Tiếng Việt
Tiếng Việt Tiếng Anh

Phát triển kinh tế sinh học nông nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh: Từ tư duy thâm dụng tài nguyên đến mô hình tăng trưởng dựa trên tri thức

Ngày đăng: 22/01/2026   07:18
Đọc bài viết
Mặc định Cỡ chữ
Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu thực trạng và triển vọng phát triển kinh tế sinh học (KTSH) nông nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh trong bối cảnh diện tích đất sản xuất bị thu hẹp do đô thị hóa. Bằng phương pháp phân tích đối chiếu giữa nông nghiệp truyền thống và mô hình KTSH dựa trên tri thức, tác giả khẳng định KTSH là động lực tăng trưởng mới, giúp tối ưu hóa giá trị trên một đơn vị diện tích thông qua ứng dụng công nghệ sinh học và kinh tế tuần hoàn. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, với các hạt nhân như Khu Nông nghiệp công nghệ cao và Trung tâm Công nghệ sinh học, Thành phố có lợi thế dẫn đầu về R&D và sản xuất giống. Bài viết cũng phân tích tiềm năng từ liên kết vùng sau sáp nhập để mở rộng không gian kinh tế. Cuối cùng, tác giả đề xuất các giải pháp đột phá dựa trên cơ chế đặc thù của Nghị quyết 98/2023/QH15 và Nghị quyết 260/2025/QH15, tập trung vào xây dựng hệ sinh thái Bio-cluster và thu hút nhân lực chất lượng cao để định vị Thành phố trở thành trung tâm KTSH của khu vực.

Một số hình ảnh tại Trung tâm Công nghệ sinh học TPHCM

Từ khóa: Kinh tế sinh học, Nông nghiệp đô thị, Thành phố Hồ Chí Minh, Nghị quyết 98 và 260, Tăng trưởng dựa trên tri thức.

Abstract: This paper examines the current state and prospects of agricultural bioeconomy development in Ho Chi Minh City amidst shrinking agricultural land due to urbanization. By comparing traditional agriculture with a knowledge-based bioeconomy model, the author identifies the bioeconomy as a new growth driver that optimizes value per unit area through biotechnology and circular economy applications. Research findings indicate that with core hubs like the Hi-Tech Agricultural Park and the Biotechnology Center, the City holds a leading advantage in R&D and seed production. The article also analyzes the potential of regional linkages post-merger to expand economic space. Finally, the author proposes breakthrough solutions leveraging the specific mechanisms of Resolution 98/2023/QH15 & Resolution 260/2023/QH15, focusing on developing Bio-cluster ecosystems and attracting high-quality human resources to position the City as a regional bioeconomy hub.

Keywords: Bioeconomy, Urban agriculture, Ho Chi Minh City, Resolution 98 & 260, Knowledge-based growth.

1. Kinh tế sinh học - lời giải bài toán nông nghiệp đô thị thế kỷ XXI

Các thuật ngữ bền vững, kinh tế tuần hoàn và kinh tế sinh học đã trở nên phổ biến hơn trong những năm gần đây, từ chỗ chỉ giới hạn trong giới học thuật đến việc thường xuyên xuất hiện trên các phương tiện truyền thông, kế hoạch hành động kinh doanh và chiến lược chính trị (Ủy ban Châu Âu, 2022). Kinh tế sinh học không chỉ là kinh tế ứng dụng trong nông nghiệp (kinh tế nông nghiệp) mà còn là cách tiếp cận toàn diện hơn, xem xét các giới hạn sinh vật học và năng lượng đối với tăng trưởng kinh tế (Cargill, 2024). Trong bối cảnh toàn cầu đang đối mặt với những thách thức từ biến đổi khí hậu và sự cạn kiệt tài nguyên, mô hình tăng trưởng dựa trên khai thác thô đã dần chạm đến ngưỡng giới hạn. Trong đó, kinh tế sinh học nổi lên như một trụ cột trung tâm, đặc biệt là trong lĩnh vực nông nghiệp – ngành hàng chiếm khoảng 24% lượng phát thải khí nhà kính toàn cầu nhưng cũng nắm giữ chìa khóa của sự phục hồi sinh thái (OECD, 2020). Tại châu Âu, Kinh tế sinh học đã tạo ra doanh thu hàng năm khoảng 2,3 nghìn tỷ Euro bằng cách tái sử dụng và chuyển đổi các tài nguyên sinh học (European Commission, 2021). Trên quy mô kinh tế, các đổi mới dựa trên sinh học này được McKinsey Global Institute (2020) ước tính có thể tạo ra tác động kinh tế trực tiếp hàng năm lên tới 2 nghìn tỷ đến 4 nghìn tỷ USD trên toàn cầu trong vòng 10 đến 20 năm tới, với phần lớn giá trị đến từ lĩnh vực thực phẩm và nông nghiệp.  Theo Viện Toàn cầu McKinsey (McKinsey Global Institute), “về nguyên tắc, có tới 60% đầu vào vật chất cho nền kinh tế toàn cầu có thể được sản xuất bằng phương pháp sinh học” (Mc Kinsey, 2020).

Phát triển kinh tế sinh học nông nghiệp là một đòi hỏi cấp thiết và chiến lược ưu tiên của Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và biến đổi khí hậu. Đây là chìa khóa để thực hiện công cuộc đổi mới mô hình tăng trưởng, chuyển dịch từ nền nông nghiệp thâm dụng tài nguyên sang nền sản xuất giá trị gia tăng cao dựa trên khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo (Bộ Nông nghiệp & Môi trường, 2023). Hiện nay, Việt Nam chưa có số liệu tính toán chính thức đóng góp thực tế của kinh tế sinh học vào GDP cả nước một cách riêng biệt và toàn diện. Tuy nhiên, Việt Nam đã xác định mục tiêu đóng góp tiềm năng của ngành đó là: đưa Công nghiệp sinh học đóng góp 10-15% vào GDP cả nước vào năm 2045, khẳng định vai trò là ngành kinh tế - kỹ thuật quan trọng hàng đầu, tạo động lực phát triển bứt phá và bền vững cho đất nước (Bộ Chính trị, 2023; Bộ Khoa học và Công nghệ, 2023).  

Phát triển kinh tế sinh học trong nông nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh là yêu cầu cấp thiết và là chiến lược phát triển đô thị bền vững, giúp thành phố giải quyết bài toán an ninh lương thực, nâng cao chất lượng việc làm và củng cổ vị thế là trung tâm kinh tế - khoa học công nghệ của cả nước. Thứ nhất, tận dụng lợi thế không gian nông nghiệp mở rộng. Việc sáp nhập mở rộng đáng kể không gian địa lý của TP.HCM, tạo ra một vùng nông nghiệp rộng lớn và đa dạng về hệ sinh thái. Tính cấp thiết của kinh tế sinh học nằm ở khả năng phân vai và tận dụng tối đa lợi thế này. Khu vực trung tâm thành phố (bao gồm Khu Nông nghiệp công nghệ cao, Trung tâm Công nghệ sinh học TP.HCM thuộc Khu Công nghệ cao TP.HCM, các trường đại học) sẽ trở thành trung tâm nghiên cứu, sản xuất giống và chuyển giao công nghệ sinh học hàng đầu. Thứ hai, đối phó áp lực đô thị hóa và hạn chế đất đai: TP.HCM phải đối mặt với áp lực thu hẹp đất nông nghiệp truyền thống do quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh chóng. Phát triển kinh tế sinh học là con đường duy nhất để giải quyết mâu thuẫn giữa nhu cầu thực phẩm khổng lồ và quỹ đất hạn chế. Thứ ba, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững và thích ứng biến đổi khí hậu: Kinh tế sinh học là nền tảng để TP.HCM xây dựng kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp. Điều này giúp giảm thiểu ô nhiễm môi trường và tối ưu hóa việc sử dụng tài nguyên, mang lại giá trị gia tăng bền vững cho toàn bộ hệ thống nông nghiệp của Thành phố.

Một số hình ảnh tại Trung tâm Công nghệ sinh học TPHCM

2. Cơ sở lý thuyết về phát triển kinh tế sinh học nông nghiệp

Theo FAO (2023), kinh tế sinh học trong nông nghiệp là việc sản xuất, sử dụng, chế biến và bảo tồn các tài nguyên sinh học từ đất đai và biển để cung cấp thực phẩm, thức ăn chăn nuôi và các sản phẩm nông nghiệp khác, trong khi vẫn đảm bảo tính bền vững sinh thái và kinh tế - xã hội. UNDP không đưa ra một định nghĩa hẹp dành riêng cho kinh tế sinh học trong nông nghiệp. Thay vào đó, UNDP lồng ghép kinh tế sinh học vào khuôn khổ rộng hơn là phát triển bền vững và an ninh lương thực thông qua các mục tiêu phát triển bền vững (SDGs). Quan niệm của UNDP về kinh tế sinh học là một khuôn khổ chính sách tập trung vào sự công bằng và tính bao trùm, với ngành nông nghiệp là một lĩnh vực ứng dụng trọng tâm. Brazil định nghĩa Kinh tế sinh học là một mô hình phát triển kinh tế và sản xuất dựa trên các giá trị công bằng, đạo đức và bao trùm, có khả năng tạo ra các sản phẩm, quy trình và dịch vụ hiệu quả, được hướng dẫn bởi việc sử dụng bền vững, tái tạo và bảo tồn đa dạng sinh học.

Theo tác giả, phát triển kinh tế sinh học nông nghiệp được hiểu là “tập trung ứng dụng công nghệ sinh học hiện đại, phát triển kinh tế sinh học tuần hòa, nâng cao giá trị gia tăng và phát triển công nghiệp sinh học nhằm chuyển đổi toàn diện ngành nông nghiệp và chuỗi giá trị liên ngành, hướng tới nền kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh và phát triển bền vững”.

Kinh tế sinh học nông nghiệp nông nghiệp đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với sự phát triển bền vững của quốc gia, thể hiện qua ba khía cạnh cụ thể về kinh tế, môi trường và xã hội. Thứ nhất, Kinh tế sinh học là động lực chính để chuyển đổi ngành nông nghiệp Việt Nam từ mô hình sản xuất số lượng lớn sang sản xuất giá trị gia tăng cao và công nghiệp sinh học mũi nhọn. Việt Nam đặt mục tiêu đưa ngành này đóng góp 10-15% GDP cả nước vào năm 2045 (Bộ Chính trị, 2023). Thứ hai, Kinh tế sinh học đóng vai trò then chốt trong việc giảm thiểu dấu chân carbon và phục hồi hệ sinh thái nông nghiệp. Việc thay thế dần các hóa chất độc hại bằng các chế phẩm sinh học không chỉ bảo vệ đa dạng sinh học mà còn là giải pháp thiết yếu để nông nghiệp Thành phố thích ứng với các hiện tượng cực đoan như xâm nhập mặn và biến đổi khí hậu. Thứ ba, kinh tế sinh học góp phần quan trọng vào việc cải thiện sinh kế, sức khỏe cộng đồng và đạt được các Mục tiêu Phát triển Bền vững (SDGs) của Liên Hợp Quốc. UNDP nhấn mạnh rằng, kinh tế sinh học phải có tính bao trùm và công bằng xã hội, đảm bảo rằng lợi ích của việc đổi mới công nghệ được chia sẻ đến cả các cộng đồng nông thôn và nông dân quy mô nhỏ.

Một số hình ảnh tại Trung tâm Công nghệ sinh học TPHCM

3. Phân tích đánh giá hạn chế và tiềm năng, thế mạnh để phát triển kinh tế sinh học nông nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh

3.1. Phân tích hạn chế và nguyên nhân kìm hãm sự phát triển kinh tế sinh học 

Theo tác giả, phát triển kinh tế sinh học nông nghiệp tại TP.HCM đang đối mặt với nhiều điểm nghẽn có tính hệ thống như sau:

Thứ nhất, sự thiếu hụt về phương pháp luận và khoảng trống dữ liệu.

Đo lường chưa định danh: Hiện chưa có hệ thống giám sát và khung chỉ số thống nhất để tách bạch đóng góp của KTSH trong tổng thể nền kinh tế. Các chỉ số kinh tế truyền thống đang trộn lẫn hoạt động sinh học và phi sinh học, dẫn đến việc đánh giá thấp quy mô và vai trò thực tế của khu vực này.

Sự thiếu hụt dữ liệu hệ thống về tài nguyên sinh khối: Dữ liệu về dòng chất thải hữu cơ và phụ phẩm nông nghiệp còn rời rạc, chưa được số hóa. Điều này gây khó khăn cho việc lập quy hoạch các mô hình “Waste to Value”, làm lãng phí nguồn tài nguyên thay thế nhiên liệu hóa thạch tiềm năng.

Thứ hai, sự đứt gãy giữa chính sach, hạ tầng và năng lực thực thi

Thế chế thiếu tính liên ngành: Khung chính sách hiện tại còn mang tính cục bộ, chưa có sự phối hợp giữa các ngành nông nghiệp – môi trường – năng lượng và KHCN. Điều này tạo ra rào cản pháp lý, khiến các doanh nghiệp khó tiếp cận các ưu đãi về đầu tư sinh học.

Hạ tầng và chuyển giao chưa tương xứng: Hệ thống logistics chuyên dụng (xử lý, lưu trữ sinh khối) và các nhà máy chế biến sinh học hiện đại còn thiếu hụt trầm trọng. Đồng thời khoảng cách từ phòng thí nghiệm đến thực tế còn xa do thiếu các mô hình trình diễn và dịch vụ khuyến nông sinh học chuyên sâu.

Thứ ba, những nghịch lý về tính bền vững và sự chấp nhận của xã hội

Áp lực cạnh tranh nguồn lực: KTSH không tự thân bền vững. Với quỹ đất hạn hẹp của Thành phố, việc mở rộng sản xuất sinh khối phi thực phẩm dễ gây ra xung đột với mục tiêu an ninh lương thực và gây áp lực sinh thái nông nghiệp đô thị.

Rào cản tâm lý và đạo đức: Mức độ sẵn lòng đón nhận công nghệ mới như chỉnh sửa gen, sản phẩm sinh học đột phá của người tiêu dùng vẫn là một thách thức. Những nghi ngại về tính an toàn và đạo đức sinh học có thể làm chậm quá trình thương mại hóa và phổ cập các giá trị sinh học mới.

Tóm lại, những hạn chế nêu trên cho thấy kinh tế sinh học tại TP.HCM đang ở giai đoạn tiềm năng lớn nhưng kết nối yếu. Việc giải quyết các điểm nghẽn về dữ liệu, thể chế, hạ tầng không chỉ là yêu cầu kỹ thuật, mà là điều kiện tiên quyết để chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ nông nghiệp truyền thống sang kinh tế sinh học tuần hoàn.

3.2. Phân tích tiềm năng, thế mạnh phát triển kinh tế sinh học nông nghiệp của Thành phố Hồ Chí Minh

Việc hình thành mô hình siêu đô thị mở rộng cùng các cơ chế đặc thù đã hội tụ đủ thiên thời, địa lợi, nhân hòa để TP.HCM trở thành hạt nhân kinh tế sinh học của khu vực. Tiềm năng này được khẳng định qua bốn trụ cột chiến lược sau:

Thứ nhất, hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và nền tảng tài chính đột phá.

TP.HCM sở hữu mật độ tri thức cao nhất cả nước với hệ sinh thái khởi nghiệp xếp hạng 110 toàn cầu và dẫn đầu công nghệ mới (Blockchain), AI). Đây là nền tảng số hóa toàn diện KTSH thông qua các chương trình Chuyển đổi số, Đô thị thông minh. Đặc biệt việc triển khai Nghị quyết 98/2023/QH15 và Nghị quyết 260/2025/QH15, Thành lập Trung tâm Tài chính Quốc tế tạo ra cơ chế và hành lang pháp lý vượt trội (sandbox) cho phép Thành phố huy động các nguồn lực tài chính xanh, tài trợ không hoàn lại cho R&D sinh học – một lợi thế mà các địa phương khác chưa có.

Thứ hai, thị trường tiêu dùng siêu quy mô và hạ tầng thương mại đa kênh

Với dân số 13,6 triệu người, thu nhập bình quân dẫn đầu cả nước, TP.HCM mở rộng là thị trường tiêu thụ sản phẩm sinh học cao cấp lớn nhất Việt Nam. Về hạ tầng vật lý với mạng lưới hơn 400 chợ, 300 siêu thị, 3.600 cửa hàng tiện lợi tạo thành chuỗi cung ứng hàng hóa khổng lồ. Về Hạ tầng số: Với 33% thị phần TMĐT cả nước và sự phổ biến của các nền tảng xuyên biên giới (Shopee, TikTok, Amazon), Thành phố sở hữu khả năng thương mại hóa thần tốc các sản phẩm KTSH, giúp đưa kết quả nghiên cứu từ phòng thí nghiệm đến bàn ăn của ngời tiêu dùng trong thời gian ngắn.

Thứ ba, hạ tầng công nghệ chuyên sâu và năng lực R&D hạt nhân

Thế mạnh của Thành phố đó là có Khu Nông nghiệp Công nghệ cao, Trung tâm Công nghệ sinh học TP.HCM. Với hơn 70% nhiệm vụ khoa học được ứng dụng thực tế và doanh thu mô hình đạt mức tỷ đồng/năm. AHTP đã chứng minh tính hiệu quả của nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp thông minh. HCMBioTech đóng vai trò quan trọng, làm chủ các kỹ thuật gen và tế bào, đảm bảo cung ứng nguồn giống và chế phẩm sinh học chất lượng cao, giúp sản phẩm nông nghiệp TP.HCm đáp ứng được các rào cản kỹ thuật khắt khe nhất để xuất khẩu.

Thứ tư, dư địa không gian kinh tế và sự cộng hưởng vùng sau sáp nhập

Việc mở rộng diện tích đất sản xuất lên gấp 4 lần đã giải quyết triệt để điểm nghẽn về không gian canh tác trước đây. Sự hình thành chuỗi giá trị liên kết giữa 3 khu vực tạo nên một cấu trúc KTSH hoàn chỉnh: Lõi trung tâm TPHCM cũ, giữ vai trò bộ não, tập trung nghiên cứu, sản xuất giống và nông nghiệp đô thị giá trị cao; Vành đai Bình Dương trở thành vùng nguyên liệu sạch, phát triển chăn nuôi và cây công nghiệp hữu cơ quy mô lớn; Vành đai Bà Rịa – Vũng Tàu, trở thành kinh tế biển sinh học tập trung thủy sản công nghệ cao gắn với dược liệu biển và du lịch sinh thái.

Trong bối cảnh quỹ đất đô thị có xu hướng bị thu hẹp bởi tốc độ công nghiệp hóa, việc chuyển dịch sang nông nghiệp công nghệ sinh học không chỉ là giải pháp đảm bảo an ninh lương thực mà còn là chiến lược để TP.HCM xuất khẩu tri thức sinh học. Đây là bước đi tất yếu để chuyển hóa các áp lực về môi trường và già hóa dân số thành động lực phát triển bền vững, định vị thành phố là “Bio – Hub” hàng đầu Đông Nam Á.

Sự chuyển dịch này không chỉ nằm ở quy mô sản xuất mà còn là sự thay đổi bản chất của các yếu tố đầu vào và quy trình vận hành. Để làm rõ sự khác biệt giữa mô hình nghiệp truyền thống và kinh tế sinh học dựa trên tri thức, Bảng 1 dưới đây sẽ cung cấp cái nhìn chi tiết.

4. Đề xuất các nhóm giải pháp chiến lược nhằm phát triển kinh tế sinh học nông nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh

Thứ nhất, tận dụng cơ chế đặc thù từ Nghị quyết 98/2023/QH15 và Nghị quyết 260/2025/QH15 để xây dựng hệ sinh thái Cụm liên kết sinh học (Bio-Clusters) tập trung. Khách với các khu công nghiệp truyền thống, Bio-Clusters là nơi các doanh nghiệp vận hành theo mô hình tuần hoàn: phế phẩm của ngành chế biến thực phẩm sẽ là nguyên liệu đầu vào cho ngành dược phẩm hoặc năng lượng sinh học. Kiến nghị áp dụng chính sách ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp và miễn thuế hập khẩu đối với các thiết bị công nghệ cao phục vụ R&D trong lĩnh vực KTSH nông nghiệp. Sử dụng quỹ đất tại các khu vực ngoại thành sau khi quy hoạch lại để hình thành các vùng xanh công nghệ, nơi cho phép thử nghiệm các mô hình kinh tế tuần hoàn chưa có tiền lệ (Sandbox).

Thứ hai, khơi thông dòng vốn thông qua các công cụ tài chính xanh.  Một trong những điểm nghẽn lớn nhất hiện nay là chi phí đầu tư cho công nghệ sinh học thường rất lớn và rủi ro cao. Kiến nghị: Đẩy mạnh triển khai Nghị quyết 07/2018/NQ-HĐND về hỗ trợ lãi suất kích cầu, nhưng cần mở rộng đối tượng sang các doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực KTSH. Đồng thời, Thành phố cần thí điểm phát hành Trái phiếu xanh nông nghiệp để huy động vốn xã hội cho các dự án bảo tồn nguồn gen, sản xuất giống và xử lý phụ phẩm nông nghiệp quy mô lớn.

Thứ ba, thu hút nhân tài và chuyên gia quốc tế. Kinh tế sinh học là nền kinh tế dựa trên tri thức, do đó nhân lực là yếu tố quyết định. Kiến nghị: Tận dụng Nghị quyết 98 và Nghị quyết 260/2025/QH15  để xây dựng cơ chế tiền lương và đãi ngộ đặc thù cho các chuyên gia đầu ngành về Tin sinh học (Bioinformatics), AI sinh học và Công nghệ gen. Thành phố nên thiết lập các chương trình hợp tác đào tạo quốc tế, đưa kỹ sư, chuyên gia tại các hạt nhân như Trung tâm Công nghệ sinh học và AHTP đi tu nghiệp tại các cường quốc KTSH như Hà Lan, Israel hoặc Nhật Bản.

Thứ tư, xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu số về sinh khối. Để thực hiện kinh tế tuần hoàn, chúng ta cần biết rõ tài nguyên đang ở đâu. Kiến nghị: Xây dựng bản đồ số về nguồn phụ phẩm nông nghiệp và sinh khối tại TP.HCM và các tỉnh lân cận. Việc minh bạch hóa dữ liệu về nguồn cung nguyên liệu sinh học sẽ giúp các nhà đầu tư dễ dàng nhận diện cơ hội và tối ưu hóa chi phí logistics, từ đó hình thành các chuỗi giá trị xuyên suốt từ trang trại đến phòng thí nghiệm và thị trường.

5. Kết luận

 Phát triển kinh tế sinh học nông nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh không chỉ là một giải pháp tình thế để ứng phó với sự thu hẹp quỹ đất, mà là một chiến lược dài hạn nhằm định vị lại vị thế của Thành phố trong kỷ nguyên kinh tế xanh. Thông qua việc chuyển dịch từ tư duy thâm dụng tài nguyên sang thâm dụng tri thức, Thành phố hoàn toàn có thể trở thành một Bio-Hub – bộ não điều phối công nghệ và tri thức sinh học cho cả khu vực phía Nam và Đông Nam Á.

Sự thành công của mô hình này đòi hỏi một quyết tâm chính trị mạnh mẽ, sự đồng hành của cộng đồng khoa học và đặc biệt là một khung pháp lý linh hoạt, dám chấp nhận thử nghiệm những điều mới mẻ. Với nền tảng hạ tầng hiện có và những cơ chế đặc thù từ Nghị quyết 98 và Nghị quyết 260/2025/QH15, TP.HCM đang đứng trước vận hội lớn để biến nông nghiệp trở thành một ngành kinh tế công nghệ cao, xanh và bền vững, góp phần hiện thực hóa cam kết Net Zero của Việt Nam vào năm 2050.

 

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bộ Chính trị. (2022). Nghị quyết số 31-NQ/TW ngày 30/12/2022 về phương hướng, nhiệm vụ phát triển Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

2. Bộ Nông nghiệp và Môi trường (2023). Đề án phát triển Công nghiệp sinh học ngành Nông nghiệp và PTNT đến năm 2030. (Văn bản chiến lược, có thể tìm kiếm trên cổng thông tin của Bộ NN&PTNT).

3. Bộ Khoa học và Công nghệ, 2023. Quyết định 1856/QĐ-BNN-KHCN của Bộ Khoa học và Công nghệ về Phê duyệt Đề án phát triển Công nghiệp sinh học ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đến năm 2030.

4.Cargill. (2024). Bioeconomy: Limits and energy for economic growth.

5.European Commission. (2022). Bioeconomy strategy: European bioeconomy in figures.

6. OECD. (2020). The Bioeconomy to 2030: Designing a Policy Agenda.

7. Quốc hội Việt Nam. (2023). Nghị quyết số 98/2023/QH15 ngày 24/6/2023 về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển Thành phố Hồ Chí Minh.

8. Quốc hội Việt Nam. (2025). Nghị quyết số 260/2025/QH15 ngày 11 tháng 12 năm 2025 của Quốc Hội về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 98/2023/QH15 ngày 24 tháng 6 năm 2023 của Quốc hội về thí điểm một số cơ chế chính sách đặc thù phát triển Thành phố Hồ Chí Minh.

9. UBND Thành phố Hồ Chí Minh. (2018). Nghị quyết số 07/2018/NQ-HĐND về chính sách kích cầu đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp của Thành phố.

TS.Tô Thị Thùy Trang - Viện Nghiên cứu phát triển TP.HCM