Những năm qua, nhiều mô hình sinh kế đã trở thành điểm tựa thiết thực để hàng chục nghìn phụ nữ nghèo tự lực vươn lên, chuyển hóa sự hỗ trợ thành năng lực, từ đó góp phần rất lớn vào mục tiêu giảm nghèo bền vững của đất nước. Những con số công bố gần đây cho thấy bức tranh giảm nghèo của Việt Nam tiếp tục có chuyển biến tích cực và phụ nữ ở nhiều địa phương chính là chủ thể tạo ra những chuyển biến đó. Từ công tác vận động vốn, hỗ trợ kỹ thuật đến kết nối thị trường, Hội Phụ nữ các cấp đã hiện thực hóa phương châm đồng hành để phụ nữ làm chủ cuộc sống.
Trước hết cần nhìn vào bối cảnh lớn hơn. Kết quả rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2024 theo chuẩn nghèo đa chiều cho thấy tỷ lệ nghèo đa chiều chung toàn quốc giảm còn 4,06 phần trăm, tương đương khoảng 1,26 triệu hộ nghèo và cận nghèo. Đây là cơ sở quan trọng để triển khai các chính sách an sinh và giảm nghèo trong giai đoạn 2021 đến 2025. Trong bối cảnh này, vai trò của các tổ chức chính trị xã hội, trong đó có Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam trở nên nổi bật bởi khả năng tiếp cận và vận động nguồn lực ở sát cơ sở, đồng thời thiết kế các mô hình phù hợp với thế mạnh của phụ nữ ở từng địa phương.
Mô hình sinh kế do Hội tổ chức đa dạng và thiết thực. Tại nhiều xã, phường, chi hội chọn giải pháp thành lập tổ vay vốn tiết kiệm, tổ hợp tác chăn nuôi nhỏ, tổ liên kết sản xuất chế biến nông sản, hoặc hỗ trợ phụ nữ tham gia chuỗi giá trị OCOP. Như ở một số địa phương vùng Đồng bằng sông Cửu Long, Hội phối hợp với Ngân hàng Chính sách xã hội và các đối tác để hình thành các nhóm tiết kiệm với mức vay nhỏ nhưng có lộ trình hỗ trợ kỹ thuật, từ đó giúp hội viên mở tiệm buôn bán nhỏ, mua máy may hoặc mở dịch vụ gia đình. Những khoản vay nhỏ cộng với hướng dẫn quản trị đơn giản đã giúp nhiều gia đình vượt qua gian khó và ổn định thu nhập.
![]() |
| Thời gian qua, đã có nhiều mô hình sinh kế phát huy hiệu quả, giúp phụ nữ nghèo tự tin phát triển kinh tế. |
Một mô hình giàu sức lan tỏa là quỹ nhỏ của chi hội, như mô hình “một nghìn đồng thay đổi tương lai” nơi các chi hội vận động những đóng góp nhỏ lẻ nhưng đều đặn để hình thành nguồn vốn cộng đồng. Số tiền khiêm tốn ban đầu sau một thời gian đã tạo thành khoản vốn có thể cho các chị vay không lãi hoặc có lãi thấp, giúp giải quyết nhu cầu khởi nghiệp rất thực tế như mua con giống, vật tư sản xuất, hoặc đầu tư cho con đi học nghề. Mô hình này vừa thúc đẩy tinh thần tương trợ vừa là công cụ huy động nguồn lực tại chỗ, phù hợp với địa bàn khó khăn nơi các nguồn tín dụng chính thức khó tiếp cận.
Bài học thành công rõ rệt có thể thấy ở một số tỉnh như An Giang. Tại đây, Hội Phụ nữ tỉnh đã triển khai Đề án hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp, kết hợp với chương trình OCOP và các nguồn vốn tín dụng địa phương, giúp hàng nghìn phụ nữ khởi nghiệp và tiếp cận vốn. Trong giai đoạn 2017 tới 2025 tỉnh đã hỗ trợ nhiều phụ nữ khởi nghiệp, tạo việc làm và hình thành các doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ. Cụ thể, Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh An Giang đã triển khai thực hiện Đề án hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp (gọi tắt Đề án 939) đã giúp gần 5.000 chị em phụ nữ khởi nghiệp, đặc biệt 1.558 doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ khởi nghiệp thành công.
Phó chủ tịch Hội LHPN tỉnh An Giang, bà Nguyễn Thị Quyến cho biết, qua 8 năm triển khai thực hiện Đề án 939, tỉnh đã hỗ trợ cho 4.950 hội viên khởi nghiệp, trong đó 1.558 doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ khởi nghiệp thành công; 8.082 phụ nữ được đào tạo nâng cao năng lực; 4.821 phụ nữ tiếp cận nguồn vốn để khởi nghiệp phát triển kinh doanh với số tiền hơn 124 tỉ đồng…
Ở những địa phương khác, như tại huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre (cũ), nay là tỉnh Vĩnh Long, nơi có 50% số hộ nghèo tại địa phương này do phụ nữ làm chủ. Để có hình thức hỗ trợ cho hội viên phụ nữ nghèo tham gia các đề án, dự án đa dạng sinh kế, thoát nghèo bền vững, huyện hội và các chi hội chú trọng công tác nắm bắt địa bàn và rà soát thông tin. Theo đó, trong 1.565 hộ nghèo do phụ nữ làm chủ có 1.095 hộ có khả năng thoát nghèo, chiếm tỷ lệ 70%. Cũng trong năm qua, các cấp hội hỗ trợ hơn 530 tỷ đồng vốn vay, giúp phát triển kinh tế gia đình và tạo việc làm cho hơn 80.000 phụ nữ; giúp 1.099/250 hộ phụ nữ thoát nghèo, thoát cận nghèo, đạt tỷ lệ 439,6%. Gần 1.700 nữ chủ doanh nghiệp, quản lý hợp tác xã, chủ hộ kinh doanh được hỗ trợ nâng cao năng lực, đạt 659,2% chỉ tiêu đăng ký.
Để mô hình sinh kế thực sự bền vững, Hội Phụ nữ chú trọng ba trụ cột thiết yếu. Thứ nhất là nâng cao năng lực cho phụ nữ bằng tập huấn kỹ thuật, quản trị hộ, kiến thức tiếp cận thị trường và chuyển đổi số. Khi chị em biết quản lý chi phí, đóng gói, nhãn mác và bán hàng trực tuyến, giá trị sản phẩm tăng lên và thị trường được mở rộng. Thứ hai là kết nối nguồn vốn có điều kiện, bao gồm cả vốn ngân hàng chính sách và quỹ tín dụng vi mô do Hội vận động, để đảm bảo phụ nữ có thể đầu tư nhưng không rơi vào bẫy nợ. Thứ ba là phát triển mô hình kinh tế tập thể do phụ nữ làm chủ, từ tổ hợp tác đến hợp tác xã, nhằm tăng khả năng liên kết chuỗi giá trị và giảm rủi ro thị trường cho hộ nhỏ lẻ. Những trụ cột này không tách rời mà hỗ trợ lẫn nhau để tạo nền tảng cho sinh kế bền vững.
Tuy nhiên vẫn còn thách thức cần nhìn thẳng. Một số địa bàn miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn thiếu hạ tầng, kiến thức thị trường và tiếng phổ thông để tiếp cận thông tin. Việc phân rã sản xuất quy mô nhỏ khiến chi phí logistics cao và thu nhập thấp. Bên cạnh đó, sự phụ thuộc vào các dự án ngắn hạn và nguồn vốn hỗ trợ không có bước chuyển giao kỹ thuật lâu dài có thể khiến hiệu quả không bền vững. Do vậy việc thiết kế chương trình phải hướng tới chu kỳ hỗ trợ đủ dài, đi từ đào tạo đến hậu kiểm và nối kết thị trường.
Nhìn về phía trước, cần có chính sách khuyến khích mạnh hơn cho vai trò kiến tạo của Hội Phụ nữ trong hệ sinh thái giảm nghèo. Nhà nước và các đối tác cần ưu tiên nguồn lực cho đào tạo nâng cao năng lực quản trị doanh nghiệp nhỏ của phụ nữ, hỗ trợ cơ sở hạ tầng số để phụ nữ tiếp cận thương mại điện tử, và tạo cơ chế liên kết giữa các chuỗi giá trị nông sản với doanh nghiệp tiêu thụ. Đồng thời việc ghi nhận và nhân rộng các mô hình địa phương hiệu quả thông qua cơ chế hỗ trợ kỹ thuật và tài chính sẽ giúp nhân rộng thành công.
Tóm lại, Hội Phụ nữ đã và đang trở thành lực lượng quan trọng trong quá trình giảm nghèo bền vững của đất nước. Những mô hình sinh kế từ quỹ chi hội nhỏ đến tổ hợp tác, từ mô hình cho vay tiết kiệm đến kết nối OCOP đã chứng minh tính khả thi và hiệu quả khi được thiết kế sát thực tế và gắn với nâng cao năng lực cho phụ nữ. Muốn hướng tới mục tiêu giảm nghèo bền vững, cần tiếp tục tin tưởng và đầu tư cho vai trò chủ thể của phụ nữ, vì khi phụ nữ có điều kiện làm chủ sinh kế thì cả gia đình và cộng đồng đều được hưởng lợi./.
Hoài Nga
Tin tức cùng chuyên mục
Bài viết cùng tác giả