Tiếng Việt
Tiếng Việt Tiếng Anh

Phát huy vai trò của phong trào “Bình dân học vụ số” trong phát triển năng lực số cho học viên Tiểu đoàn 12, Trường Sĩ quan Chính trị

Ngày đăng: 24/10/2026   11:58
Đọc bài viết
Mặc định Cỡ chữ
Tóm tắt: Trong quá trình đổi mới giáo dục, đào tạo và đẩy mạnh chuyển đổi số trong Quân đội, phát triển năng lực số cho học viên đào tạo sĩ quan chính trị là yêu cầu gắn trực tiếp với chất lượng học tập, rèn luyện và khả năng thực hiện nhiệm vụ sau khi tốt nghiệp. Đối với học viên Tiểu đoàn 12, Trường Sĩ quan Chính trị, phong trào “Bình dân học vụ số” cần được cụ thể hóa thành quá trình rèn luyện có mục tiêu, trong đó kiến thức công nghệ được chuyển hóa thành khả năng giải quyết các nhiệm vụ học tập và công tác. Trên cơ sở tiếp cận năng lực số từ yêu cầu thực hành và vận dụng, bài viết đề xuất định hướng tổ chức phong trào theo chu trình xác định nhu cầu, thiết kế nhiệm vụ, hướng dẫn thực hiện, đánh giá mức độ tiến bộ và duy trì kết quả. Qua đó, góp phần nâng cao tính thiết thực, khả năng ứng dụng và tính bền vững của phong trào trong môi trường đào tạo quân sự.

Từ khóa: Năng lực số; Bình dân học vụ số; học viên; Tiểu đoàn 12; Trường Sĩ quan Chính trị.

Abstract: As the military undergoes educational reform and accelerates its digital transformation, developing digital competencies among cadets training to become political officers has become a requirement directly linked to the quality of their studies, training, and their future capacity to perform duties upon graduation. For cadets in Battalion 12 of the Political Officer School, the "Digital Literacy for All" initiative must be translated into a purposeful training process—one where technological knowledge is converted into the practical ability to address academic and professional tasks. Approaching digital competency through the lens of hands-on application, this article proposes a framework for organizing the initiative based on a cycle that includes identifying needs, designing tasks, providing guidance, assessing progress, and sustaining outcomes. This approach aims to enhance the practical relevance, applicability, and long-term sustainability of the initiative within the context of military education.

Key word: Digital literacy; digital mass education; learners; Battalion 12; Political Officer School.

Cán bộ, học viên, nhân viên Tiểu đoàn 12, Trường Sĩ quan Chính trị.

1. Mở đầu

Sự phát triển nhanh chóng của khoa học, công nghệ và các phương thức xử lý thông tin đang đặt ra những yêu cầu mới đối với quá trình đào tạo nguồn nhân lực trong Quân đội. Bên cạnh kiến thức chuyên môn, người học cần có khả năng khai thác tài liệu điện tử, tổ chức và xử lý thông tin, sử dụng công cụ công nghệ phục vụ công việc, đồng thời nhận biết những nguy cơ có thể phát sinh trong quá trình tiếp cận môi trường số. Những yêu cầu đó cho thấy năng lực số ngày càng gắn bó với chất lượng học tập, nghiên cứu và thực hiện chức trách, nhiệm vụ của quân nhân. Phong trào “Bình dân học vụ số” tạo điều kiện để phổ cập kiến thức, hình thành kỹ năng và thúc đẩy thói quen ứng dụng công nghệ trong học tập, công tác. Tuy nhiên, giá trị của phong trào không chỉ nằm ở việc giúp người học biết thêm những thao tác hoặc công cụ mới, mà quan trọng hơn là tạo ra sự chuyển biến trong phương pháp làm việc, khả năng giải quyết nhiệm vụ và ý thức sử dụng công nghệ có trách nhiệm. Đối với học viên Tiểu đoàn 12, Trường Sĩ quan Chính trị, yêu cầu phát triển năng lực số cần được xem xét trong mối quan hệ với quá trình học tập, rèn luyện và chuẩn bị năng lực nghề nghiệp của người sĩ quan chính trị tương lai. Việc tổ chức phong trào vì thế cần vượt qua cách tiếp cận thiên về phổ biến kiến thức, tiến tới hình thành những kỹ năng có thể thực hiện, kiểm tra và vận dụng trong các tình huống phù hợp với chương trình đào tạo.

2. Phát triển năng lực số gắn với yêu cầu hình thành năng lực nghề nghiệp của học viên

Năng lực số không nên chỉ được nhận diện qua khả năng sử dụng thiết bị hoặc thao tác thành thạo trên một phần mềm cụ thể. Trong quá trình học tập và rèn luyện, năng lực này còn thể hiện ở khả năng xác định nhu cầu thông tin, lựa chọn công cụ phù hợp, xử lý dữ liệu, tạo lập sản phẩm, kiểm chứng kết quả và tuân thủ những quy định liên quan đến việc sử dụng công nghệ.

Đối với học viên Tiểu đoàn 12, phát triển năng lực số cần gắn với những nhiệm vụ thường xuyên trong quá trình đào tạo. Chẳng hạn, việc tìm kiếm tài liệu phục vụ học tập không chỉ đòi hỏi kỹ năng sử dụng công cụ tìm kiếm mà còn yêu cầu biết phân biệt nguồn tin đáng tin cậy, lựa chọn nội dung phù hợp và hệ thống hóa thông tin. Tương tự, việc xây dựng văn bản hoặc bài trình bày không đơn thuần là thao tác kỹ thuật, mà còn thể hiện khả năng tổ chức nội dung, diễn đạt tư tưởng và trình bày kết quả học tập một cách khoa học.

Đặc điểm đào tạo sĩ quan chính trị còn đặt ra yêu cầu kết nối kỹ năng số với hoạt động giáo dục chính trị, công tác tư tưởng và quản lý bộ đội trong phạm vi nhiệm vụ được giao. Những kỹ năng được hình thành trong thời gian học tập có thể tạo nền tảng để học viên chuẩn bị tài liệu, trình bày nội dung giáo dục, khai thác học liệu và phối hợp thực hiện công việc khi đảm nhiệm cương vị công tác sau này. Việc rèn luyện cần được tiến hành bằng các nhiệm vụ phù hợp, không tách rời mục tiêu đào tạo chuyên môn.

Mặt khác, năng lực số trong môi trường quân sự phải gắn với ý thức tổ chức kỷ luật và trách nhiệm bảo vệ thông tin. Khả năng sử dụng công nghệ chỉ thực sự có ý nghĩa khi học viên biết lựa chọn phương tiện được phép, tuân thủ quy định về quản lý dữ liệu, kiểm chứng thông tin trước khi sử dụng và không đưa dữ liệu thuộc phạm vi bảo vệ lên nền tảng chưa được phép. Vì vậy, kỹ năng công nghệ và trách nhiệm sử dụng công nghệ cần được hình thành đồng thời.

Từ những yêu cầu trên, có thể xác định ba phương diện cần quan tâm trong quá trình phát triển năng lực số cho học viên: khả năng thực hiện các thao tác thiết yếu; khả năng vận dụng công cụ để hoàn thành nhiệm vụ học tập, nghiên cứu; và khả năng sử dụng công nghệ đúng quy định, có trách nhiệm. Đây là căn cứ để lựa chọn nội dung, tổ chức thực hành và xác định kết quả cần đạt của phong trào.

3. Chuyển phong trào từ phổ biến kiến thức sang hình thành khả năng vận dụng

Một yêu cầu quan trọng trong tổ chức phong trào “Bình dân học vụ số” là xác định rõ khoảng cách giữa tiếp nhận kiến thức và hình thành kỹ năng. Người học có thể hiểu cách thức sử dụng một công cụ sau khi được giới thiệu, nhưng điều đó chưa đồng nghĩa với việc có thể tự thực hiện nhiệm vụ, xử lý sai sót hoặc vận dụng công cụ vào một tình huống khác. Do đó, hoạt động phổ cập cần được thiết kế theo hướng tạo cơ hội thực hành, nhận phản hồi và điều chỉnh cách làm.

Trước hết, nội dung bồi dưỡng cần xuất phát từ những công việc học viên thường gặp. Thay vì tổ chức các chuyên đề chỉ xoay quanh việc giới thiệu tính năng của công nghệ, đơn vị có thể lựa chọn những nhiệm vụ như sắp xếp tài liệu học tập, tổng hợp thông tin từ các nguồn được phép, xây dựng văn bản theo yêu cầu, thiết kế bài trình bày hoặc hệ thống hóa kết quả nghiên cứu. Mỗi nhiệm vụ cần xác định rõ yêu cầu hoàn thành và tiêu chí đánh giá để học viên hiểu mình cần đạt điều gì sau quá trình thực hành.

Hai là, cần quan tâm đến sự khác biệt về trình độ ban đầu. Cùng một nhiệm vụ có thể được tổ chức theo các mức độ khác nhau: thực hiện thao tác cơ bản có hướng dẫn; tự hoàn thành nhiệm vụ với các yêu cầu đã xác định; hoặc vận dụng kỹ năng để giải quyết tình huống phức hợp hơn. Cách tổ chức này giúp học viên có điều kiện tiến bộ theo khả năng, đồng thời tránh tình trạng nội dung bồi dưỡng quá dễ đối với người đã thành thạo hoặc quá khó đối với người còn hạn chế.

Ba là, kết quả học tập cần được củng cố sau hoạt động. Kỹ năng chỉ có khả năng duy trì khi được sử dụng trong những nhiệm vụ phù hợp, được kiểm tra định kỳ và được bổ sung khi xuất hiện yêu cầu mới. Vì vậy, nội dung của phong trào cần được liên kết với hoạt động tự học, nghiên cứu khoa học, chuẩn bị thảo luận và các nhiệm vụ đào tạo khác, thay vì chỉ tập trung vào thời điểm phát động hoặc tổ chức chuyên đề.

4. Một số định hướng tổ chức phát triển năng lực số cho học viên Tiểu đoàn 12

4.1. Xác định nhu cầu kỹ năng số từ nhiệm vụ học tập và rèn luyện

Việc lựa chọn nội dung phong trào cần bắt đầu từ yêu cầu thực tế của học viên, thay vì xây dựng danh mục kỹ năng quá rộng hoặc chạy theo những công nghệ mới. Đơn vị có thể rà soát các công việc học viên thường thực hiện, xác định thao tác nào còn khó khăn, kỹ năng nào cần củng cố và nội dung nào có thể hỗ trợ trực tiếp cho chất lượng học tập.

Quá trình xác định nhu cầu nên kết hợp trao đổi với học viên, ý kiến của cán bộ quản lý, nhận xét của giảng viên và kết quả thực hiện các nhiệm vụ thực hành. Trên cơ sở đó, lựa chọn một số nội dung ưu tiên theo từng giai đoạn, bảo đảm phù hợp với chương trình đào tạo và thời gian sinh hoạt, học tập của đơn vị.

Khi xác định mục tiêu, cần diễn đạt theo kết quả mà học viên phải thực hiện được. Chẳng hạn, thay vì đặt mục tiêu chung là nâng cao kỹ năng sử dụng công cụ văn phòng, có thể xác định yêu cầu hoàn thành một văn bản đúng thể thức, quản lý tệp theo quy tắc thống nhất hoặc trình bày nội dung học tập với cấu trúc rõ ràng. Mục tiêu cụ thể giúp việc tổ chức hướng dẫn và kiểm tra kết quả thuận lợi hơn.

4.2. Thiết kế nhiệm vụ thực hành gắn với chuyên ngành đào tạo

Nhiệm vụ thực hành là cầu nối giữa kiến thức công nghệ và khả năng vận dụng của học viên. Để bảo đảm tính thiết thực, mỗi hoạt động cần xuất phát từ một yêu cầu cụ thể, có hướng dẫn phù hợp và có sản phẩm hoặc kết quả quan sát được.

Đối với các kỹ năng cơ bản, có thể tổ chức thực hành quản lý tài liệu điện tử, xây dựng văn bản, trình bày thông tin hoặc sử dụng những công cụ được phép phục vụ học tập. Đối với kỹ năng phục vụ chuyên ngành, có thể lựa chọn nhiệm vụ xây dựng đề cương thảo luận, thiết kế tài liệu học tập, hệ thống hóa nội dung nghiên cứu hoặc trình bày một chủ đề giáo dục chính trị theo yêu cầu của giảng viên. Các ví dụ này cần được điều chỉnh theo chương trình thực tế và chỉ sử dụng dữ liệu, nền tảng đã được phép. Trong quá trình thực hành, người hướng dẫn cần chú trọng cách học viên xác định yêu cầu, lựa chọn công cụ, tổ chức thông tin và kiểm tra sản phẩm. Nếu chỉ đánh giá kết quả cuối cùng mà bỏ qua quá trình thực hiện, đơn vị sẽ khó nhận diện nguyên nhân của sai sót và khó xác định nội dung cần bồi dưỡng bổ sung. Đồng thời, việc sử dụng công cụ trí tuệ nhân tạo, nếu được phép trong nhiệm vụ cụ thể, cần đi kèm yêu cầu kiểm chứng nội dung, nhận diện giới hạn của công cụ và chịu trách nhiệm về sản phẩm. Không sử dụng công cụ hoặc nền tảng chưa được phép, không nhập dữ liệu cần bảo vệ và không xem kết quả do công cụ tạo ra là thông tin mặc nhiên chính xác.

4.3. Tổ chức học tập đồng đẳng gắn với trách nhiệm và kỷ luật

Trong quá trình rèn luyện, học viên có mức độ thành thạo khác nhau có thể hỗ trợ nhau giải quyết những khó khăn thông thường. Việc phát huy sự hỗ trợ đồng đẳng giúp người học có thêm cơ hội trao đổi, thực hành và củng cố kiến thức, đồng thời hình thành tinh thần hợp tác trong tập thể. Có thể bố trí các nhóm học tập nhỏ theo nhiệm vụ hoặc nội dung kỹ năng. Học viên có khả năng phù hợp được giao hỗ trợ những thao tác cơ bản, hướng dẫn cách sử dụng tài liệu và chia sẻ kinh nghiệm xử lý lỗi thường gặp. Các nội dung hướng dẫn cần thống nhất, đúng quy định và chịu sự theo dõi của cán bộ quản lý; hoạt động hỗ trợ đồng đẳng không thay thế trách nhiệm của cán bộ, giảng viên và lực lượng chuyên môn. Những vấn đề liên quan đến tài khoản, quyền truy cập, sự cố kỹ thuật hoặc quy định bảo mật phải được chuyển đến đầu mối có trách nhiệm xử lý. Không tự ý cài đặt phần mềm, chia sẻ thông tin đăng nhập hoặc sử dụng dữ liệu vượt quá phạm vi được phép. Thông qua hình thức này, phong trào có thể tạo môi trường học tập tích cực, trong đó việc chia sẻ kỹ năng được gắn với tinh thần trách nhiệm và ý thức chấp hành kỷ luật. Kết quả hỗ trợ cần được xem xét dựa trên mức độ tiến bộ của người được hướng dẫn, chất lượng nội dung chia sẻ và sự tuân thủ quy định trong quá trình thực hiện.

4.4. Đánh giá sự tiến bộ bằng nhiệm vụ và sản phẩm thực tế

Đánh giá là khâu giúp xác định hoạt động phổ cập có thực sự tạo ra chuyển biến về năng lực hay không. Vì vậy, cần xây dựng tiêu chí gắn với mục tiêu của từng nhiệm vụ, tránh sử dụng một cách đánh giá chung cho mọi nội dung.

Đối với nhiệm vụ quản lý tài liệu, tiêu chí có thể tập trung vào tính khoa học và khả năng tìm lại thông tin. Với nhiệm vụ soạn thảo hoặc trình bày, cần xem xét mức độ đáp ứng yêu cầu, tính rõ ràng và độ chính xác của nội dung. Với các nhiệm vụ khai thác thông tin, cần chú ý khả năng lựa chọn nguồn tin, kiểm chứng thông tin và tuân thủ quy định về sử dụng dữ liệu.

Việc đánh giá nên kết hợp nhận xét của người hướng dẫn, kết quả thực hành và tự đánh giá của học viên. Trong đó, sự tiến bộ so với mức ban đầu là căn cứ quan trọng để lựa chọn nội dung hỗ trợ tiếp theo. Học viên chưa đạt yêu cầu cần được hướng dẫn bổ sung; người đã thành thạo cần có nhiệm vụ vận dụng phù hợp để tiếp tục củng cố kỹ năng. Đơn vị cũng cần phân biệt số liệu phản ánh hoạt động với số liệu phản ánh kết quả. Số lượt tham gia hoặc số buổi tổ chức cho biết quy mô triển khai, trong khi tỷ lệ hoàn thành nhiệm vụ, mức độ đạt tiêu chí kỹ năng và khả năng khắc phục lỗi có thể phản ánh trực tiếp hơn kết quả rèn luyện. Các chỉ số chỉ nên được sử dụng khi đã có phương pháp thu thập, kiểm tra và xác nhận phù hợp.

4.5. Duy trì kỹ năng số thông qua hoạt động thường xuyên

Năng lực số khó được củng cố nếu chỉ hình thành trong một số buổi hướng dẫn riêng lẻ. Vì vậy, sau mỗi nội dung bồi dưỡng, cần tạo cơ hội để học viên tiếp tục sử dụng kỹ năng trong các nhiệm vụ học tập và rèn luyện phù hợp.

Có thể lựa chọn một số kỹ năng thiết yếu để đưa vào hoạt động tự học, chuẩn bị thảo luận, nghiên cứu khoa học hoặc xây dựng sản phẩm học tập. Việc lồng ghép cần có mục tiêu rõ ràng, không làm phát sinh hình thức hay gây chồng chéo với nhiệm vụ chính. Sau từng giai đoạn, đơn vị rà soát những kỹ năng được sử dụng thường xuyên, những nội dung dễ bị quên và các khó khăn mới phát sinh để điều chỉnh kế hoạch.

Tài liệu hướng dẫn ngắn gọn, được kiểm tra về nội dung và chia sẻ đúng phạm vi có thể hỗ trợ học viên tự ôn tập. Những lỗi thường gặp trong quá trình thực hành nên được tổng hợp thành nội dung hướng dẫn chung, giúp giảm thời gian xử lý lặp lại và nâng cao tính thống nhất trong tổ chức thực hiện. Duy trì kỹ năng cũng phải đi đôi với duy trì kỷ luật sử dụng công nghệ. Học viên cần hình thành thói quen kiểm chứng thông tin, bảo vệ tài khoản, sử dụng công cụ đúng mục đích và tuân thủ quy định của đơn vị. Đây là điều kiện để năng lực số không chỉ thể hiện ở sự thành thạo kỹ thuật mà còn ở khả năng vận dụng an toàn, có trách nhiệm.

5. Kết luận

Phát triển năng lực số cho học viên Tiểu đoàn 12, Trường Sĩ quan Chính trị thông qua phong trào “Bình dân học vụ số” cần được đặt trong mối quan hệ trực tiếp với yêu cầu học tập, rèn luyện và hình thành năng lực nghề nghiệp của người sĩ quan chính trị tương lai. Trọng tâm của quá trình này là chuyển kiến thức công nghệ thành khả năng thực hiện nhiệm vụ, đồng thời hình thành thói quen sử dụng thông tin và công cụ số có trách nhiệm trong môi trường quân sự. Để phong trào phát huy hiệu quả, cần bắt đầu từ nhu cầu kỹ năng thực tế, lựa chọn nhiệm vụ phù hợp, tạo cơ hội thực hành, phát huy sự hỗ trợ giữa học viên và đánh giá bằng kết quả có thể kiểm chứng. Việc duy trì kỹ năng cần được gắn với hoạt động đào tạo thường xuyên, đi đôi với yêu cầu bảo đảm an toàn thông tin và chấp hành kỷ luật. Các định hướng trên cần được cụ thể hóa theo điều kiện của Tiểu đoàn 12 và tiếp tục điều chỉnh trên cơ sở kết quả khảo sát, kiểm tra, tổng kết thực tế. Qua đó, phong trào “Bình dân học vụ số” có thể góp phần thiết thực vào nâng cao chất lượng tự học, nghiên cứu và khả năng vận dụng công nghệ của học viên, đáp ứng yêu cầu đào tạo sĩ quan chính trị trong tình hình mới.

-------------------------------------------

Tài liệu tham khảo:

1. Ban Chấp hành Trung ương (2024), Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Hà Nội.

2. Ban Chấp hành Trung ương (2025), Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, Hà Nội.

3. Quân uỷ Trung ương (2025), Nghị quyết số 3488-NQ/QUTW, ngày 29/01/2025 của Quân uỷ Trung ương về đột phá phát triển khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trong Quân đội, Hà Nội.

4. Quân uỷ Trung ương (2026), Nghị quyết số 290-NQ/QUTW ngày 07/01/2026 của Quân uỷ Trung ương về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo trong Quân đội, Hà Nội.

5. Trường Sĩ quan Chính trị (2025), Báo cáo sơ kết công tác cải cách hành chính, chuyển đổi số giai đoạn 2021-2025; đề xuất nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm cải cách hành chính, chuyển đổi số giai đoạn 2026-2030, số 1625/BC-SQCT ngày 20/5/2025, Hà Nội.

6. Đảng uỷ Trường Sĩ quan Chính trị (2025), Nghị quyết số 23-NQ/ĐU, ngày 05/9/2025 của Đảng uỷ Trường Sĩ quan Chính trị về lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ năm học 2025 - 2026 , Hà Nội.

7. Đảng uỷ Trường Sĩ quan Chính trị (2026), Nghị quyết số 144-NQ/ĐU, ngày 06/3/2026 của Đảng uỷ Trường Sĩ quan Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo ở Trường Sĩ quan Chính trị, Hà Nội.

Phạm Lê Hải Phong - Đại đội 35, Tiểu đoàn 12, Trường Sĩ quan Chính trị

Bài viết cùng tác giả