Những kết quả trong công tác giảm nghèo giai đoạn vừa qua không chỉ phản ánh sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị mà còn mang lại nhiều bài học quý để định hướng cho giai đoạn 2026 - 2030, thời kỳ được dự báo sẽ đặt ra nhiều yêu cầu cao hơn về tính bền vững và chiều sâu của giảm nghèo đa chiều.
Giai đoạn 2026 - 2030 đặt ra nhiều yêu cầu cao hơn về tính bền vững và chiều sâu của giảm nghèo đa chiều.
Từ những bài học được rút ra…
Bài học đầu tiên và quan trọng nhất trong giai đoạn 2021 - 2025 là tư duy giảm nghèo đa chiều phải được coi là trụ cột xuyên suốt trong quá trình hoạch định và thực thi chính sách. Việc không chỉ tập trung vào tiêu chí thu nhập mà còn giải quyết thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản như giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch, thông tin và dinh dưỡng chính là yếu tố giúp giảm nghèo thực chất hơn. Các số liệu về trẻ em được bổ sung dinh dưỡng, bà mẹ mang thai được hỗ trợ vi chất hay tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi giảm còn 26,43% cho thấy tác động theo chiều sâu của cách tiếp cận đa chiều. Đây là nền tảng quan trọng giúp ngăn ngừa tình trạng nghèo đói truyền đời và tạo cơ hội phát triển con người toàn diện hơn.
Tiếp đó, xuất phát từ việc ứng dụng mô hình sinh kế theo chuỗi giá trị thay vì hỗ trợ đơn lẻ. Hơn 10.587 mô hình sinh kế, đặc biệt là 9.816 mô hình nông nghiệp, đã minh chứng rằng những mô hình được thiết kế gắn với thị trường, doanh nghiệp bao tiêu và có hỗ trợ kỹ thuật sẽ hiệu quả hơn nhiều so với mô hình nhỏ lẻ trước đây. Các địa phương có sự tham gia của hợp tác xã, doanh nghiệp hoặc mô hình sản xuất liên kết thường đạt mức tăng thu nhập cao hơn và giảm nguy cơ tái nghèo. Điều này cho thấy sinh kế phải được thực hiện theo quy luật thị trường, có dự báo rủi ro và phải được giám sát chặt chẽ cả trong quá trình vận hành.
Đầu tư hạ tầng thiết yếu tiếp tục là yếu tố quyết định, nhiều vùng nghèo đã có sự thay đổi rõ rệt về khả năng tiếp cận dịch vụ và cơ hội phát triển kinh tế. Hệ thống giao thông giúp nông sản dễ tiêu thụ hơn, công trình thủy lợi ổn định sản xuất, trường học và trạm y tế được nâng cấp giúp nâng chất lượng giáo dục và chăm sóc sức khỏe. Hạ tầng đồng bộ đã tạo điều kiện để giảm nghèo diễn ra nhanh hơn, đặc biệt tại các huyện miền núi nơi chi phí tiếp cận thị trường cao và rủi ro sản xuất lớn. Bài học rút ra là hạ tầng chỉ phát huy hiệu quả khi gắn chặt với quy hoạch, có quản lý vận hành bền vững và có sự tham gia của cộng đồng.
Vai trò trung tâm của con người, đặc biệt là cán bộ cấp cơ sở, trong đó năng lực cán bộ chính là động lực quan trọng giúp chính sách đi vào thực tiễn. Những địa phương có đội ngũ cán bộ năng động, biết vận dụng linh hoạt mô hình, biết phân tích dữ liệu và làm việc sát dân thường có kết quả giảm nghèo cao hơn. Ngược lại, nơi cán bộ thiếu kỹ năng, thiếu sự chủ động hoặc chưa nắm rõ chuẩn nghèo đa chiều thường chậm tiến độ hoặc triển khai thiếu hiệu quả. Điều này cho thấy công tác đào tạo, bồi dưỡng phải được coi là trụ cột trong vận hành chính sách giai đoạn tới.
Tầm quan trọng của lồng ghép chính sách, sự phối hợp chặt chẽ giữa Chương trình giảm nghèo, Chương trình nông thôn mới và Chương trình phát triển vùng dân tộc thiểu số, đã giúp tối ưu hóa nguồn lực, giảm chồng chéo và tạo ra tác động lan tỏa mạnh hơn. Nhiều địa phương đã tận dụng tốt sự lồng ghép để mở rộng sản xuất, nâng cấp hạ tầng và phát triển dịch vụ xã hội. Trong bối cảnh nguồn lực giai đoạn 2026–2030 sẽ tiếp tục phải sử dụng tiết kiệm, việc lồng ghép chính sách không chỉ cần được duy trì mà còn phải thực hiện bài bản hơn, dựa trên phân tích nhu cầu thực chất.
…đến những quan điểm “cốt lõi”
Từ những bài học trên, định hướng cho giai đoạn 2026 - 2030 phải dựa trên ba nhóm quan điểm cốt lõi: lấy con người làm trung tâm; lấy sinh kế bền vững làm trọng tâm; và lấy dữ liệu làm nền tảng quản trị. Trước hết, cần hoàn thiện chuẩn nghèo đa chiều theo hướng phù hợp hơn với bối cảnh đô thị, tác động của chuyển đổi số và thay đổi thị trường lao động. Bên cạnh đó, các chính sách hỗ trợ phải ưu tiên nhóm đối tượng dễ tổn thương nhất như dân tộc thiểu số, phụ nữ đơn thân, người khuyết tật và hộ nghèo sống tại vùng rủi ro thiên tai. Việc đầu tư sinh kế giai đoạn tới phải tập trung vào sản xuất thích ứng biến đổi khí hậu, mô hình xanh, mô hình số, sản xuất theo chuỗi giá trị và các ngành nghề phi nông nghiệp có tiềm năng.
Phát triển mạnh thị trường lao động bền vững cho người nghèo, từ kết quả gần 125.000 người được kết nối việc làm giai đoạn 2021 - 2025, giai đoạn tới cần đẩy mạnh đào tạo nghề gắn với nhu cầu doanh nghiệp, tăng cường hỗ trợ chuyển đổi nghề, mở rộng việc làm phi nông nghiệp và khuyến khích doanh nghiệp sử dụng lao động nghèo thông qua cơ chế ưu đãi. Đặc biệt, chuyển đổi số phải được đưa vào đào tạo nghề để giúp người nghèo tiếp cận cơ hội việc làm mới.
Đổi mới cơ chế phân cấp và tăng trách nhiệm giải trình của địa phương. Cấp tỉnh phải giữ vai trò hoạch định chiến lược và phân bổ nguồn lực, trong khi cấp huyện và xã phải là lực lượng trực tiếp triển khai, giám sát và đồng hành với người dân. Để làm được điều này, cần hoàn thiện cơ chế tài chính linh hoạt, trao quyền nhiều hơn cho cơ sở và kiểm tra chặt chẽ quá trình thực hiện để tránh thất thoát hoặc đầu tư không hiệu quả.
Giai đoạn 2026–2030 phải coi cộng đồng là chủ thể của giảm nghèo, chính quyền tạo nền tảng và hỗ trợ, người dân phải chủ động tham gia xây dựng mô hình, vận hành mô hình và giám sát nguồn lực. Việc phát huy vai trò của già làng, trưởng bản, tổ chức xã hội, phụ nữ và thanh niên sẽ tạo nên sự bền vững của các chương trình giảm nghèo ở cấp cơ sở. Những bài học rút ra trong quá trình thực hiện không chỉ có giá trị đối với chương trình giảm nghèo mà còn có ý nghĩa rộng hơn trong phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt khi đất nước bước vào giai đoạn mới với nhiều cơ hội nhưng cũng không ít thách thức. Khi được kế thừa và phát triển đúng hướng, các bài học đó sẽ trở thành nền tảng vững chắc để công tác giảm nghèo giai đoạn 2026 - 2030 đạt được mục tiêu bền vững, thực chất và toàn diện hơn./.
Ánh Dương
Tin tức cùng chuyên mục
Bài viết cùng tác giả