, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, vừa đặt ra nguy cơ phát sinh xung đột lợi ích, tác động tiêu cực đến quá trình đánh giá, bố trí, sử dụng và sắp xếp nhân sự. Nếu người đứng đầu, cán bộ làm công tác tổ chức, cán bộ và các chủ thể tham mưu, tư vấn thiếu liêm chính, công tâm, khách quan thì rất dễ dẫn đến tình trạng lợi ích nhóm, bố trí nhân sự không đúng người, đúng việc, gây lãng phí nguồn nhân lực, chảy máu chất xám, làm suy giảm niềm tin của cán bộ, đảng viên và Nhân dân đối với chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, qua đó ảnh hưởng đến hiệu lực, hiệu quả QLNN và mục tiêu phát triển đất nước.
Thứ ba, xung đột lợi ích trong hoạt động cung ứng dịch vụ công và quản lý, sử dụng các nguồn lực công. Nguy cơ xung đột lợi ích có thể phát sinh trong quá trình mua sắm công, thực hiện các dự án đầu tư công và phân bổ, cung ứng các dịch vụ công của Nhà nước. Trong quá trình triển khai đồng bộ các chủ trương, chính sách nhằm tạo động lực phát triển đất nước, Nhà nước cần huy động và phân bổ nguồn lực ngân sách lớn cho các nhiệm vụ như sắp xếp đơn vị hành chính, tinh gọn tổ chức bộ máy, thực hiện chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức chịu tác động từ quá trình sắp xếp, tinh giản biên chế. Nếu việc phân bổ, quản lý và sử dụng các nguồn lực này thiếu công khai, minh bạch, không được giám sát và kiểm soát chặt chẽ, nguy cơ phát sinh xung đột lợi ích, lợi ích nhóm và thất thoát, lãng phí ngân sách là rất đáng quan tâm. Bên cạnh đó, trong quá trình thực hiện các chính sách bảo đảm an sinh xã hội, đáp ứng những nhu cầu thiết yếu và quyền cơ bản của người dân, nhất là trong các lĩnh vực nhà ở xã hội, y tế, giáo dục, nếu thiếu cơ chế công khai, minh bạch và giám sát hiệu quả, việc tiếp cận, thụ hưởng dịch vụ công có thể bị chi phối bởi lợi ích cá nhân hoặc lợi ích nhóm, làm ảnh hưởng đến công bằng xã hội và niềm tin của Nhân dân đối với chính sách của Đảng, Nhà nước.
Thứ tư, xung đột lợi ích trong thực thi công vụ. Đây là biểu hiện trực tiếp của xung đột lợi ích trong hoạt động công vụ, xảy ra khi lợi ích cá nhân của cán bộ, công chức, viên chức hoặc người có liên quan tác động hoặc có nguy cơ tác động đến tính khách quan, liêm chính và đúng đắn trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao. Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách toàn diện, tinh gọn tổ chức bộ máy và sắp xếp đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, những hạn chế trong công khai quy trình, minh bạch tiêu chí, phân định trách nhiệm và kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện có thể tạo ra kẽ hở để xung đột lợi ích phát sinh. Nguy cơ này đặc biệt đáng lưu ý trong hoạt động đánh giá, bố trí, điều động và sắp xếp cán bộ, công chức, viên chức, đòi hỏi phải tăng cường kiểm soát quyền lực, đề cao trách nhiệm người đứng đầu và bảo đảm tính công tâm, khách quan, minh bạch trong thực thi công vụ.
Có thể thấy, trước những chủ trương, định hướng lớn của Đảng và Nhà nước, bên cạnh yêu cầu xây dựng, hoàn thiện thể chế, chính sách và tổ chức thực hiện, cần chủ động nhận diện, dự báo và phòng ngừa những nguy cơ có thể ảnh hưởng đến hiệu quả thực thi, trong đó có nguy cơ xung đột lợi ích trong hoạt động công vụ. Dù biểu hiện ở phạm vi hay hình thức nào, nếu không được nhận diện và kiểm soát kịp thời, xung đột lợi ích đều có thể trở thành nguy cơ dẫn đến tham nhũng, tiêu cực; làm sai lệch quá trình hoạch định và thực thi các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; xâm hại quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của tổ chức, cá nhân và làm suy giảm niềm tin của Nhân dân. Vì vậy, việc xây dựng và triển khai các giải pháp đồng bộ, khả thi nhằm chủ động phòng ngừa, phát hiện và kiểm soát xung đột lợi ích là yêu cầu cấp thiết, góp phần bảo đảm kỷ luật, kỷ cương, liêm chính trong hoạt động công vụ và nâng cao hiệu lực, hiệu quả QLNN.
4. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả kiểm soát xung đột lợi ích trong thực thi công vụ ở Việt Nam
Một là, cần nhận thức đúng nguyên nhân của xung đột lợi ích trong thực thi công vụ.
Trong mọi hoạt động của con người, nhận thức luôn là nền tảng cho hành động, chỉ khi có được nhận thức đúng đắn thì con người mới thực hiện được hành động đúng đắn. Việc kiểm soát được xung đột lợi ích công vụ không chỉ liên quan đến mỗi cán bộ, công chức thực hiện công vụ đó mà liên quan đến các chủ thể khác mà trước hết là ở góc độ nhận thức của toàn xã hội từ quan điểm văn hóa truyền thống như “văn hóa quà tặng, cảm ơn…”. Do đó, thay đổi về nhận thức của cán bộ, công chức và cả nhận thức của các chủ thể có tham gia hoặc có liên quan đến hoạt động công vụ về những vấn đề này, thì mới làm thay đổi thái độ đối với các vấn đề xung đột lợi ích, từ đó, thay đổi hành động và có ý thức trong kiểm soát xung đột lợi ích.
Nhận thức đúng và đầy đủ về nguyên nhân phát sinh xung đột lợi ích trong thực thi công vụ là cơ sở quan trọng để xây dựng và triển khai các biện pháp kiểm soát hiệu quả. Việc nhận diện nguyên nhân không chỉ tập trung vào bản thân cán bộ, công chức, viên chức mà còn phải xem xét trách nhiệm của các chủ thể có thẩm quyền kiểm soát hoạt động công vụ. Theo đó, cần xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có phẩm chất, năng lực, thực thi công vụ với tinh thần khách quan, công tâm, liêm chính, đặt lợi ích quốc gia, dân tộc và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân lên trên hết. Phục vụ lợi ích công phải được xác định là nguyên tắc cốt lõi của liêm chính và nền tảng xây dựng đạo đức công vụ. Đồng thời, cần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các chủ thể trong phòng ngừa, nhận diện, phát hiện và xử lý xung đột lợi ích, coi đây là một nội dung quan trọng trong xây dựng đạo đức công vụ.
Đạo đức của mỗi cá nhân được hình thành và bồi đắp từ gia đình, môi trường giáo dục và các quan hệ xã hội; do đó, không thể chỉ đánh giá phẩm chất đạo đức qua những biểu hiện nhất thời, cũng không thể kỳ vọng thay đổi nhận thức, hành vi đạo đức trong thời gian ngắn. Đây là quá trình lâu dài, đòi hỏi môi trường xã hội lành mạnh và cơ chế giáo dục, rèn luyện thường xuyên. Vì vậy, cần chú trọng tiêu chuẩn phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống trong công tác tuyển dụng, đánh giá, bố trí và sử dụng cán bộ; đồng thời đề cao trách nhiệm nêu gương, tự tu dưỡng, rèn luyện của mỗi cán bộ, công chức, viên chức và trách nhiệm của các cơ quan, người có thẩm quyền trong kiểm soát, phát hiện, xử lý vi phạm, bảo đảm liêm chính, kỷ luật, kỷ cương trong thực thi công vụ.
Hai là, tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách và hệ thống pháp luật về phòng ngừa, phát hiện, kiểm soát và xử lý xung đột lợi ích trong thực thi công vụ.
Cần hoàn thiện nhóm các quy định về phòng ngừa xung đột lợi ích, cụ thể:
- Phải quy định chi tiết về công khai, minh bạch trong thực hiện hoạt động công vụ và các thông tin có tác động đến lợi ích của cán bộ, công chức khi thực hiện công vụ theo hướng mở rộng các hình thức công khai, minh bạch đến người dân bằng việc nhận yêu cầu và trả lời các yêu cầu tìm hiểu thông tin của người dân bằng các ứng dụng quản lý nhà nước hoặc cổng thông tin chính thức của chính quyền địa phương, cơ quan nhà nước. Bên cạnh đó, việc cho phép mở rộng ghi nhận giá trị pháp lý của văn bản điện tử, thông tin từ cơ quan nhà nước (có cơ chế bảo mật nếu cần) giúp người dân tiếp cận thông tin một cách dễ dàng hơn. Gia tăng các quy định kiểm soát việc kê khai, công khai việc kê khai tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức, viên chức và khả năng sử dụng thông tin kê khai để rà soát, phát hiện xung đột lợi ích. Khi hợp thức hóa các quy định kiểm soát này cũng nên dự phòng đưa ra các cơ chế chia sẻ, hợp tác trong khai thác các thông tin giữa các cơ quan nhà nước các cấp với nhau, tránh tình trạng đơn phương một chiều chỉ quy định quyền khai thác thông tin cho cấp trên hoặc chỉ cho các chủ thể có thẩm quyền kiểm soát.
- Hoàn thiện quy định pháp luật có liên quan báo cáo và trách nhiệm giải trình trong dự phòng kiểm soát xung đột lợi ích trong hoạt động công vụ, như: sửa đổi quy định về tặng và nhận quà hiện hành, gắn trách nhiệm trong việc báo cáo về tặng quà và nhận quà tặng, kiểm soát các hoạt động công vụ có liên quan sau nhận quà; xử lý đối với quà tặng.
- Hoàn thiện các quy định có liên quan đến ngành nghề, lĩnh vực cán bộ, công chức không được tham gia thành lập, góp vốn, quản lý thậm chí tư vấn trong đó hướng đến mở rộng phạm vi điều chỉnh không dừng lại ở bản thân cán bộ, công chức mà cần phải mở rộng ra các chủ thể khác có mối quan hệ gần gũi với cán bộ, công chức. Bên cạnh đó cũng luật hóa cả các quy định hạn chế đối với cán bộ, công chức sau nghỉ hưu bằng các cam kết không tiết lộ thông tin, hoặc quy định thời gian cấm tham gia các hoạt động ngoài công vụ (làm thêm) trong và sau khi nghỉ làm việc trong cơ quan nhà nước, cần thiết cấm tham gia hoạt động ngoài công vụ trong một số ngành nghề đặc thù có nguy cơ xung đột lợi ích cao.
Coi việc đánh giá phẩm chất đạo đức là yêu cầu bắt buộc trong đánh giá tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức, viên chức. Trước hết, coi đạo đức là một tiêu chuẩn cứng khi xây dựng tuyển dụng nhân sự nhà nước theo vị trí việc làm, có cơ chế xác định, đánh giá đối với tiêu chí đạo đức cho cán bộ, công chức, viên chức nói chung và với một số ngành, vị trí công việc nói riêng. Hoàn thiện các tiêu chí liên quan đến đánh giá phẩm chất đạo đức, chất lượng giải quyết công vụ với việc mở rộng việc giám sát, cho ý kiến đánh giá từ người dân, doanh nghiệp là bên được phục vụ trong hoạt động công vụ.
Ba là, hoàn thiện các quy định về nhận biết, giám sát, xử lý tình huống có xung đột lợi ích.
- Xây dựng bộ tiêu chí nhận định và xử lý đối với xung đột lợi ích trong hoạt động công vụ, công khai các nội dung này và mở rộng quyền giám sát cho người dân. Vì giao tiếp công vụ chính là nơi dễ dàng nhận biết được đạo đức công vụ do đó rộng hơn nữa cần hoàn thiện quy định trong giao tiếp công vụ (nội bộ đơn vị và bên ngoài với các phương thức giao tiếp đa dạng như trực tiếp, qua điện thoại, mail, các loại kết nối trên không gian mạng, như: zalo, facebook,…); đồng thời hướng đến xây dựng văn hóa công vụ cho các cấp QLNN và trong hoạt động cung ứng các dịch vụ công đến người dân.
- Hoàn thiện các quy định thanh tra công vụ theo hướng tăng cường trách nhiệm, chuyên môn nghiệp vụ trong hoạt động thanh tra công vụ, công khai kết quả thanh tra để việc kiểm soát được chính xác và ngăn chặn nguy cơ xung đột lợi ích ngay trong hoạt động thanh tra công vụ. Nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế, xem xét thành lập Thanh tra Quốc hội hoạt động độc lập, kiểm soát, công khai đối với quản lý nhà nước và kiểm soát thông qua phản ánh từ cử tri.
- Hoàn thiện các quy định về xử lý cán bộ, công chức, viên chức có biểu hiện xung đột lợi ích. Theo đó tùy mức độ vi phạm, hậu quả của hành vi để có các hình thức xử lý tương ứng như: kỷ luật nội bộ đơn vị, kỷ luật nhà nước, xử lý hình sự đối với không chỉ cán bộ, công chức, viên chức vi phạm mà mở rộng với người quản lý, thủ trưởng, tập thể đơn vị nếu các chủ thể này không có trách nhiệm trong kiểm soát, xử lý với hành vi vi phạm. Ngoài các biện pháp xử lý chính còn có các biện pháp bổ sung, như: cấm đảm nhiệm chức vụ, quyền hạn, đưa ra khỏi bộ máy nhà nước, cấm thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã trong thời hạn nhất định sau xử lý.
5. Kết luận
Xung đột lợi ích trong hoạt động công vụ là một trong những nguy cơ tiềm ẩn dẫn đến tham nhũng, tiêu cực. Nếu không được nhận diện đúng, phòng ngừa và kiểm soát kịp thời bằng các cơ chế phù hợp, hiện tượng này có thể làm suy giảm tính liêm chính, khách quan và công ích của hoạt động công vụ, ảnh hưởng đến kỷ luật, kỷ cương hành chính, hiệu lực, hiệu quả QLNN và niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước ta. Trên cơ sở phân tích thực trạng các quy định pháp luật về kiểm soát xung đột lợi ích, bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường kiểm soát xung đột lợi ích trong thực thi công vụ ở Việt Nam, tập trung vào hai nội dung trọng tâm: nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các chủ thể liên quan; tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách và hệ thống pháp luật về phòng ngừa, phát hiện, kiểm soát và xử lý xung đột lợi ích. Qua đó, góp phần xây dựng nền công vụ liêm chính, chuyên nghiệp, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, lấy người dân làm trung tâm, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới./.
--------------------------------------------
Tài liệu tham khảo:
1. ICAC (2014), Quản lý xung đột lợi ích trong khu vực công: hướng dẫn 2004, tr.10.
2. Quốc hội (2018, 2025), Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
3. Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (2021), Báo cáo PCI năm 2020 - Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Việt Nam: Đánh giá về chất lượng điều hành kinh tế để thúc đẩy phát triển doanh nghiệp. https://pcivietnam.vn/an-pham/bao-cao-pci-2020-ct185.
4. Lê Quốc Lý (2014), Lợi ích nhóm: Thực trạng và giải pháp, Nxb CTQG-ST, tr.192.
TS Trần Thị Bình - Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Tin tức cùng chuyên mục
Bài viết cùng tác giả