Tiếng Việt
Tiếng Việt Tiếng Anh

Hoàn thiện cơ chế pháp lý hỗ trợ chuyển đổi hộ kinh doanh thành doanh nghiệp gắn với phát triển sản phẩm địa phương tại xã Xuân Đài, tỉnh Phú Thọ

Ngày đăng: 26/10/2026   10:47
Đọc bài viết
Mặc định Cỡ chữ
Tóm tắt: Chuyển đổi hộ kinh doanh thành doanh nghiệp là một trong những giải pháp thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên, hiệu quả của cơ chế hỗ trợ chuyển đổi không chỉ phụ thuộc vào thủ tục thành lập doanh nghiệp mà còn gắn với điều kiện tiếp cận chính sách, việc xử lý các quan hệ pháp lý đã hình thành và khả năng duy trì hoạt động kinh doanh sau chuyển đổi. Bài viết phân tích pháp luật hiện hành, tổng hợp các kết quả nghiên cứu có liên quan và đối chiếu số liệu thống kê năm 2025 tại xã Xuân Đài, tỉnh Phú Thọ. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện cơ chế hỗ trợ theo hướng xác định đúng đối tượng thụ hưởng, tăng cường tư vấn và hỗ trợ xử lý các quan hệ pháp lý khi chuyển đổi, đồng thời nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các chương trình hỗ trợ hiện hành. Các giải pháp hướng đến bảo đảm tính liên tục của hoạt động kinh doanh và tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển sau chuyển đổi.

Từ khóa: Hộ kinh doanh; chuyển đổi thành doanh nghiệp; cơ chế hỗ trợ pháp lý; phát triển sản phẩm địa phương; Xuân Đài.

Abstract: Converting household businesses into enterprises is one of the key measures to promote private sector development in Vietnam today. However, the effectiveness of support mechanisms for this transition depends not only on business registration procedures but also on eligibility for policy support, the resolution of existing legal relationships, and the ability to sustain business operations after conversion. This article analyzes current legislation, synthesizes relevant research findings, and examines statistical data from 2025 in Xuan Dai Commune, Phu Tho Province. On this basis, it proposes improvements to support mechanisms by accurately identifying eligible beneficiaries, strengthening advisory services and assistance in resolving legal relationships during conversion, and enhancing coordination among existing support programs. These solutions aim to ensure business continuity and create favorable conditions for enterprises to grow after conversion.

Keywords: Household businesses; conversion into enterprises; legal support mechanisms; local product development; Xuan Dai.

1. Đặt vấn đề

Chuyển đổi hộ kinh doanh thành doanh nghiệp là một trong những định hướng quan trọng nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân theo Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân và Nghị quyết số 198/2025/QH15 của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân. Tuy nhiên, hiệu quả chuyển đổi không chỉ phụ thuộc vào việc hoàn thành thủ tục đăng ký doanh nghiệp mà còn gắn với khả năng kế thừa quyền, nghĩa vụ, xử lý công nợ và đáp ứng các điều kiện kinh doanh sau chuyển đổi. Đối với các hộ kinh doanh tham gia chuỗi sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm địa phương, những yêu cầu này có ý nghĩa trực tiếp đối với việc duy trì quan hệ cung ứng nguyên liệu, thực hiện hợp đồng với đối tác và bảo đảm tính ổn định của hoạt động kinh doanh khi thay đổi mô hình tổ chức.

Bên cạnh yêu cầu bảo đảm tính liên tục của các quan hệ pháp lý, việc thực hiện chính sách hỗ trợ chuyển đổi còn phải tính đến sự khác biệt về địa vị pháp lý và nhu cầu phát triển của các chủ thể trong chuỗi sản phẩm địa phương. Tại xã Xuân Đài, tỉnh Phú Thọ, hoạt động sản xuất, chế biến và tiêu thụ các sản phẩm Chè sương sớm Xuân Sơn, Măng giang chua Tân Sơn và gà nhiều cựa có sự tham gia của các hộ sản xuất, kinh doanh và hợp tác xã với phương thức tổ chức, liên kết khác nhau(1), (2), (3). Sự đa dạng về chủ thể này đặt ra yêu cầu phân biệt địa vị pháp lý giữa hộ trực tiếp sản xuất nông nghiệp, hộ kinh doanh đã đăng ký và hợp tác xã, qua đó xác định đúng điều kiện thụ hưởng chính sách hỗ trợ chuyển đổi thành doanh nghiệp theo quy định pháp luật. Theo Niên giám thống kê năm 2025, địa phương có 391 cơ sở kinh tế cá thể phi nông, lâm, ngư nghiệp và 03 doanh nghiệp đang hoạt động(4). Tuy nhiên, số cơ sở kinh tế cá thể không đồng nhất với số hộ kinh doanh đã đăng ký và đủ điều kiện thụ hưởng chính sách hỗ trợ chuyển đổi. Vì vậy, việc xác định đúng đối tượng và lựa chọn mô hình kinh doanh phù hợp có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển sản phẩm địa phương.

Các nghiên cứu đã công bố, tiêu biểu như công trình của Hà Nam Khánh Giao và Nguyễn Đặng Thanh Nhật (2020), Hoang Thi Thu Huyen, Do Ly Hoai Tan và Liang Emlyn Yang (2024), đã phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chuyển đổi, bao gồm nguồn lực tài chính, năng lực quản lý và môi trường kinh doanh. Tuy nhiên, mối quan hệ giữa điều kiện thụ hưởng chính sách hỗ trợ, cơ chế kế thừa quyền, nghĩa vụ và yêu cầu duy trì hoạt động kinh doanh trong các chuỗi sản phẩm địa phương chưa được làm rõ tương xứng. Trên cơ sở đó, bài viết sử dụng phương pháp phân tích quy phạm pháp luật, tổng hợp tài liệu nghiên cứu và đối chiếu số liệu thống kê tại xã Xuân Đài, tỉnh Phú Thọ nhằm xây dựng tiêu chí đánh giá, nhận diện những vấn đề pháp lý trong thực hiện chính sách và đề xuất giải pháp hoàn thiện cơ chế hỗ trợ chuyển đổi gắn với phát triển sản phẩm địa phương.

2. Cơ sở pháp lý và tiêu chí đánh giá cơ chế hỗ trợ chuyển đổi hộ kinh doanh thành doanh nghiệp tại Việt Nam

2.1. Bản chất pháp lý của việc chuyển đổi hộ kinh doanh thành doanh nghiệp

Về bản chất pháp lý, việc chuyển đổi hộ kinh doanh thành doanh nghiệp làm thay đổi địa vị pháp lý, cơ cấu tổ chức quản lý và chế độ trách nhiệm tài sản của chủ thể kinh doanh, qua đó ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng huy động vốn, phân bổ rủi ro và mở rộng hoạt động sản xuất, kinh doanh. Theo khoản 1 Điều 82 Nghị định số 168/2025/NĐ-CP ngày 30/6/2025 quy định về đăng ký doanh nghiệp và hộ kinh doanh, cá nhân hoặc các thành viên hộ gia đình đăng ký hộ kinh doanh chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản đối với hoạt động kinh doanh. Trong khi đó, công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần có tư cách pháp nhân, với chế độ trách nhiệm tài sản khác biệt so với doanh nghiệp tư nhân. Đối với các hộ kinh doanh tham gia chuỗi sản phẩm chè, măng và gà nhiều cựa tại xã Xuân Đài, tỉnh Phú Thọ, việc lựa chọn loại hình doanh nghiệp vì vậy phải phù hợp với quy mô hoạt động, nhu cầu liên kết thương mại và khả năng quản trị, đồng thời bảo đảm thực hiện các nghĩa vụ đã phát sinh trước chuyển đổi.

Bên cạnh sự thay đổi về địa vị pháp lý, việc xác định đúng chủ thể và điều kiện đăng ký chuyển đổi có ý nghĩa quyết định đối với phạm vi áp dụng chính sách hỗ trợ. Điều 27 Nghị định số 168/2025/NĐ-CP quy định thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp trên cơ sở chuyển đổi từ hộ kinh doanh; việc thực hiện còn phải tuân thủ các quy định có liên quan của Nghị định này đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 296/2026/NĐ-CP. Đồng thời, theo khoản 3 Điều 82 Nghị định số 168/2025/NĐ-CP, một số chủ thể trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp không thuộc diện bắt buộc đăng ký hộ kinh doanh, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Do đó, khi áp dụng cơ chế hỗ trợ tại xã Xuân Đài, tỉnh Phú Thọ, cần phân biệt hộ trực tiếp sản xuất nông nghiệp, hộ kinh doanh đã đăng ký và hợp tác xã nhằm xác định chính xác đối tượng, điều kiện thụ hưởng và hình thức tổ chức kinh doanh phù hợp với yêu cầu phát triển sản phẩm địa phương.

2.2. Điều kiện và nội dung hỗ trợ chuyển đổi hộ kinh doanh thành doanh nghiệp

Trên cơ sở phân biệt địa vị pháp lý của các chủ thể kinh doanh, việc xác định đúng điều kiện thụ hưởng là yêu cầu quan trọng để bảo đảm chính sách hỗ trợ chuyển đổi được áp dụng đúng đối tượng. Theo khoản 1 Điều 16 Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017, doanh nghiệp nhỏ và vừa được thành lập từ hộ kinh doanh chỉ được hưởng chính sách hỗ trợ khi hộ kinh doanh đã đăng ký, hoạt động hợp pháp và có thời gian sản xuất, kinh doanh liên tục ít nhất một năm tính đến ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu. Đối với xã Xuân Đài, tỉnh Phú Thọ, hoạt động trồng chè, sản xuất măng hoặc chăn nuôi của hộ gia đình không đương nhiên đáp ứng điều kiện này. Vì vậy, cần phân biệt quyền thành lập doanh nghiệp với quyền thụ hưởng chính sách hỗ trợ chuyển đổi, đồng thời bảo đảm các chủ thể chưa đủ điều kiện hỗ trợ vẫn được lựa chọn mô hình kinh doanh phù hợp theo quy định pháp luật.

Bên cạnh điều kiện thụ hưởng, nội dung hỗ trợ cần được đánh giá theo khả năng giảm chi phí chuyển đổi và tạo thuận lợi cho doanh nghiệp duy trì hoạt động sau thành lập. Khoản 2 Điều 16 Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017, được cụ thể hóa tại Nghị định số 80/2021/NĐ-CP, quy định các biện pháp hỗ trợ về tư vấn thành lập doanh nghiệp, thủ tục đăng ký, điều kiện kinh doanh, thuế và kế toán. Đồng thời, khoản 4 Điều 10 Nghị quyết số 198/2025/QH15 quy định chính sách miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong ba năm đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa đăng ký kinh doanh lần đầu khi đáp ứng điều kiện pháp luật. Trong khi đó, việc chấm dứt phương pháp khoán thuế và thu lệ phí môn bài từ ngày 01/01/2026 là chính sách áp dụng chung, không phải ưu đãi riêng cho doanh nghiệp chuyển đổi. Do đó, đối với các hộ kinh doanh có nhu cầu mở rộng chế biến và tiêu thụ sản phẩm địa phương tại xã Xuân Đài, tỉnh Phú Thọ, lợi ích chuyển đổi cần được xem xét trong mối quan hệ với chi phí kế toán, hóa đơn, quản trị và nghĩa vụ pháp lý phát sinh sau thành lập, bảo đảm sự phù hợp giữa chính sách hỗ trợ và khả năng duy trì hoạt động kinh doanh.

2.3. Bảo đảm tính liên tục của các quan hệ pháp lý trong quá trình chuyển đổi hộ kinh doanh thành doanh nghiệp

Bên cạnh việc đáp ứng các điều kiện hỗ trợ chuyển đổi, bảo đảm tính liên tục của các quan hệ pháp lý có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì hoạt động kinh doanh sau khi hộ kinh doanh được chuyển đổi thành doanh nghiệp. Đặc biệt, đối với các chuỗi sản phẩm chè, măng và gà nhiều cựa tại xã Xuân Đài, tỉnh Phú Thọ, việc kế thừa và tiếp tục thực hiện các quyền, nghĩa vụ liên quan đến hợp đồng cung ứng nguyên liệu, tài sản, công nợ và quyền sở hữu trí tuệ là cơ sở để duy trì sự ổn định của hoạt động sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm, hạn chế những gián đoạn phát sinh từ việc thay đổi mô hình tổ chức kinh doanh. Theo khoản 3 Điều 16 Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017, doanh nghiệp thành lập từ hộ kinh doanh kế thừa quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của hộ; trường hợp chuyển thành công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần, chủ hộ vẫn chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản đối với khoản nợ chưa thanh toán, trừ khi có thỏa thuận khác theo pháp luật. Như vậy, chế độ trách nhiệm hữu hạn của mô hình mới không tự động xóa bỏ nghĩa vụ tài sản trước chuyển đổi.

Tuy nhiên, nguyên tắc kế thừa không thay thế các điều kiện riêng đối với việc thực hiện hợp đồng, sử dụng tài sản, giấy phép hoặc quyền sở hữu trí tuệ. Đối với chuỗi chè, măng và gà nhiều cựa tại xã Xuân Đài, tỉnh Phú Thọ, tài sản hoặc nhãn hiệu có thể thuộc hợp tác xã và các chủ thể độc lập khác; doanh nghiệp mới không mặc nhiên có quyền khai thác những đối tượng này. Vì vậy, việc hỗ trợ phải gắn thủ tục đăng ký với rà soát quan hệ hợp đồng, công nợ và quyền sử dụng hợp pháp tài sản, đồng thời hướng dẫn đáp ứng điều kiện kinh doanh tương ứng với từng công đoạn.

2.4. Tiêu chí đánh giá sự phù hợp của cơ chế pháp lý hỗ trợ chuyển đổi hộ kinh doanh thành doanh nghiệp gắn với phát triển sản phẩm địa phương tại xã Xuân Đài, tỉnh Phú Thọ

Trên cơ sở các quy định pháp luật về điều kiện thụ hưởng, nội dung hỗ trợ và nguyên tắc kế thừa quyền, nghĩa vụ khi chuyển đổi hộ kinh doanh thành doanh nghiệp, việc đánh giá sự phù hợp của cơ chế hỗ trợ cần gắn với đặc điểm tổ chức kinh doanh và yêu cầu phát triển sản phẩm địa phương tại xã Xuân Đài, tỉnh Phú Thọ. Theo đó, nghiên cứu xác định năm tiêu chí có mối liên hệ chặt chẽ, phản ánh khả năng tiếp cận chính sách, thực hiện chuyển đổi và duy trì hoạt động kinh doanh sau chuyển đổi.

Thứ nhất, tính phù hợp của điều kiện thụ hưởng và khả năng tiếp cận chính sách hỗ trợ. Tiêu chí này đánh giá khả năng xác định đúng đối tượng theo khoản 1 Điều 16 Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017, trên cơ sở phân biệt hộ kinh doanh đã đăng ký với hộ trực tiếp sản xuất nông nghiệp và hợp tác xã. Đồng thời, cần xem xét mức độ thuận lợi trong tiếp cận thông tin, tư vấn và hướng dẫn thủ tục phù hợp với điều kiện địa bàn miền núi tại xã Xuân Đài, tỉnh Phú Thọ.

Thứ hai, mức độ hỗ trợ giảm chi phí chuyển đổi và thực hiện nghĩa vụ pháp lý. Bên cạnh lợi ích từ hỗ trợ đăng ký doanh nghiệp, thuế và kế toán, tiêu chí này xem xét chi phí tuân thủ phát sinh sau thành lập, đặc biệt đối với hoạt động chế biến, đóng gói và phân phối sản phẩm. Qua đó, đánh giá khả năng hỗ trợ thực chất của chính sách trong mối quan hệ với năng lực tài chính và quản trị của hộ kinh doanh.

Thứ ba, khả năng bảo đảm tính liên tục của các quan hệ pháp lý trong quá trình chuyển đổi. Trên cơ sở khoản 3 Điều 16 Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017, tiêu chí này tập trung vào việc kế thừa, thực hiện nghĩa vụ về hợp đồng, công nợ, tài sản, điều kiện kinh doanh và quyền sở hữu trí tuệ. Đối với các chuỗi sản phẩm chè, măng và gà nhiều cựa, việc bảo đảm quyền lợi của các chủ thể liên kết có ý nghĩa quan trọng nhằm duy trì nguồn nguyên liệu và thị trường tiêu thụ sau chuyển đổi.

Thứ tư, khả năng kết nối chính sách hỗ trợ chuyển đổi với các chương trình phát triển sản phẩm địa phương. Tiêu chí này đánh giá sự phối hợp giữa hỗ trợ thành lập, hoạt động doanh nghiệp với các chính sách nâng cao chất lượng, xây dựng thương hiệu và xúc tiến thương mại. Việc kết nối phải tuân thủ điều kiện thụ hưởng, nguồn lực và thẩm quyền của từng chương trình, không đồng nhất chính sách hỗ trợ chuyển đổi với chính sách phát triển sản phẩm hoặc Chương trình OCOP.

Thứ năm, khả năng duy trì và phát triển hoạt động kinh doanh sau chuyển đổi. Hiệu quả hỗ trợ cần được xem xét thông qua tình trạng hoạt động của doanh nghiệp, mức độ tuân thủ nghĩa vụ pháp lý, khả năng duy trì hợp đồng, liên kết sản xuất và thị trường tiêu thụ trong khoảng thời gian phù hợp. Đây là căn cứ đánh giá tính bền vững của quá trình chuyển đổi, thay vì chỉ dựa vào số lượng doanh nghiệp được thành lập.

Năm tiêu chí trên tạo thành cơ sở đánh giá thống nhất từ điều kiện tiếp cận chính sách, chi phí chuyển đổi và bảo đảm tính liên tục của các quan hệ pháp lý đến phối hợp nguồn lực hỗ trợ và duy trì hoạt động kinh doanh. Việc vận dụng tại xã Xuân Đài, tỉnh Phú Thọ giúp nhận diện những vấn đề pháp lý trong thực hiện chính sách và xác lập căn cứ cho các kiến nghị hoàn thiện cơ chế hỗ trợ gắn với phát triển sản phẩm địa phương.

3. Điều kiện áp dụng cơ chế pháp lý hỗ trợ chuyển đổi hộ kinh doanh thành doanh nghiệp gắn với phát triển sản phẩm địa phương tại xã Xuân Đài, tỉnh Phú Thọ

3.1. Đặc điểm cơ cấu kinh tế và điều kiện xác định đối tượng hỗ trợ chuyển đổi

Cơ cấu kinh tế xã Xuân Đài, tỉnh Phú Thọ thể hiện mối liên hệ giữa sản xuất nông nghiệp, chế biến và thương mại. Theo Niên giám thống kê xã năm 2025, tổng giá trị sản phẩm theo giá hiện hành ước đạt 1.045,8 tỷ đồng; nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 32,24%, công nghiệp và xây dựng 26,87%, dịch vụ 40,89%. Đến ngày 31/12/2025, xã có 391 cơ sở kinh tế cá thể phi nông, lâm, ngư nghiệp với 519 lao động, gồm 144 cơ sở bán buôn, bán lẻ và 99 cơ sở chế biến, chế tạo; 03 doanh nghiệp đang hoạt động sử dụng 22 lao động. Những số liệu này phản ánh cơ cấu hoạt động kinh tế nhưng không xác định trực tiếp số hộ kinh doanh đã đăng ký hoặc đủ điều kiện hỗ trợ chuyển đổi.

Do cơ sở kinh tế cá thể là đơn vị thống kê, việc xác định đối tượng thụ hưởng phải kết hợp thông tin đăng ký kinh doanh, thời gian hoạt động và điều kiện theo Điều 16 Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017. Sau sắp xếp các xã Xuân Đài, Kim Thượng và Xuân Sơn, địa phương có diện tích hơn 209 km², trên 15.000 người tại 27 khu dân cư, trong đó khoảng 91% là đồng bào dân tộc thiểu số. Đặc điểm địa bàn miền núi đòi hỏi phương thức tư vấn, hướng dẫn thủ tục dễ tiếp cận mà không phát sinh điều kiện hành chính ngoài luật định.

3.2. Đặc điểm pháp lý của các chủ thể kinh doanh sản phẩm địa phương và nhu cầu chuyển đổi thành doanh nghiệp

Sự khác biệt về địa vị pháp lý và nhu cầu chuyển đổi của các chủ thể kinh doanh tại xã Xuân Đài, tỉnh Phú Thọ được thể hiện rõ qua hoạt động phát triển sản phẩm Chè sương sớm Xuân Sơn. Hợp tác xã Dịch vụ nông lâm nghiệp Xuân Đài tổ chức sản xuất trên diện tích khoảng 16 ha chè với 32 thành viên tham gia; sản phẩm được công nhận OCOP 3 sao và đạt doanh thu trên 1,4 tỷ đồng trong năm 2025. Trường hợp này cho thấy vai trò của hợp tác xã trong tổ chức vùng nguyên liệu, chế biến và phát triển thị trường, nhưng không phải là kết quả chuyển đổi hộ kinh doanh thành doanh nghiệp. Trong cùng chuỗi sản phẩm, hộ trực tiếp trồng chè, hộ thu mua nguyên liệu và hộ tổ chức chế biến, phân phối có phạm vi hoạt động khác nhau, dẫn đến sự khác biệt về nhu cầu tổ chức kinh doanh và điều kiện tiếp cận chính sách hỗ trợ chuyển đổi.

Sự đa dạng về chủ thể còn thể hiện qua sản phẩm Măng giang chua Tân Sơn được công nhận OCOP 3 sao và hoạt động chăn nuôi, tiêu thụ gà nhiều cựa tại địa phương. Đối với hộ trực tiếp sản xuất nguyên liệu, việc duy trì hình thức sản xuất hiện có hoặc tham gia liên kết thông qua hợp tác xã có thể phù hợp với điều kiện hoạt động. Trong khi đó, hộ kinh doanh tổ chức thu mua, chế biến, đóng gói và phân phối sản phẩm có thể phát sinh nhu cầu thành lập doanh nghiệp nhằm mở rộng quy mô, huy động vốn và quản lý các quan hệ thương mại. Tuy nhiên, việc tham gia chuỗi sản phẩm hoặc sở hữu sản phẩm được công nhận OCOP không đương nhiên xác lập quyền hưởng chính sách hỗ trợ chuyển đổi. Vì vậy, nhu cầu chuyển đổi phải được đánh giá trên cơ sở địa vị pháp lý, mức độ ổn định của hoạt động kinh doanh, khả năng quản trị và chi phí tuân thủ của từng chủ thể, bảo đảm việc lựa chọn mô hình doanh nghiệp phù hợp với yêu cầu phát triển sản phẩm địa phương.

3.3. Thực hiện pháp luật về hỗ trợ chuyển đổi hộ kinh doanh thành doanh nghiệp gắn với phát triển sản phẩm địa phương

Việc thực hiện pháp luật về hỗ trợ chuyển đổi tại xã Xuân Đài, tỉnh Phú Thọ phải gắn với đặc điểm tổ chức kinh doanh của từng chủ thể trong chuỗi sản phẩm địa phương. Theo Điều 16 Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017 và Nghị định số 80/2021/NĐ-CP, chính sách tư vấn, hỗ trợ đăng ký và thực hiện thủ tục kinh doanh có điều kiện tạo thuận lợi cho hộ kinh doanh đủ điều kiện chuyển sang mô hình doanh nghiệp. Tuy nhiên, đối với hộ thu mua, chế biến và phân phối chè, măng hoặc gà nhiều cựa, giá trị của hỗ trợ không chỉ nằm ở việc giảm chi phí thành lập mà còn ở khả năng lựa chọn loại hình phù hợp với phương thức huy động vốn, quản trị và trách nhiệm tài sản. Đây cũng là cơ sở để xem xét việc xử lý các hợp đồng, công nợ còn hiệu lực nhằm duy trì quan hệ cung ứng và tiêu thụ sau chuyển đổi.

Đối với hoạt động kinh doanh sản phẩm địa phương, phạm vi hỗ trợ thủ tục phải được xem xét cùng với nghĩa vụ tuân thủ pháp luật chuyên ngành. Điều 17 Nghị định số 80/2021/NĐ-CP phân định các hình thức hỗ trợ liên quan đến giấy phép, giấy chứng nhận và văn bản tương đương đối với ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện; trong đó trường hợp cấp lại khi tiếp tục kinh doanh mà không thay đổi quy mô được xử lý theo cơ chế riêng. Hoạt động chế biến, đóng gói chè và măng có thể chịu sự điều chỉnh của quy định về an toàn thực phẩm, chất lượng và nhãn hàng hóa; đối với gà nhiều cựa, nghĩa vụ về chăn nuôi, thú y, giết mổ hoặc kinh doanh thực phẩm phụ thuộc vào công đoạn thực tế. Như vậy, hỗ trợ thủ tục không đồng nghĩa với miễn trừ điều kiện kinh doanh, mà giúp chủ thể xác định đúng nghĩa vụ sau khi thay đổi mô hình tổ chức.

Trong giai đoạn đầu hoạt động, hỗ trợ về thuế và kế toán có ý nghĩa đối với khả năng duy trì kinh doanh của doanh nghiệp được thành lập từ hộ kinh doanh. Điều 19 Nghị định số 80/2021/NĐ-CP quy định hỗ trợ tư vấn, hướng dẫn miễn phí về thủ tục thuế và chế độ kế toán trong thời hạn ba năm theo điều kiện áp dụng. Kết hợp với chính sách miễn thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa đăng ký kinh doanh lần đầu đủ điều kiện theo Nghị quyết số 198/2025/QH15 và Nghị định số 20/2026/NĐ-CP, các biện pháp này có thể giảm gánh nặng ban đầu cho chủ thể chuyển đổi. Tuy nhiên, hiệu quả thực chất cần được xem xét đồng thời với chi phí hóa đơn, kế toán, quản trị và việc duy trì điều kiện kinh doanh; bởi đây là các nghĩa vụ có ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng vận hành của hộ kinh doanh quy mô nhỏ sau khi trở thành doanh nghiệp.

Bên cạnh các chính sách trực tiếp đối với doanh nghiệp chuyển đổi, việc hỗ trợ pháp lý còn có thể được kết nối với hoạt động phát triển sản phẩm địa phương. Quyết định số 518/QĐ-UBND ngày 25/02/2026 của UBND tỉnh Phú Thọ là căn cứ triển khai chương trình hỗ trợ pháp lý liên ngành đối với các chủ thể thuộc phạm vi chương trình. Tại xã Xuân Đài, tỉnh Phú Thọ, việc cung cấp thông tin pháp luật về hợp đồng, điều kiện kinh doanh và quyền sở hữu trí tuệ có thể bổ trợ cho hoạt động xây dựng thương hiệu, nâng cao chất lượng và xúc tiến thương mại đối với sản phẩm chè, măng, gà nhiều cựa. Tuy nhiên, sự phối hợp này phải bảo đảm đúng đối tượng, nguồn lực và thẩm quyền riêng của chính sách hỗ trợ chuyển đổi cũng như từng chương trình phát triển sản phẩm, không coi chứng nhận OCOP là căn cứ thay thế điều kiện thụ hưởng theo pháp luật.

3.4. Những vấn đề pháp lý phát sinh trong quá trình thực hiện chính sách hỗ trợ chuyển đổi hộ kinh doanh thành doanh nghiệp gắn với phát triển sản phẩm địa phương

Việc thực hiện chính sách hỗ trợ chuyển đổi hộ kinh doanh thành doanh nghiệp tại xã Xuân Đài, tỉnh Phú Thọ đặt ra vấn đề về xác định đúng đối tượng thụ hưởng trong điều kiện các chuỗi sản phẩm địa phương có sự tham gia của nhiều chủ thể với địa vị pháp lý khác nhau. Hộ trực tiếp sản xuất nông nghiệp, hộ kinh doanh đã đăng ký và hợp tác xã không thuộc cùng một phạm vi điều chỉnh của chính sách hỗ trợ chuyển đổi. Trong khi đó, số liệu về cơ sở kinh tế cá thể chưa phản ánh đầy đủ tình trạng đăng ký và thời gian hoạt động của hộ kinh doanh. Sự khác biệt này có thể dẫn đến việc xác định không chính xác đối tượng đủ điều kiện hỗ trợ nếu chỉ căn cứ vào hoạt động sản xuất, kinh doanh thực tế hoặc quy mô cơ sở.

Đối với các hộ kinh doanh thu mua, chế biến và phân phối chè, măng, gà nhiều cựa, việc chuyển đổi còn liên quan đến sự tiếp nối các quyền, nghĩa vụ phát sinh trước khi thành lập doanh nghiệp. Mặc dù khoản 3 Điều 16 Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017 quy định nguyên tắc kế thừa quyền, nghĩa vụ, việc xử lý hợp đồng cung ứng, công nợ, tài sản và quyền sử dụng nhãn hiệu vẫn phụ thuộc vào tính chất từng quan hệ pháp luật. Đặc biệt, quyền sử dụng nhãn hiệu thuộc hợp tác xã hoặc chủ thể khác không đương nhiên được chuyển giao khi hộ kinh doanh chuyển đổi thành doanh nghiệp. Đây là vấn đề có ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng duy trì liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm địa phương.

Bên cạnh đó, sự khác biệt về điều kiện thụ hưởng giữa chính sách hỗ trợ chuyển đổi và các chương trình phát triển sản phẩm đặt ra vấn đề về phạm vi phối hợp trong thực hiện pháp luật. Việc sản phẩm được công nhận OCOP hoặc hộ kinh doanh tham gia chuỗi cung ứng không đồng nghĩa với việc đáp ứng điều kiện hỗ trợ chuyển đổi thành doanh nghiệp. Vì vậy, sự kết nối giữa các chương trình phải được xem xét trên cơ sở phân định đối tượng, nội dung hỗ trợ và thẩm quyền thực hiện, bảo đảm tính thống nhất trong áp dụng chính sách mà không làm thay đổi điều kiện thụ hưởng theo quy định.

Cuối cùng, việc đánh giá kết quả thực hiện chính sách gặp giới hạn nếu chỉ sử dụng số liệu thống kê về cơ sở kinh tế cá thể và số doanh nghiệp đang hoạt động. Những chỉ tiêu này không trực tiếp phản ánh số hộ kinh doanh đủ điều kiện hỗ trợ, số doanh nghiệp thành lập từ chuyển đổi hoặc khả năng duy trì hoạt động sau thành lập. Do đó, việc đối chiếu dữ liệu đăng ký kinh doanh, quản lý thuế và thông tin thực hiện chính sách có ý nghĩa quan trọng đối với đánh giá hiệu quả hỗ trợ, đặc biệt trong việc phân biệt kết quả chuyển đổi về mặt pháp lý với khả năng phát triển hoạt động kinh doanh gắn với sản phẩm địa phương.

4. Kiến nghị hoàn thiện cơ chế pháp lý hỗ trợ chuyển đổi hộ kinh doanh thành doanh nghiệp gắn với phát triển sản phẩm địa phương tại xã Xuân Đài, tỉnh Phú Thọ

4.1. Hoàn thiện hướng dẫn xác định đối tượng hỗ trợ và lựa chọn mô hình kinh doanh phù hợp

Việc nâng cao hiệu quả hỗ trợ chuyển đổi hộ kinh doanh thành doanh nghiệp tại xã Xuân Đài, tỉnh Phú Thọ trước hết cần tập trung vào hướng dẫn xác định đúng đối tượng thụ hưởng và lựa chọn hình thức tổ chức kinh doanh phù hợp. Theo quy định tại Điều 16 Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017, cơ quan có thẩm quyền cần hướng dẫn phân biệt hộ trực tiếp sản xuất nông nghiệp, hộ kinh doanh đã đăng ký và hợp tác xã, đồng thời làm rõ điều kiện về thời gian hoạt động, tư cách pháp lý và phạm vi hỗ trợ. Đối với các chủ thể tham gia chuỗi sản phẩm chè, măng và gà nhiều cựa, nội dung tư vấn cần gắn với quy mô hoạt động, nhu cầu huy động vốn, khả năng quản trị và chế độ trách nhiệm tài sản của từng loại hình doanh nghiệp, bảo đảm việc chuyển đổi xuất phát từ nhu cầu kinh doanh thực chất, thay vì chỉ nhằm gia tăng số lượng doanh nghiệp thành lập.

Để phù hợp với đặc điểm địa bàn miền núi và dân cư phân bố tại nhiều khu vực, UBND xã Xuân Đài cần phối hợp với cơ quan đăng ký kinh doanh và các đơn vị hỗ trợ pháp lý tổ chức phổ biến chính sách, hướng dẫn trực tiếp kết hợp với cung cấp thông tin qua dịch vụ công trực tuyến. Hoạt động này phải bảo đảm tính tự nguyện trong lựa chọn mô hình kinh doanh, đúng thẩm quyền và không phát sinh thủ tục xác nhận hoặc điều kiện đăng ký ngoài quy định pháp luật.

4.2. Nâng cao chất lượng tư vấn pháp lý nhằm bảo đảm tính liên tục của hoạt động kinh doanh sau chuyển đổi

Một trong những yêu cầu trọng tâm khi nâng cao chất lượng hỗ trợ chuyển đổi hộ kinh doanh thành doanh nghiệp là bảo đảm sự kế thừa quyền, nghĩa vụ pháp lý và duy trì ổn định các quan hệ kinh doanh đã hình thành. Đối với hộ kinh doanh tham gia các chuỗi sản phẩm chè, măng và gà nhiều cựa tại xã Xuân Đài, tỉnh Phú Thọ, nội dung tư vấn phải được triển khai xuyên suốt trước và sau chuyển đổi, không chỉ dừng ở hồ sơ đăng ký mà còn bao quát công nợ, nghĩa vụ thuế, hợp đồng, tài sản, lao động, điều kiện kinh doanh và quyền sở hữu trí tuệ. Theo khoản 3 Điều 16 Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017, doanh nghiệp chuyển đổi kế thừa quyền, nghĩa vụ của hộ kinh doanh; đối với trường hợp chuyển thành công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần, chủ hộ vẫn chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản về các khoản nợ chưa thanh toán, trừ trường hợp có thỏa thuận khác theo quy định. Vì vậy, tư vấn cần xác định trách nhiệm của từng chủ thể và căn cứ tiếp tục sử dụng hợp pháp tài sản, nhãn hiệu, đồng thời bảo vệ quyền lợi của đối tác trong chuỗi cung ứng.

Để nâng cao tính thiết thực, nội dung tư vấn cần được xây dựng phù hợp với đặc điểm pháp lý của từng chuỗi sản phẩm địa phương. Đối với hoạt động kinh doanh chè, trọng tâm là hợp đồng cung ứng nguyên liệu, điều kiện chế biến và quyền sử dụng nhãn hiệu; đối với sản phẩm măng, cần chú trọng quy định về chế biến, bảo quản, chất lượng và nhãn hàng hóa; đối với hoạt động kinh doanh gà nhiều cựa, nội dung hướng dẫn tập trung vào nghĩa vụ về chăn nuôi, thú y, giết mổ, vận chuyển và tiêu thụ tương ứng với từng công đoạn. Việc lồng ghép các chuyên đề này vào chương trình hỗ trợ pháp lý hiện hành sẽ góp phần nâng cao năng lực tuân thủ pháp luật, hạn chế rủi ro trong quan hệ thương mại và bảo đảm hoạt động kinh doanh được duy trì ổn định sau chuyển đổi mà không làm phát sinh thủ tục hành chính ngoài quy định.

4.3. Tăng cường phối hợp chính sách hỗ trợ chuyển đổi với các chương trình phát triển sản phẩm địa phương

Việc gắn hỗ trợ chuyển đổi hộ kinh doanh thành doanh nghiệp với phát triển sản phẩm địa phương tại xã Xuân Đài, tỉnh Phú Thọ đòi hỏi cơ chế phối hợp giữa các cơ quan thực hiện chính sách, trên cơ sở phân định rõ đối tượng, nội dung hỗ trợ và thẩm quyền quản lý. Theo định hướng của Chương trình hỗ trợ pháp lý liên ngành được UBND tỉnh Phú Thọ phê duyệt tại Quyết định số 518/QĐ-UBND ngày 25/02/2026, hoạt động tư vấn về đăng ký doanh nghiệp, hợp đồng, thuế và điều kiện kinh doanh có thể được kết nối với các chương trình nâng cao chất lượng sản phẩm, xây dựng thương hiệu và xúc tiến thương mại. Đối với các chuỗi chè, măng và gà nhiều cựa, sự phối hợp này góp phần hỗ trợ các chủ thể đủ điều kiện chuyển đổi nâng cao năng lực tổ chức kinh doanh và mở rộng thị trường, nhưng không làm thay đổi điều kiện thụ hưởng của từng chương trình.

Về tổ chức thực hiện, UBND xã Xuân Đài cần phát huy vai trò tổng hợp nhu cầu, cung cấp thông tin và kết nối hộ kinh doanh với cơ quan đăng ký kinh doanh, cơ quan thuế, đơn vị hỗ trợ pháp lý và cơ quan phụ trách phát triển sản phẩm địa phương. Việc phối hợp cần ưu tiên sử dụng thông tin quản lý hợp pháp đã có, hạn chế yêu cầu cung cấp trùng lặp và kịp thời chuyển những vướng mắc vượt thẩm quyền đến cơ quan có trách nhiệm giải quyết. Qua đó, các chính sách hỗ trợ được thực hiện thống nhất, tránh phân tán nguồn lực hoặc mở rộng phạm vi ưu đãi trái quy định.

4.4. Hoàn thiện cơ sở thông tin và tiêu chí đánh giá kết quả hỗ trợ chuyển đổi

Để đánh giá đúng hiệu quả của cơ chế hỗ trợ chuyển đổi hộ kinh doanh thành doanh nghiệp gắn với sản phẩm địa phương tại xã Xuân Đài, tỉnh Phú Thọ cần xây dựng hệ thống chỉ tiêu theo dõi có khả năng phân biệt điều kiện thụ hưởng, kết quả chuyển đổi và khả năng duy trì hoạt động của doanh nghiệp. Các chỉ tiêu cơ bản bao gồm số hộ kinh doanh đã đăng ký, số trường hợp đáp ứng điều kiện hỗ trợ, số doanh nghiệp thành lập từ hộ kinh doanh, số chủ thể được thụ hưởng từng biện pháp hỗ trợ và tình trạng hoạt động sau 12 hoặc 24 tháng. Đối với doanh nghiệp tham gia chuỗi sản phẩm địa phương, việc đánh giá cần xem xét thêm khả năng duy trì hợp đồng cung ứng, tiêu thụ, quyền sử dụng hợp pháp nhãn hiệu và mức độ tuân thủ nghĩa vụ pháp lý sau chuyển đổi. Cách tiếp cận này bảo đảm hiệu quả chính sách được xác định từ kết quả hoạt động thực chất, không chỉ dựa trên số lượng doanh nghiệp thành lập.

Việc tổng hợp và đối chiếu thông tin cần được thực hiện trên cơ sở phối hợp giữa cơ quan đăng ký kinh doanh, cơ quan thuế và các đơn vị triển khai chính sách hỗ trợ, bảo đảm thống nhất phạm vi địa bàn xã Xuân Đài sau sắp xếp hành chính, thời điểm thống kê và tiêu chí phân loại chủ thể. Đồng thời, quá trình khai thác, chia sẻ dữ liệu phải tuân thủ quy định về thẩm quyền và bảo vệ thông tin. Trên cơ sở kết quả được kiểm chứng, cơ quan có trách nhiệm có thể xác định những vướng mắc thuộc khâu tổ chức thực hiện hoặc nội dung quy phạm pháp luật, từ đó lựa chọn biện pháp hoàn thiện phù hợp với điều kiện phát triển sản phẩm địa phương.

5. Kết luận

Hoàn thiện cơ chế hỗ trợ chuyển đổi hộ kinh doanh thành doanh nghiệp gắn với phát triển sản phẩm địa phương tại xã Xuân Đài, tỉnh Phú Thọ đòi hỏi phân biệt chính xác đối tượng thụ hưởng, bảo đảm kế thừa quyền, nghĩa vụ và duy trì hoạt động sau chuyển đổi. Các chuỗi chè, măng và gà nhiều cựa cho thấy không thể đồng nhất hộ trực tiếp sản xuất nông nghiệp, hộ kinh doanh và hợp tác xã. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất hướng dẫn lựa chọn mô hình phù hợp; tư vấn xử lý hợp đồng, công nợ, tài sản và nghĩa vụ chuyên ngành; phối hợp hỗ trợ chuyển đổi với phát triển sản phẩm; đồng thời hoàn thiện thông tin theo dõi hoạt động doanh nghiệp. Trọng tâm là nâng cao chất lượng thực hiện pháp luật trong phạm vi thẩm quyền, chỉ xem xét sửa đổi quy định khi xác định được bất cập thuộc nội dung quy phạm./.

-------------------------------------

Ghi chú:

(1) Bùi Minh (2026), “Chắp cánh cho thương hiệu ‘Chè sương sớm Xuân Sơn’”, Báo Phú Thọ, https://baophutho.vn/chap-canh-cho-thuong-hieu-che-suong-som-xuan-son-255686.htm (truy cập ngày 20/10/2026).

(2) Minh Thuật (2026), “Xuân Đài tạo nền tảng phát triển nông nghiệp bền vững”, Báo Phú Thọ, https://baophutho.vn/xuan-dai-tao-nen-tang-phat-trien-nong-nghiep-ben-vung-255678.htm (truy cập ngày 20/10/2026).

(3) Bùi Minh (2026), “‘Thủ phủ’ gà chín cựa xứ Mường Xuân Đài”, Báo Phú Thọ, https://baophutho.vn/thu-phu-ga-chin-cua-xu-muong-xuan-dai-254792.htm (truy cập ngày 20/10/2026).

(4) Thống kê tỉnh Phú Thọ (2026), Niên giám thống kê xã Xuân Đài năm 2025, tháng 7/2026, Biểu 10 “Số doanh nghiệp đang hoạt động tại thời điểm 31/12/2025”, tr. 11; Biểu 18 “Số cơ sở kinh tế cá thể phi nông, lâm nghiệp và thủy sản”, tr.19.

---------------------------------------

Tài liệu tham khảo:

1. Quốc hội (2017), Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa số 04/2017/QH14 ngày 12/6/2017.

2. Quốc hội (2020), Luật Doanh nghiệp số 59/2020/QH14 ngày 17/6/2020, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 03/2022/QH15 ngày 11/01/2022 và Luật số 76/2025/QH15 ngày 17/6/2025.

3. Quốc hội (2025), Nghị quyết số 198/2025/QH15 ngày 17/5/2025 về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân.

4. Chính phủ (2021), Nghị định số 80/2021/NĐ-CP ngày 26/8/2021 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa.

5. Chính phủ (2025), Nghị định số 168/2025/NĐ-CP ngày 30/6/2025 về đăng ký doanh nghiệp.

6. Chính phủ (2026), Nghị định số 296/2026/NĐ-CP ngày 23/7/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 168/2025/NĐ-CP ngày 30/6/2025 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp.

7. Chính phủ (2026), Nghị định số 20/2026/NĐ-CP ngày 15/01/2026 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị quyết số 198/2025/QH15 ngày 17/5/2025 của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân.

8. Hà Nam Khánh Giao và Nguyễn Đặng Thanh Nhật (2020), “Chuyển đổi hộ kinh doanh cá thể thành doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Dương”, Tạp chí Công Thương, số 16.

9. Hoang Thi Thu Huyen, Do Ly Hoai Tan và Liang Emlyn Yang (2024), “Driving Factors and Challenges for the Formalization of Household Businesses in Ho Chi Minh City, Vietnam”, Journal of Developmental Entrepreneurship, tập 29, số 4, mã bài 2450026, https://doi.org/10.1142/S1084946724500262.

10. Thống kê tỉnh Phú Thọ (2026), Niên giám thống kê xã Xuân Đài năm 2025, tháng 7/2026.


Phùng Minh Đức, Nguyễn Thu Giang, Nguyễn Thị Ninh - Khoa Luật, Học viện Thanh thiếu niên Việt Nam

Bài viết cùng tác giả