Abstract: This study investigates the impact of foreign direct investment (FDI) and CO₂ emissions on economic growth in 17 Asia-Pacific countries during 2016–2021. Using the Generalized Method of Moments (GMM), the study addresses endogeneity and dynamic panel issues.
The results reveal that FDI significantly promotes economic growth both contemporaneously and with a one-year lag. In contrast, CO₂ emissions only exert a positive contemporaneous effect without significant lagged impact. These findings highlight the dual role of FDI as both a growth driver and a potential environmental risk factor.
The study contributes to the literature by emphasizing the importance of selective FDI policies and sustainable development strategies.
Keywords: Foreign Direct Investment, Air pollution, Economic growth.
1. Giới thiệu
Phát triển kinh tế luôn là vấn đề cấp thiết toàn cầu từ xưa đến nay. Tuy nhiên, ở thời điểm hiện tại, bên cạnh việc phát triển kinh tế quốc gia, một vấn đề khác có tầm quan trọng không kém cạnh bắt đầu nổi lên và được nhiều sự chú ý hơn từ các quốc gia, đó là việc bảo vệ môi trường. Có rất nhiều quốc gia tiên tiến và phát triển đã đi tiên phong trong phong trào hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở quốc gia của họ và rất nhiều nước nhỏ hơn cũng bắt đầu phổ cập xu hướng này tại quốc gia của mình.
Các công cuộc phát triển kinh tế trong quá khứ đã để lại rất nhiều tổn thương cho môi trường. Ô nhiễm không khí và sự nóng lên toàn cầu là hai trong số những vấn đề toàn cầu được quan tâm và chú ý nhất trong nhiều thập kỷ qua và một trong những nguyên nhân chính gây ra những vấn đề này chính là đến từ lượng khí thải cacbon điôxít (CO2). Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu IPCC nhấn mạnh tầm quan trọng của phát thải CO2 trong việc góp phần vào lượng phát thải khí nhà kính (GHG). Báo cáo cho thấy rằng lượng phát thải CO2 chiếm tới 76% lượng phát thải khí nhà kính do con người tạo ra, chủ yếu là do các nước đang phát triển tạo ra trong quá trình đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng và tăng sản lượng quốc gia nhằm đạt được mục tiêu kinh tế tốt hơn. Do đó, việc hiểu được lý do đằng sau sự phát thải CO2 của các nước đang phát triển có tầm quan trọng lớn đối với các nhà hoạch định chính sách.
Mô hình đường cong Kuznets về môi trường (EKC) được các nhà nghiên cứu sử dụng rất nhiều trong các nghiên cứu liên quan đến phát triển kinh tế và ô nhiễm môi trường. Giả thuyết về đường cong Kuznets về môi trường (EKC) nói rằng có một mối quan hệ hình chữ U ngược giữa tăng trưởng kinh tế và ô nhiễm môi trường. Áp lực môi trường sẽ tăng lên trong giai đoạn đầu của tăng trưởng kinh tế do sự gia tăng phát thải các chất ô nhiễm và việc khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên đi kèm với việc sử dụng nhiều hơn các nguồn lực sản xuất và áp dụng một số công nghệ sản xuất nhất định để thúc đẩy phát triển kinh tế. Khi thu nhập tăng lên, nhận thức của cộng đồng ngày càng tăng, mối quan tâm về suy thoái môi trường và các hoạt động nghiên cứu, phát triển được định hướng nhiều hơn về khái niệm nền kinh tế xanh, nó bắt đầu giảm dần.
Sự tồn tại của đường cong Kuznets ở Việt Nam được kiểm tra bởi Al-Mulali, Saboori, & Ozturk (2015) trong giai đoạn 2016-2021. Kết quả của nghiên cứu chỉ ra mối quan hệ thuận chiều giữa ô nhiễm không khí và tăng trưởng kinh tế cả trong ngắn hạn và dài hạn, có nghĩa là giả thuyết EKC không có giá trị ở Việt Nam. Ở một khía cạnh khác, bài nghiên cứu của nhóm Shahbaz, Haouas, & Hoang (2019) sử dụng một mẫu dữ liệu hàng năm của Việt Nam từ năm 2016 đến 2021. Kết quả đã chứng minh rằng EKC không xảy ra trong ngắn hạn mà chỉ xảy ra trong dài hạn.
Ngoài ra, Hanif & Gago-de-Santos (2017) đã thiết lập bằng chứng thực nghiệm về sự phù hợp của lý thuyết EKC đối với 86 quốc gia phát triển, trong khoảng thời gian từ năm 2016 đến năm 2021. Các kết quả nghiêm ngặt đã xác thực sự tồn tại của giả thuyết EKC tại các quốc gia mới nổi này bằng cách áp dụng nhiều phương pháp tiếp cận kinh tế lượng. Gần đây, trong một bài nghiên cứu của Ahmad, Muslija và Satrovic (2021) để tìm ra liệu sự thịnh vượng của nền kinh tế có dẫn đến sự bền vững về môi trường tại các quốc gia đang phát triển cho thấy sự hiện diện của lý thuyết EKC đối với các quốc gia như Brazil, Trung Quốc, Ấn Độ, Malaysia, Liên bang Nga, Thái Lan và Thổ Nhĩ Kỳ. Có nghĩa là các quốc gia này đang trên con đường đạt được sự bền vững về môi trường trong dài hạn. Tuy nhiên, lại không có sự tồn tại của giả thuyết EKC tại các quốc gia Mexico, Philippines, Indonesia và Nam Phi.
Từ kinh nghiệm phát triển của các nước cho thấy rằng, một số nước đã chấp nhận ô nhiễm môi trường vì lợi ích tăng trưởng kinh tế, nhưng một số nước khác thành công trong tăng trưởng kinh tế đồng thời vẫn bảo vệ được môi trường. Trong một bài báo của Anh (2019) đã chỉ ra, trong khi nền kinh tế Trung Quốc tăng trưởng đi kèm với mức độ ô nhiễm không khí tăng nghiêm trọng qua các năm thì Norway vẫn đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế lẫn giảm thiểu ô nhiễm không khí đi đáng kể. Còn trong nghiên cứu của Holtz-Eakin & Selden (1995), các kết quả ước tính cho thấy xu hướng thải CO2 cận biên đang giảm dần khi GDP bình quân đầu người tăng lên, nhưng mức phát thải CO2 toàn cầu vẫn sẽ tiếp tục tăng bởi vì tình trạng sản xuất đầu ra và dân số tăng nhanh chóng ở các quốc gia có thu nhập thấp mà lại có phát thải CO2 cận biên cao. Trong bài nghiên cứu mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và chất lượng môi trường, Shafik (1994) cũng nói rõ tăng trưởng kinh tế có xu hướng gắn liền với cải thiện môi trường ở những nơi có chi phí khái quát và lợi ích đáng kể nhưng tại nơi mà chi phí của suy thoái môi trường đang gánh chịu bởi những người nghèo hoặc các quốc gia khác, họ có rất ít động lực để thay đổi hành vi gây tổn hại môi trường.
Theo giả thuyết về đường cong Kuznets về môi trường (EKC) thì việc suy thoái môi trường tăng lên trong giai đoạn đầu của nền kinh tế là không thể tránh khỏi, tuy nhiên sự hồi phục về chất lượng môi trường có diễn ra hay không, và diễn ra nhanh hay chậm còn phụ thuộc vào các chính sách đến từ các nhà hoạch định chính sách. Trong đó, các chính sách về đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI cần được quan tâm hơn để làm giảm tác động tiêu cực, đặc biệt là ở các quốc gia đang phát triển.
Chính phủ Việt Nam đã và vẫn đang tiếp tục cải cách nền kinh tế theo hướng hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Tính tới hiện tại, Việt Nam đã ký kết 2 Hiệp định Thương mại tự do (FTA) thế hệ mới. Các hiệp định này mở ra nhiều cơ hội cho Việt Nam thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, nhưng cùng với nó cũng nảy sinh nhiều hệ lụy về môi trường. Theo Ngoan (2019), tính đến năm 2017, chỉ 5% doanh nghiệp FDI đầu tư vào Việt Nam có công nghệ cao, 80% có công nghệ trung bình, còn lại 14% là sử dụng công nghệ thấp. Dòng vốn FDI tập trung nhiều nhất là lĩnh vực: dệt may, hóa chất, điện tử, giấy, gang thép - tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây ô nhiễm môi trường.
Do quá trình giám sát và quản lý lỏng lẻo của các cơ quan chuyên ngành và mức phạt chưa đạt hiệu quả của các chính sách đã tạo điều kiện cho nhiều doanh nghiệp FDI lợi dụng. Phải chăng vì chạy theo thành tích tăng trưởng GDP nên Việt Nam trở nên dễ dãi trong việc thu hút FDI, dẫn đến nhập khẩu ô nhiễm vào Việt Nam. Mà theo TS. Lê Đăng Doanh nêu như một trong những bài học đắt giá xuất phát từ “lòng tham FDI” như vụ Vedan xả thải ra sông Thị Vải, Kung Kuang ở Phú Thọ và xi măng Chinfong Hải Phòng, đã gây nên những hậu quả nghiêm trọng khó vãn hồi.
Trái ngược với các dòng vốn khác, FDI ít biến động hơn và không mang tính thuận chu kỳ, do đó nó đã trở thành “dòng vốn ưa thích” cho các nước đang phát triển. Trong những thập kỷ gần đây, các thị trường mới nổi ở châu Á đã đạt được mức tăng trưởng kinh tế đáng kể. Tăng trưởng kinh tế của họ phụ thuộc nhiều vào vốn. Các quốc gia đã thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) cho thấy tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế ở nước đó. Cơ sở cho việc tăng cường nỗ lực thu hút nguồn vốn FDI xuất phát từ niềm tin rằng FDI có các tác động tích cực, bao gồm tăng năng suất, chuyển giao công nghệ, giới thiệu các quy trình mới, kỹ năng quản lý và bí quyết trong thị trường nội địa, đào tạo nhân viên, mạng lưới sản xuất toàn cầu và tiếp cận thị trường. Hơn nữa, vốn FDI cũng tạo ra các giải pháp thay thế việc làm mới và khuyến khích tinh thần kinh doanh và khả năng cạnh tranh, là những công cụ đắc lực, đóng vai trò quan trọng nhất cho sự phát triển nhanh chóng của các nước đang phát triển (Agbor & Ozden, 2021; Batten & Vo, 2009; Fernandes & Paunov, 2012; H. Hansen & Rand, 2006).
Mặt khác, FDI có khả năng góp phần trong việc gây ô nhiễm không khí. FDI kích thích tăng trưởng kinh tế bằng cách tăng năng suất, dẫn đến yêu cầu cao hơn đối với việc tiêu thụ năng lượng. Phát thải CO2 nhiều hơn do sử dụng nhiều năng lượng hơn dẫn đến ô nhiễm môi trường. Ngoài ra, các công ty gây ô nhiễm có thể chọn đầu tư vào các nước đang phát triển không có đầy đủ các quy định về môi trường để giảm thiểu chi phí sản xuất, điều này cũng dẫn đến việc gia tăng mức tiêu thụ năng lượng trong nước. Trong bài nghiên cứu ảnh hưởng của đầu tư FDI song phương, tiêu thụ năng lượng, phát thải CO2 và vốn đến tăng trưởng kinh tế ở Châu Á, Muhammad & Khan (2019) đã thu thập dữ liệu phân biệt giữa các quốc gia đầu tư và nhận đầu tư và đánh giá bằng nhiều mô hình khác nhau. Kết quả cho thấy FDI luôn có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế, đặc biệt là các nước nhận đầu tư. Trong khi đó phát thải CO2 có tác động không rõ ràng đến tăng trưởng kinh tế, các mô hình đều cho ra các kết quả khác nhau nhưng phần lớn mô hình đánh giá rằng phát thải CO2 có tác động cùng chiều ở các nước nhận đầu tư nhưng lại có tác động ngược chiều ở các quốc gia đầu tư.
Kết quả nghiên cứu của Bakhsh, Rose, Ali, Ahmad, & Shahbaz (2017) cũng cho thấy điều tương tự nhưng họ còn chỉ ra rằng tăng trưởng kinh tế sẽ suy thoái khi ô nhiễm vượt qua một giới hạn nhất định và FDI cũng có mối liên hệ tích cực với ô nhiễm môi trường. Nghiên cứu của Sarkodie & Strezov (2019) cũng chỉ ra rằng, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI với chuyển giao công nghệ sạch và cải tiến trong thực hành quản lý lao động và môi trường sẽ giúp các nước đang phát triển đạt được mục tiêu phát triển bền vững, giảm thiểu phát thải khí nhà kính phụ thuộc vào việc nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng, áp dụng các công nghệ năng lượng sạch và hiện đại, chẳng hạn như năng lượng tái tạo, hạt nhân, và sử dụng thu giữ và lưu trữ carbon cho các quá trình sản xuất nhiên liệu hóa thạch và năng lượng sinh khối. Từ đó có thể thấy rằng việc thiết lập các quy định hay chính sách về môi trường và vốn đầu tư trực tiếp FDI sẽ có tác động rất lớn đến sự phát triển bền vững ở một quốc gia.
Để tìm hiểu mối quan hệ giữa vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI, phát thải CO2 và tăng trưởng kinh tế, bài nghiên cứu này sử dụng dữ liệu chéo của 17 quốc gia thuộc khu vực Châu Á - Thái Bình Dương xuyên suốt giai đoạn 2016-2021. Khác với các bài nghiên cứu trước, nghiên cứu này chỉ sử dụng hai nhân tố để đánh giá kỹ hơn tác động của chúng đến tăng trưởng kinh tế thông qua tăng trưởng GDP hàng năm và xem xét liệu chúng có tác động ở độ trễ 1 năm hay không. Nghiên cứu cũng đóng góp về mặt số liệu mới nhất được thu thập từ các quốc gia thuộc khu vực lớn để có cái nhìn tổng quát hơn, củng cố độ tin cậy của các kết quả nghiên cứu trước đó. Để kiểm định tính dừng (hay kiểm định đơn vị) của dữ liệu, nghiên cứu này sử dụng kiểm định ADF (Augmented Dickey-Fuller). Sau đó tiến hành hồi quy bộ dữ liệu bằng mô hình GMM (Generalized Method of Moments) được Lars Peter Hansen giới thiệu vào năm 1982.
2. Phương pháp nghiên cứu
2.1. Mô hình nghiên cứu
Các nghiên cứu trước (Omri,
Daly, Rault, & Chaibi, 2015; Shafik, 1994; Yingzi & Yuying, 2011) đã
tìm được ảnh hưởng của phát thải CO2 đến tăng trưởng kinh tế. Một bên khác,
(Mishal, Abulaila, & Sciences, 2007; Obwona, 2001; Sackey, Nkrumah, &
Development, 2012) cho thấy ảnh hưởng đáng kể của FDI lên tăng trưởng kinh tế.
Đồng thời, nghiên cứu (Bakhsh et al., 2017) cũng cho thấy tác động trễ của
nhiều nhân tố lên tăng trưởng kinh tế. Do đó, mô hình của bài nghiên cứu này sẽ
tổng hợp từ các nghiên cứu được trích dẫn ở trên, cụ thể như hình sau:


Bài nghiên cứu sử dụng mô hình GMM (Generalized Method of Moments) một trong những mô hình được sử dụng trong bài nghiên cứu của (Bakhsh et al., 2017) dùng để đánh giá tác động trễ của nhiều nhân tố lên tăng trưởng kinh tế.
Mô hình GMM được Lars Peter Hansen chính thức ra mắt lần đầu tiên vào năm 1982. GMM được sử dụng để ước tính các tham số với các hồi quy nội sinh trong mô hình dữ liệu bảng và tính đồng nhất không quan sát được của cá nhân. Khi các mô hình như fixed effect hay random effect không phù hợp cho dữ liệu hữu hạn về chuỗi thời gian và có một số lượng lớn các quan sát cắt ngang trong khi kích thước điển hình của các dữ liệu bảng là có chuỗi thời gian ngắn và số lượng quan sát cắt ngang lớn nên mô hình GMM là một mô hình ước lượng phù hợp để thay thế và đã được đề xuất bởi (Arellano & Bond, 1991). Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã đưa mức trễ của GRGDP bằng cách áp dụng công cụ ước lượng GMM của Arellano và Bond (1991).
Để đảm bảo độ tin cậy khi sử dụng mô hình GMM do chuỗi thời gian của bộ dữ liệu thu thập tương đối dài (21 năm) nên phần kiểm định tính dừng của các biến sẽ được thực hiện trước khi đưa vào phân tích hồi quy.
Theo Gujarati (2003), một chuỗi thời gian là chuỗi dừng khi giá trị trung bình, phương sai, hiệp phương sai của chuỗi không đổi tại mọi thời điểm. Để kiểm định tính dừng (hay kiểm định đơn vị) của dữ liệu, nghiên cứu này sử dụng kiểm định ADF (Augmented Dickey-Fuller):

Phương trình (1) và phương trình (2) chỉ khác nhau ở hệ số ϕ đại diện cho yếu tố có xu hướng về thời gian ở phương trình (2) hay không có xu thế về thời gian ở phương trình (1).
Giả thuyết kiểm định:
H0: β = 0 (Yt là chuỗi dữ liệu không dừng)
H1: β < 0 (Yt là chuỗi dữ liệu dừng)
Vì mục tiêu là muốn chuỗi dữ liệu dừng và để đảm bảo độ tin cậy chúng tôi sẽ lấy p-value ≤ 0.05
Kiểm tra độ tin cậy của mô hình:
Để mô hình không có hiện tượng tự tương quan chuỗi chỉ số p-value của AR(2) phải lớn hơn hoặc bằng 0.05 theo (Arellano & Bond, 1991).
Để chắc rằng tất cả các biến công cụ được sử dụng là hợp lý chỉ số p-value của kiểm định Sargan–Hansen phải lớn hơn hoặc bằng 0.05 theo (L. P. Hansen, 1982; Sargan, 1964).
2.2. Nguồn thu thập dữ liệu
Nghiên cứu sử dụng dữ liệu chéo của 17 quốc gia thuộc khu vực Châu Á – Thái Bình Dương (gọi tắt: APAC) xuyên suốt giai đoạn 2016-2021 gồm có: Brunei, Cambodia, Trung Quốc, Indonesia, Japan, Kiribati, Korea, Laos, Malaysia, Philippines, Samoa, Singapore, Solomon Islands, Thailand, Tonga, Vanuatu và Việt Nam. Tất cả các dữ liệu đều được thu thập từ World Bank và World development indicators (WDI). Tỷ lệ tăng trưởng GDP hàng năm là GDP growth (annual %) lấy từ WDI được đặt tên GRGDP. Phát thải CO2 trên đầu người tính theo tấn là CO2 emissions (metric tons per capita) lấy từ WDI được đặt tên là CO2. Tỷ lệ vốn vào FDI so với GDP là Foreign direct investment, net inflows (% of GDP) lấy từ WDI được đặt tên là RFDI.
3. Kết quả nghiên cứu
3.1. Mô tả dữ liệu
Mức tăng trưởng kinh tế hàng năm của các nước Châu Á – Thái Bình Dương trong giai đoạn từ 1996 đến 2016 trung bình đạt 4.13%, trong đó cao nhất là 14.52% vào năm 2010 tại Singapore, vị trí thấp nhất là Solomon Islands với mức tăng trưởng âm 14.26% trong năm 2000. Trong cùng giai đoạn, mức phát thải CO2 trên đầu người trung bình đạt 4.66 tấn trên đầu người, trong đó cao nhất là 24.62 tấn trên đầu người vào năm 2011 tại Brunei tuy nhiên đang có xu hướng giảm dần qua các năm, đến năm 2015 chỉ còn khoảng 17,04 tấn. Brunei cũng là nước có tổng phát thải CO2 trên đầu người cao nhất trong suốt giai đoạn 2016 tới 2021 với khoảng 368 tấn, các nước xếp tiếp theo lần lượt là Korea, Singapore và Japan với tổng lượng phát thải tương đương nhau với con số lần lượt khoảng 215, 209, 198 tấn. Trong khi đó Cambodia có mức phát thải CO2 trên đầu người thấp nhất chỉ 0.13 tấn ở năm 1997. Về vốn vào FDI, Singapore là nước có tỷ lệ vốn vào FDI lớn nhất với con số 26.32% năm 2006 và Singapore cũng là nước có tổng tỷ lệ vốn vào FDI của tất các năm trong giai đoạn cao nhất trong danh sách các quốc gia.

3.2. Kiểm định tính dừng của dữ liệu
Đối với dữ liệu liên quan tới chuỗi thời gian để tránh xảy ra hồi quy giả mạo, trước khi thực hiện các kĩ thuật phân tích cần đảm bảo tính dừng (Gujarati, 2003). Đối với dữ liệu chưa dừng thì sẽ thực hiện lấy sai phân tới khi dừng thì thôi.

Kết quả cho thấy chuỗi GRGDP là chuỗi dừng (p-value = 0.043 < 0.05). Chuỗi CO2 và RFDI không dừng nhưng dừng ở sai phân bậc nhất. Về mặt ý nghĩa DCO2 và DRFDI đều phản ánh sự thay đổi của CO2 và RFDI nên việc sử dụng các biến đã được sai phân không làm thay đổi mặt ý nghĩa của các biến trong mô hình.

Hai kiểm định cho mô hình GMM:
AR (2) có p-value bằng 0.743 lớn hơn 0.05 và p-value của kiểm định Sargan bằng
0.412 (lớn hơn 0.05) cho thấy mô hình GMM đạt sự tin cậy.
Phương trình hồi quy có dạng:
GRGDP = 0.187*GRGDPt-1 + 0.314*DCO2 + 0.338*DRFDI + 0.269*DRFDIt-1
Kết quả hồi quy GMM cho thấy rằng vốn vào FDI có ảnh hưởng tích cực đến tăng trưởng kinh tế trong cả hai giai đoạn tức thời và ở độ trễ 1 năm (hệ số beta dương và p-value đều nhỏ hơn 0.05).
Yếu tố phát thải CO2 có tác động cùng chiều ở giai đoạn tức thời lên tăng trưởng kinh tế (hệ số beta dương và p-value đều nhỏ hơn 0.05) nhưng lại không ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế sau 1 năm không có ý nghĩa (p-value của DCO2t-1 lớn hơn 0.05).
4. Kết luận
Bài nghiên cứu này thực hiện phân tích và đánh giá tác động của các yếu tố bao gồm phát thải CO2 và vốn vào FDI đến tăng trưởng kinh tế. Để thực hiện được điều này, bài nghiên cứu đã sử dụng dữ liệu chéo được thu thập từ 17 quốc gia thuộc khu vực Châu Á và Thái Bình Dương trong suốt giai đoạn 2016-2021. Dữ liệu được thu thập từ World Bank với tổng cộng 357 quan sát. Qua nghiên cứu và đánh giá, phương pháp hồi quy mô hình GMM là mô hình thích hợp nhất để phân tích và đánh giá những dữ liệu được thu thập này. Kết quả cho thấy rằng tất cả biến độc lập đều có tác động cùng chiều với biến phụ thuộc nhưng chỉ 3 biến là có ý nghĩa. Vốn vào FDI có ảnh hưởng cao nhất đến tăng trưởng kinh tế ở giai đoạn tức thời, còn sau 1 năm thì ảnh hưởng có yếu hơn một chút. Còn phát thải CO2 thì chỉ có tác động tức thời cùng chiều với tăng trưởng kinh tế, kết quả này chỉ ra rằng hầu hết các quốc gia trong khu vực đều có lượng phát thải CO2 tăng lên trong giai đoạn đầu của sự phát triển kinh tế. Tuy nhiên lại không tìm thấy tác động trễ của phát thải CO2 đối với tăng trưởng kinh tế, nhưng điều này không chứng minh được rằng giả thuyết về đường cong EKC về môi trường là không tồn tại nếu xem xét tại một quốc gia cụ thể thuộc khu vực khảo sát.
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng vốn vào FDI có đóng góp rất lớn cho tăng trưởng kinh tế, do đó, muốn phát triển kinh tế thì vốn vào FDI là một yếu tố không thể thiếu. Tuy nhiên trong quá trình phát triển kinh tế cần phải chú ý đến vấn đề bảo vệ môi trường, lượng phát thải CO2 có tác động cùng chiều với tăng trưởng kinh tế nói rõ rằng có nhiều quốc gia vì lợi ích kinh tế mà sẵn sàng chấp nhận ô nhiễm môi trường điển hình là các nước Trung Quốc, Việt Nam, Malaysia có tỷ lệ tăng trưởng phát thải CO2 trên đầu người có xu hướng tăng mà không giảm qua các năm. Chúng ta cần phải có một cái nhìn đúng đắn hơn, việc giảm ô nhiễm không nhất định sẽ khiến cho tăng trưởng kinh tế chậm đi. Trong nghiên cứu Anh (2019), sau khi trích dẫn kết quả nghiên cứu ở hai quốc gia là Norway và Trung Quốc đã cho thấy Norway vẫn đạt được tăng trưởng kinh tế lại vừa giảm được đều đặn chỉ số bụi mịn theo thời gian. Bên cạnh đó, cũng có nghiên cứu gần đây cho thấy rằng việc giảm ô nhiễm không khí về lâu dài lại có thể giúp cho tăng trưởng kinh tế và tạo ra nhiều công ăn việc làm mới (Hanlon, 2019). Hãy coi phát triển kinh tế là một bước đi dài hạn, đừng tham lam đạt được tăng trưởng trong ngắn hạn để mà để lại nhiều hậu quả khó vãn hồi trong tương lai.
Những bài học đắt giá từ Việt Nam như vụ Vedan xả thải ra sông Thị Vải, Kung Kuang ở Phú Thọ, xi măng Chinfong Hải Phòng hay các vụ bê bối của tập đoàn Formosa đã cho chúng ta thấy phần nào về những hậu quả đáng sợ. Thậm chí còn khó xử hơn những trường hợp khi khó có thể dừng hoạt động của doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường vì sẽ khiến cho lượng lớn công nhân vô tội thất nghiệp, đến lúc đó dù thực hiện giải pháp nào cũng sẽ phải đánh đổi bằng lượng chi phí khổng lồ và các cơ hội kinh tế trong tương lai. Nhìn chung, các quốc gia cần phải can thiệp kịp thời nhằm tránh được các tác động tiêu cực và điều chỉnh các chính sách, giải pháp tốt nhằm tăng cường thu hút và nâng cao hiệu quả vốn FDI cũng như tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài, cải thiện các chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư, khuyến khích thu hút các dự án công nghệ cao, sử dụng tài nguyên hiệu quả, thân thiện với môi trường, nên hướng tới phát triển nền kinh tế xanh vì lợi ích bền lâu.
Tài liệu tham khảo
1. Agbor, T., & Ozden, K. (2021). Impact of Foreign Direct Investments on Developing Countries. Black Sea Journal of Management and Marketing, 2(2), 65-75. doi:10.47299/bsjmm.v2i2.75
2. Ahmad, M., Muslija, A., & Satrovic, E. (2021). Does economic prosperity lead to environmental sustainability in developing economies? Environmental Kuznets curve theory. Environmental Science and Pollution Research, 28(18), 22588-22601. doi:10.1007/s11356-020-12276-9
Anh, D. H. H. (2019). Tăng trưởng kinh tế có luôn đi kèm ô nhiễm không khí? Tiasáng.
3. Bakhsh, K., Rose, S., Ali, M. F., Ahmad, N., & Shahbaz, M. (2017). Economic growth, CO2 emissions, renewable waste and FDI relation in Pakistan: New evidences from 3SLS. Journal of Environmental Management, 196, 627-632. doi:https://doi.org/10.1016/j.jenvman.2017.03.029
4. Hanif, I., & Gago-de-Santos, P. (2017). The importance of population control and macroeconomic stability to reducing environmental degradation: An empirical test of the environmental Kuznets curve for developing countries. Environmental Development, 23, 1-9. doi:https://doi.org/10.1016/j.envdev.2016.12.003
5. Hanlon, W. W. (2019). Coal Smoke, City Growth, and the Costs of the Industrial Revolution. The Economic Journal, 130(626), 462-488. doi:10.1093/ej/uez055 %J The Economic Journal
6. Hansen, L. P. (1982). Large Sample Properties of Generalized Method of Moments Estimators. Econometrica, 50(4), 1029-1054. doi:10.2307/1912775
Holtz-Eakin, D., & Selden, T. M. (1995). Stoking the fires? CO2 emissions and economic growth. Journal of Public Economics, 57(1), 85-101. doi:https://doi.org/10.1016/0047-2727(94)01449-X
7. Muhammad, B., & Khan, S. (2019). Effect of bilateral FDI, energy consumption, CO2 emission and capital on economic growth of Asia countries. Energy Reports, 5, 1305-1315. doi:https://doi.org/10.1016/j.egyr.2019.09.004
8. Ngoan, P. T. (2019). Mở cửa thu hút FDI và vấn đề môi trường. TẠP CHÍ CÔNG THƯƠNG.
9. Omri, A., Daly, S., Rault, C., & Chaibi, A. J. E. E. (2015). Financial development, environmental quality, trade and economic growth: What causes what in MENA countries. 48, 242-252.
10.Sackey, F. G., Nkrumah, E. M. J. J. o. E., & Development, S. (2012). Financial sector deepening and economic growth in Ghana. 3(8), 122-139.
11.Sarkodie, S. A., & Strezov, V. (2019). Effect of foreign direct investments, economic development and energy consumption on greenhouse gas emissions in developing countries. Science of The Total Environment, 646, 862-871. doi:https://doi.org/10.1016/j.scitotenv.2018.07.365
12. Shafik, N. (1994). Economic Development and Environmental Quality: An Econometric Analysis. Oxford Economic Papers, 46, 757-773.
13. Shahbaz, M., Haouas, I., & Hoang, T. H. V. (2019). Economic growth and environmental degradation in Vietnam: Is the environmental Kuznets curve a complete picture? Emerging Markets Review, 38, 197-218. doi:https://doi.org/10.1016/j.ememar.2018.12.006
Nguyễn Thị Nga (Cơ sở II Trường ĐH LĐXH), Nguyễn Thị Ngọc Hải (Viện Tài chính - Kế toán, Trường ĐH Công nghiệp TPHCM), Võ Thành Tâm (Trường Kinh tế, Luật và Quản lý nhà nước, Đại học Kinh tế TPHCM)
Tin tức cùng chuyên mục
Bài viết cùng tác giả