Với tinh thần đó, tiếp theo bài viết “Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ thiên tài của cách mạng Việt Nam - tấm gương tiêu biểu, mẫu mực nhất về tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới, sáng tạo vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”, Tạp chí Tổ chức nhà nước và Lao động có bài viết tổng hợp về tấm gương sáng của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước - những học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh - tiêu biểu cho tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới, sáng tạo vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước - những học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Đồng chí Lê Duẩn, kiến trúc sư của đường lối cách mạng miền Nam
Gần 60 năm hoạt động cách mạng, đồng chí Lê Duẩn đã có những cống hiến, đóng góp to lớn vào đường lối lãnh đạo của Đảng, đưa sự nghiệp cách mạng của Đảng ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Đồng chí đã có nhiều đóng góp quan trọng cho thắng lợi của cách mạng Việt Nam; thể hiện rõ nét ở những tư tưởng đột phá, tầm nhìn xa trong tư duy lãnh đạo sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Khi giữ cương vị Bí thư Xứ ủy Trung Kỳ thời kỳ cao trào cách mạng dân tộc dân chủ (1936-1939), đồng chí Lê Duẩn đã sớm nhận rõ và dám nghĩ khác, thể hiện qua quan điểm không tán thành với hai khuynh hướng cực đoan lúc bấy giờ là chỉ hoạt động bí mật hoặc hoạt động công khai, đồng thời đưa ra chủ trương kết hợp hài hòa hai hình thức này. Tại Hội nghị Trung ương lần thứ 6 (tháng 11/1939), đồng chí Lê Duẩn cùng với Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ chuẩn bị và chủ trì Hội nghị, với chủ trương tạm gác vấn đề ruộng đất, đưa ra khẩu hiệu chỉ tịch thu ruộng đất của đế quốc và địa chủ phản bội dân tộc; thay khẩu hiệu thành lập chính quyền Xô viết công - nông - binh bằng khẩu hiệu lập chính quyền cộng hòa dân chủ; tập trung mũi nhọn của cuộc đấu tranh vào đế quốc tay sai để chuẩn bị những điều kiện tiến tới làm cách mạng giải phóng dân tộc.
Sau khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết năm 1954, đồng chí Lê Duẩn nhận được chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh ở lại miền Nam cùng với Xứ ủy Nam Bộ lãnh đạo phong trào cách mạng. Bằng sự nhạy bén chính trị, sự sắc sảo trong tư duy, đồng chí đã sớm dự đoán Mỹ và ngụy quyền tay sai mưu đồ phá hoại Hiệp định Giơ-ne-vơ, thẳng tay đàn áp phong trào cách mạng trong biển máu và âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta. Theo đồng chí Lê Duẩn, chủ trương “đấu tranh hòa bình đòi thi hành Hiệp định” của Trung ương là không còn phù hợp, nhất là khi thời hạn Tổng tuyển cử tháng 7/1956 đã qua đi. Vì vậy, đồng chí đã chủ động sáng tạo, xác định hướng đi cho cách mạng miền Nam thông qua tác phẩm “Đường lối cách mạng miền Nam Việt Nam” (sau đổi thành “Đề cương cách mạng miền Nam”). Trong tác phẩm này, đồng chí Lê Duẩn đã chỉ rõ: Nhân dân ta ở miền Nam chỉ có một con đường là vùng lên chống lại Mỹ - Diệm, để cứu nước và tự cứu mình. Đó là con đường cách mạng. Ngoài con đường đó, không còn con đường nào khác. Đây là những quan điểm mang tính đột phá, sáng tạo và sau này trở thành kim chỉ nam cho hành động của cách mạng miền Nam, bởi Hội nghị Trung ương lần thứ 15, đợt 2 (từ ngày 10 đến ngày 15/7/1959) đã thông qua Nghị quyết Trung ương lần thứ 15 (khóa II) - đánh dấu việc xác định phương hướng cho cách mạng miền Nam, khẳng định phải dùng bạo lực cách mạng của quần chúng nhân dân, kết hợp đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang để đánh đổ chính quyền của đế quốc và phong kiến, dựng lên chính quyền nhân dân. Như vậy, đồng chí Lê Duẩn là người đã đề xuất Cương lĩnh chống Mỹ, cứu nước ở miền Nam. Sau này, khi tổng kết ưu điểm, khuyết điểm của Đảng trong chỉ đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ, Đảng ta thừa nhận: Trong một thời gian khá dài, khi cả miền Nam tràn ngập trong nước sôi lửa bỏng, Đảng ta đã chậm tìm ra phương pháp đấu tranh chuyển thế để địch thẳng tay khủng bố, tàn sát, gây tổn thất không kể xiết cho nhân dân miền Nam, đưa cách mạng lâm vào tình trạng rất hiểm nghèo. Điều này càng cho thấy giá trị tầm nhìn xa trong tư duy lãnh đạo cách mạng của đồng chí Lê Duẩn.
Tại Đại hội lần thứ III của Đảng (1960), đồng chí Lê Duẩn được bầu làm Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Trong 15 năm (1960-1975) giữ cương vị này, đồng chí Lê Duẩn đã cùng Bộ Chính trị và Trung ương Đảng kiên định đường lối cách mạng Việt Nam để tiến hành thắng lợi cuộc chiến tranh chống Mỹ xâm lược và tay sai, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Bấy giờ, trong phong trào cộng sản quốc tế và một số đồng chí lãnh đạo của Đảng ta cũng có những đánh giá khác nhau về sức mạnh của đế quốc Mỹ. Khuynh hướng đánh giá thấp sức mạnh của Mỹ dẫn đến chủ quan, nhận định coi thường kẻ thù; ngược lại, một số người lại đánh giá quá cao tiềm lực, sức mạnh của Mỹ, dẫn đến tư tưởng lo sợ xung đột khu vực sẽ dẫn đến chiến tranh thế giới, muốn giữ hòa bình bằng mọi giá. Bằng tư duy chính trị sắc bén, sáng suốt, tầm nhìn chiến lược xa và rộng, đồng chí Lê Duẩn đã có những nhận định, đánh giá chính xác tình hình và sức mạnh thực sự của đế quốc Mỹ, từ đó có những chiến lược, sách lược đúng đắn, khoa học để cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi hoàn toàn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Sau khi đế quốc Mỹ buộc phải ký Hiệp định Paris (ngày 27/01/1973) về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, đồng chí Lê Duẩn nhận định: Lúc này chúng ta đang có thời cơ chiến lược để giải phóng miền Nam. Hai mươi năm chiến đấu mới tạo được thời cơ này, chúng ta phải nắm lấy để đưa sự nghiệp giải phóng dân tộc đến thắng lợi hoàn toàn... Ngoài cơ hội này không có cơ hội khác nữa,... Về vai trò của đồng chí Lê Duẩn trong giai đoạn này, nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười cho rằng: Suốt hai mươi năm chống Mỹ, có thể nói, trong mỗi quyết sách chiến lược đối nội cũng như đối ngoại, trong mỗi thắng lợi của tiền tuyến cũng như ở hậu phương, trên chiến trường cũng như trên bàn đàm phán, trong giai đoạn mở đầu cũng như giai đoạn kết thúc chiến tranh, ở đâu cũng có dấu ấn tư duy độc lập, trí tuệ sáng tạo và nghị lực phi thường của Anh Ba.
Sau khi đất nước hòa bình, thống nhất, cả nước cùng tiến lên chủ nghĩa xã hội, đồng chí Lê Duẩn đã góp phần cùng Trung ương Đảng làm sáng tỏ nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn nhằm xác định đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta phù hợp với đặc điểm xuất phát và những điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam. Luận điểm cho rằng phải tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng, trong đó cách mạng khoa học - kỹ thuật là then chốt đã thể hiện sự nhạy bén trong việc nhìn nhận vai trò của khoa học kỹ thuật trong xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Luận điểm này cho thấy nội dung cơ bản của đấu tranh giai cấp, đấu tranh giữa hai con đường ở Việt Nam là đưa sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn. Nội dung cơ bản của luận điểm này đến Đại hội lần thứ IX của Đảng vẫn được thể hiện. Sau Chiến thắng lịch sử mùa Xuân năm 1975, nhiều cán bộ có biểu hiện chủ quan, tự mãn; cộng với nhận thức sai lầm, mang tư duy, cung cách quản lý thời chiến sang áp dụng quản lý xã hội, quản lý kinh tế trong thời bình đã làm cho đất nước lâm vào trì trệ, khó khăn. Trước thực trạng đó, một lần nữa, tư duy sáng tạo, đổi mới của đồng chí Lê Duẩn đã in dấu ấn sâu đậm vào sự thành công của công cuộc đổi mới đất nước. Khái niệm “bước đi ban đầu” đã cho thấy tư duy sáng tạo, đổi mới của đồng chí Lê Duẩn, và đến Đại hội V của Đảng (1982) thì tư tưởng về “bước đi ban đầu” mới được trở lại cùng với sự tự phê bình về khuyết điểm chủ quan nóng vội trong xây dựng và phát triển, bảo thủ trì trệ trong quản lý kinh tế. Tư duy đổi mới đó của Đảng thể hiện bước ngoặt trong Đại hội VI của Đảng (1986). Đến Đại hội VII, Đảng ta đã vạch ra đường lối chung cơ bản cho toàn bộ sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa, từ đó chỉ đạo cho công cuộc đổi mới, với Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, trong đó tư tưởng “bước đi ban đầu” dưới thuật ngữ “chặng đường đầu tiên” được đánh giá cao với nội dung có phát triển mới, và đến Đại hội VIII thì những mục tiêu của chặng đường này đã được thực hiện.
Tổng Bí thư Trường Chinh, người yêu cầu và trực tiếp chỉ đạo viết lại Báo cáo chính trị trình Đại hội lần thứ VI của Đảng
Đồng chí Trường Chinh giữ trọng trách Tổng Bí thư của Đảng ở hai thời điểm đặc biệt của cách mạng Việt Nam (lần thứ nhất vào đầu những năm 40 của thế kỷ XX, chuẩn bị và lãnh đạo phong trào giải phóng dân tộc; lần thứ hai vào tháng 7/1986, khi Tổng Bí thư Lê Duẩn qua đời ngay trước thềm Đại hội lần thứ VI vài tháng). Trong cả hai thời kỳ này, đồng chí đều có những cống hiến xuất sắc, góp phần quan trọng đưa cách mạng Việt Nam vượt qua những khó khăn, thử thách ngặt nghèo. Tháng 7/1986, sau khi sơ bộ tổng hợp ý kiến đóng góp của Đại hội Đảng bộ vòng 1 các cấp, Tổng Bí thư Trường Chinh nhận thấy dự thảo Báo cáo chính trị chưa đáp ứng được yêu cầu, nguyện vọng của cán bộ, đảng viên và nhân dân; chưa rút ra được những bài học cơ bản từ thực tế xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta; chưa đề ra được nội dung đổi mới về kinh tế có thể làm chuyển biến tình hình. Sau khi nghiên cứu bản dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội lần thứ VI, Tổng Bí thư Trường Chinh bày tỏ quan điểm không tán thành, đề nghị dự thảo lần thứ hai và trực tiếp chỉ đạo công việc quan trọng này. Quỹ thời gian để hoàn thành công việc trọng đại này chỉ còn lại năm tháng, vì vậy Tổng Bí thư Trường Chinh đã quyết định thành lập một nhóm viết lại dự thảo Báo cáo chính trị dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Tổng Bí thư Trường Chinh[1].
Theo nhà nghiên cứu lịch sử kinh tế Đặng Phong, nhóm biên soạn mới gồm hơn 10 người, do đồng chí Hoàng Tùng (nguyên Trưởng ban Ban Tuyên huấn Trung ương khi đó) trực tiếp phụ trách. Mỗi phần của dự thảo Báo cáo chính trị được phân công cho một nhóm biên soạn, Tổng Bí thư Trường Chinh trực tiếp đọc và sửa. Đồng chí Hoàng Tùng cho biết một số ý tưởng rất quan trọng trong dự thảo Báo cáo chính trị lần thứ hai là do Tổng Bí thư Trường Chinh trực tiếp viết, thí dụ như đánh giá về những sai lầm thì đồng chí Trường Chinh trực tiếp viết là: Đó là sai lầm tả khuynh duy ý chí, làm trái quy luật khách quan... Theo nhiều nhân chứng, suốt trong hai tháng, nhiều thành viên của Tổ Biên tập không được về nhà để tập trung biên soạn dự thảo văn kiện. Đầu tháng 8, Tờ trình gồm 25 vấn đề cốt lõi của dự thảo Báo cáo chính trị mới, các ý kiến khác nhau về từng vấn đề bắt đầu được đưa ra thảo luận ở nhóm biên soạn và Tiểu ban Văn kiện (gồm năm ủy viên Bộ Chính trị, ba ủy viên Ban Bí thư và 12 Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng), đi đến thống nhất ba quan điểm cần thay đổi: về cơ cấu kinh tế phải tập trung phát triển lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu; về kinh tế phải thực hiện nền kinh tế nhiều thành phần, nhiều hình thức sở hữu tư liệu sản xuất; về cơ chế quản lý kinh tế, phải dựa trên quan hệ thị trường thay cho quản lý theo ý muốn chủ quan và mệnh lệnh hành chính, không dựa vào thị trường hay các quy luật kinh tế - xã hội khách quan. Ngày 20/9/1986, Bộ Chính trị họp bàn về bản dự thảo kết luận và chính thức thông qua kết luận về ba vấn đề thuộc quan điểm kinh tế lớn. Ba quan điểm trên đã thay đổi cơ bản nội dung của dự thảo Báo cáo chính trị; đặc biệt sau Hội nghị này, Đảng đã vượt lên chính mình, dũng cảm thừa nhận những sai lầm để sửa chữa, khắc phục.
Với tầm nhìn chiến lược, đổi mới tư duy khách quan, khoa học, chỉ rõ thực trạng đất nước, tổng kết được những kinh nghiệm từ thực tiễn thành công và thất bại, với ý thức trách nhiệm vì dân, dũng cảm thừa nhận sai lầm khuyết điểm, với tinh thần đoàn kết nhất trí cao, dưới sự chỉ đạo trực tiếp và quyết đoán của Tổng Bí thư Trường Chinh, Đại hội VI của Đảng đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử tìm ra lối thoát cho cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng kéo dài hơn mười năm. Đại hội VI của Đảng đã hoạch định đường lối đổi mới toàn diện, sâu sắc và triệt để, thể hiện ở các vấn đề sau: chấp nhận sản xuất hàng hóa, thừa nhận kinh tế thị trường; hình thành cơ chế quản lý hạch toán kinh tế xã hội chủ nghĩa; đổi mới chính sách xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại và xây dựng Đảng... Đường lối đổi mới đó là sự kết tinh trí tuệ của Đảng và toàn dân và cũng thể hiện tinh thần trách nhiệm cao của Đảng trước lịch sử đất nước và dân tộc. Đường lối đổi mới của Đại hội cũng đánh dấu bước đổi mới trong nhận thức của Đảng, trước hết là Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị, trực tiếp là Tổng Bí thư Trường Chinh trước yêu cầu, đòi hỏi khách quan của thực tiễn cách mạng Việt Nam khi đó. Đường lối đổi mới do Đại hội VI đề ra thể hiện sự phát triển tư duy lý luận, khả năng tổng kết và tổ chức thực tiễn của Đảng mở ra thời kỳ mới của sự nghiệp cách mạng nước ta trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Đại hội VI đánh dấu một bước ngoặt có ý nghĩa cách mạng trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, tạo ra bước đột phá lớn và toàn diện, đem lại luồng sinh khí mới trong xã hội, làm xoay chuyển tình hình, đưa đất nước tiến lên.
Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, người đặt những dấu ấn đầu tiên trong lãnh đạo thực hiện đường lối đổi mới toàn diện đất nước
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (tháng 12/1986), đã quyết định đường lối đổi mới, mở ra kỷ nguyên mới về xây dựng chủ nghĩa xã hội theo tư duy mới, quan điểm, cơ chế và chính sách mới. Với bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định và tư duy chính trị sắc sảo, trên cương vị Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VI, đồng chí Nguyễn Văn Linh đã cùng với tập thể Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng vững vàng, chủ động, sáng tạo lãnh đạo sự nghiệp cách mạng Việt Nam vượt qua mọi khó khăn, thách thức từ trong nước và trên thế giới; kiên định đường lối đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thận trọng với bước đi, cách làm để phù hợp với điều kiện của Việt Nam; tập trung đổi mới kinh tế; từng bước đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị, kiên quyết không chấp nhận đa nguyên, đa đảng, coi trọng phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa. Triển khai thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh luôn coi trọng những quan điểm cơ bản có ý nghĩa sâu sắc, mang tầm chiến lược, các bài viết của đồng chí trong chuyên mục “Những việc cần làm ngay” của báo Nhân Dân ký tên N.V.L đã tạo ra luồng sinh khí mới trong xã hội, dân chủ, công khai, nói thẳng, nói thật, lời nói đi đôi với việc làm, góp phần khắc phục tình trạng quan liêu, sự trì trệ, vô cảm trong lãnh đạo, quản lý các cấp, lĩnh vực, tạo nên phương thức công tác mới, làm trong sạch bộ máy cơ quan Đảng, Nhà nước.
Là người chú trọng đổi mới tư duy và phong cách, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh nhấn mạnh nói đến tư duy là nói đến trình độ nắm bắt các quy luật khách quan, nói đến việc suy nghĩ theo đòi hỏi của các quy luật đó và vận dụng chúng phù hợp với điều kiện cụ thể của đất nước, nói đến quá trình sáng tạo đề ra các ý kiến mới, nói đến việc tìm tòi các biện pháp có hiệu quả cho hành động. Thể chế hóa đường lối đổi mới toàn diện đất nước do Đại hội VI đề ra, Nhà nước đã ban hành Quyết định số 217-HĐBT về trao quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh cho các doanh nghiệp quốc doanh (tháng 11/1987); Quốc hội khóa VIII thông qua Luật Đầu tư trực tiếp nước ngoài (tháng 12/1987); đặc biệt là Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 05/4/1988 của Bộ Chính trị về đổi mới cơ chế quản lý nông nghiệp, giao quyền sử dụng đất lâu dài cho các hộ nông dân với quy mô hợp lý và ổn định, theo đó vụ mùa năm 1988 được mùa lớn; cuối năm 1988 thực hiện tiền tệ hóa tiền lương, bỏ chế độ tem phiếu; dần chuyển đổi nền kinh tế trao đổi hiện vật sang kinh tế hàng hóa, điều tiết theo thị trường với sự hướng dẫn, quản lý của Nhà nước, đời sống của Nhân dân ngày càng được nâng lên. Chỉ số lạm phát liên tục được kéo giảm (năm 1986, tỷ lệ lạm phát lên đến 774,7%; năm 1987 là 323,1%; năm 1988 là 393%. Đến năm 1989, lạm phát đã xuống dưới 100% và Việt Nam đã ra khỏi tình trạng lạm phát).
Trên cương vị Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VI, đồng chí Nguyễn Văn Linh cùng với Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đề ra những nguyên tắc chỉ đạo đổi mới như Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 6 khóa VI (năm 1989) khẳng định và nhấn mạnh dường lối đổi mới ở Việt Nam không đi chệch hướng, không tách rời mục tiêu xây dựng xã hội chủ nghĩa, con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta và Nhân dân ta đã lựa chọn, kiên định và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, nền tảng tư tưởng của Đảng chỉ đạo toàn bộ sự nghiệp cách mạng Việt Nam; thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của Nhân dân, dân chủ phải đi đôi với tập trung, với kỷ luật, pháp luật, ý thức trách nhiệm của công dân; dân chủ phải có lãnh đạo và lãnh đạo bằng phương pháp dân chủ; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại mới (Bộ Chính trị khóa VI đã ban hành Nghị quyết số 13-NQ/TW ngày 20/5/1988 về đổi mới tư duy, điều chỉnh đường lối đối ngoại, tập trung giữ vững môi trường hòa hình để xây dựng và phát triển kinh tế). Cũng trên cương vị Tổng Bí thư, đồng chí Nguyễn Văn Linh trực tiếp làm Trưởng ban Ban soạn thảo Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Cương lĩnh năm 1991) ra đời trong bối cảnh quốc tế diễn biến phức tạp, chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu tan rã nhưng đã thể hiện bản lĩnh vững vàng, kiên định của Đảng và Nhân dân ta, khẳng định chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng. Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh cũng trực tiếp chỉ đạo việc nghiên cứu, sửa đổi Hiến pháp năm 1980 và thông qua Hiến pháp năm 1992 để phù hợp với thời kỳ đổi mới của đất nước.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp, nhà chỉ huy quân sự kiệt xuất với tư duy chiến lược vượt trội
Nói đến Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ và cuộc Tổng tiến công, nổi dậy mùa Xuân năm 1975 là nói đến vai trò nổi bật của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Trong đó, Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ là sự khẳng định thiên tài quân sự của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Khi xây dựng Điện Biên Phủ thành tập đoàn cứ điểm mạnh, chính quyền thực dân Pháp cho rằng đây là “pháo đài khổng lồ không thể công phá”, tướng Võ Nguyên Giáp sẽ “không dám chấp nhận giao chiến”, vì Quân đội Việt Minh chưa bao giờ tiến công một tập đoàn cứ điểm lớn đến như vậy, nếu tiến công vào Điện Biên Phủ sẽ đi vào con đường tự sát. Vấn đề đặt ra khi đó với Bộ Chỉ huy Chiến dịch Điện Biên Phủ nói chung, Đại tướng Võ Nguyên Giáp nói riêng không phải là không dám đánh vào nơi kẻ địch mạnh, mà là đánh như thế nào để tiêu diệt một tập đoàn cứ điểm mạnh như vậy? Bởi không đánh bại được hình thức phòng ngự tập đoàn cứ điểm của địch thì không thể mở ra cục diện thuận lợi cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đi đến thắng lợi hoàn toàn. Với những kiến thức được hội tụ trong quá trình tự học tập, nghiên cứu, rèn luyện, sự đúc rút kinh nghiệm đánh giặc giữ nước của dân tộc Việt Nam, lịch sử quân sự trên thế giới và tài năng quân sự xuất chúng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp hiểu rõ vinh dự, trọng trách lớn lao mà Bộ Chính trị và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tin tưởng giao nhiệm vụ qua lời dặn dò trước lúc lên đường: Tổng Tư lệnh ra mặt trận. Tướng quân tại ngoại. Trao cho chú toàn quyền quyết định.
Ngày 12/01/1954, tại Tuần Giáo, Đại tướng Võ Nguyên Giáp nghe đồng chí Hoàng Văn Thái, Tham mưu trưởng Chiến dịch Điện Biên Phủ báo cáo Đảng ủy Mặt trận và tất cả đều tán thành phương châm tiến hành Chiến dịch là “đánh nhanh, giải quyết nhanh”. Cố vấn Trung Quốc khi đó cũng khẳng định nếu không tranh thủ đánh sớm khi địch còn đứng chân chưa vững, để nay mai chúng tăng quân và củng cố công sự thì không đánh được, ta sẽ bỏ mất thời cơ. Mặc dù là Chỉ huy trưởng kiêm Bí thư Đảng ủy Mặt trận, nhưng số đông lại có ý kiến khác là điều Đại tướng Võ Nguyên Giáp phải cân nhắc, bởi Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn trước lúc ra mặt trận: Trận này rất quan trọng, phải đánh cho thắng! Chắc thắng mới đánh, không chắc thắng không đánh. Theo phương châm “đánh nhanh, giải quyết nhanh”, thời gian Chiến dịch dự kiến 3 đêm 2 ngày, nổ súng vào ngày 20/01/1954. Nhưng qua nhiều ngày theo dõi, Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhận thấy địch không còn ở trong trạng thái lâm thời phòng ngự, mà đã trở thành một tập đoàn cứ điểm phòng ngự kiên cố, pháo binh của ta là hỏa lực chủ yếu của Chiến dịch lại không kéo được vào trận địa đúng thời gian, yêu cầu, nếu “đánh nhanh, giải quyết nhanh” thì không bảo đảm thắng lợi. Mặt khác, công tác chuẩn bị cho Chiến dịch Điện Biên Phủ của ta còn nhiều khó khăn, như bộ đội chưa có kinh nghiệm đánh tập đoàn cứ điểm; đây là trận đầu tiên ta đánh hiệp đồng binh chủng giữa bộ binh, pháo binh với quy mô lớn mà bộ đội ta lại chưa qua diễn tập; bộ đội ta từ trước tới nay mới chỉ quen tác chiến ban đêm, ở những địa hình dễ ẩn náu và chưa có kinh nghiệm công kiên ban ngày trên địa hình rộng, bằng phẳng, trống trải; nay phải chiến đấu liên tục trong 2 ngày 3 đêm với quân Pháp có ưu thế về hỏa lực sẽ không tránh khỏi thương vong, khó hoàn thành nhiệm vụ.
Bằng nhãn quan của một nhà quân sự thiên tài trong đánh giá, dự báo chiến lược về âm mưu, phương thức, thủ đoạn tác chiến của quân Pháp qua Kế hoạch Navarre và thực tiễn trên chiến trường Đông Dương, nhất là tại chiến trường Điện Biên Phủ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho rằng để bảo đảm toàn thắng cho Chiến dịch, phải tạm ngừng nổ súng, kéo pháo ra, chuẩn bị thêm để đánh theo phương châm tác chiến mới là “đánh chắc, tiến chắc”. Tuy nhiên, thay đổi phương châm tác chiến sẽ đặt ra rất nhiều khó khăn mới, vì bộ đội ta được chuẩn bị để đánh nhanh, bộ binh đã triển khai đội hình, phần lớn pháo binh đã vào trận địa nay lại rút ra làm cho tư tưởng bộ đội dễ hoang mang. Hơn thế, mọi công tác chuẩn bị đều phải làm lại từ đầu, những khó khăn về cung cấp, vận tải tiếp tế khi mùa mưa đến... sẽ tăng lên. Nhưng không thể vì những khó khăn, trở ngại do Chiến dịch Điện Biên Phủ kéo dài mà chọn cách đánh không bảo đảm chắc thắng. Từ quan sát, nhận định và đánh giá tình hình thực tế địch - ta khi đó, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đưa ra kết luận: Đánh theo phương châm “đánh nhanh, thắng nhanh” nhất định thất bại và quyết định chuyển sang phương châm “đánh chắc, tiến chắc”. Đây là quyết định sáng suốt mang đậm nhãn quan quân sự cá nhân sắc sảo, bản lĩnh, dũng cảm, quyết đoán, táo bạo, sáng suốt, thể hiện trách nhiệm rất cao trước thắng lợi của Chiến dịch và xương máu cán bộ, chiến sĩ của người cầm quân; yếu tố quyết định bảo đảm thắng lợi của Chiến dịch Điện Biên Phủ.Với phương châm “đánh chắc, tiến chắc”, chúng ta đã điều chỉnh lực lượng và thế trận, cô lập địch ở tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, cắt chi viện bằng đường không, vây hãm toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ và từng trung tâm đề kháng của Quân đội Pháp, tiêu diệt từng bộ phận, tiến tới đánh bại toàn bộ lực lượng Pháp đóng tại tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Phương châm này thể hiện sự nổi bật về nghệ thuật chiến tranh nhân dân, nghệ thuật sử dụng lực lượng, nghệ thuật tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu; đánh chắc, tiến chắc, không chắc thắng không đánh.
Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp trở thành vị tướng huyền thoại, thiên tài quân sự có nhiều cống hiến xuất sắc góp phần làm nên những chiến công vĩ đại không chỉ trong kháng chiến chống thực dân Pháp, mà còn cả trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, như cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân (năm 1968), trận Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không (năm 1972), Đại thắng mùa Xuân 1975 thống nhất đất nước, viết nên những trang sử vẻ vang của dân tộc Việt Nam.
Đồng chí Lê Văn Lương, Trưởng ban Ban Tổ chức Trung ương, Thứ trưởng Bộ Nội vụ với những dấu ấn nổi bật trong lĩnh vực tổ chức nhà nước
Đồng chí Lê Văn Lương (tên khai sinh là Nguyễn Công Miều), sinh trưởng trong một gia đình nho học tại xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang (trước đây), tỉnh Hưng Yên. Đồng chí được Đảng và Nhà nước giao giữ nhiều trọng trách như Trưởng ban Ban Tổ chức Trung ương Đảng, Giám đốc Trường Đảng Trung ương Nguyễn Ái Quốc (nay là Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh), Chánh Văn phòng Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy Hà Nội... Từ năm 1954 đến năm 1956, đồng chí được Đảng và Nhà nước phân công giữ trọng trách Thứ trưởng Bộ Nội vụ, và trong thời gian này, đồng chí Lê Văn Lương đã để lại nhiều dấu ấn nổi bật.
Sau Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954, một nhiệm vụ nặng nề đặt ra cho Bộ Nội vụ là phải kiểm soát, quản lý số lượng biên chế đội ngũ cán bộ, nhân viên có dấu hiệu tăng lên quá mức (năm 1955 số biên chế trong các cơ quan hành chính tăng gấp đôi so với năm 1954; trong 09 tháng đầu năm 1956, bình quân mỗi tháng tăng gần 1.100 người. Số biên chế đến tháng 9/1956 là hơn 100.000 người thuộc các cơ quan Dân - Chính - Đảng từ Trung ương đến địa phương. Nếu tính cả số gần 27.000 cán bộ tham gia cải cách ruộng đất và xây dựng các khu tự trị thì tổng số lên đến gần 135.000 người. Trong Báo cáo gửi các cơ quan có thẩm quyền, Bộ Nội vụ đã đưa ra nhận định mang tính cảnh báo: “Biên chế hành chính sự nghiệp tăng nhanh vượt quá mức tỷ lệ trung bình so với dân số”[2]). Để giải quyết bài toán rất khó khăn, phức tạp này, đồng chí Lê Văn Lương cùng tập thể lãnh đạo Bộ Nội vụ khi đó đã tham mưu, đề xuất Chính phủ phương châm chung trong quản lý biên chế là từ năm 1957 không tuyển thêm người, giảm biên chế hành chính hợp lý hóa và tăng đúng mức biên chế sự nghiệp, điều chỉnh nơi thừa sang nơi thiếu, gắn với sửa đổi lề lối làm việc... Đồng thời, Bộ Nội vụ đã tham mưu, đề xuất 17 biện pháp nhằm quản lý biên chế có hiệu quả như rút bớt số lượng cán bộ ở các đoàn cải cách ruộng đất, cán bộ đi xây dựng các khu tự trị, ngành công an giảm quân các đồn, giảm cán bộ hộ khẩu, giảm biên chế cấp khu, chuyển các đơn vị hoạt động văn hóa, kỹ thuật sang doanh nghiệp, ngăn chặn việc chiếu cố lấy người nhà của cán bộ vào cơ quan...
Nhờ các biện pháp này mà đến năm 1957, Bộ Nội vụ đã thực hiện quản lý, kiểm soát biên chế bằng biện pháp lập thống kê tình hình tăng, giảm biên chế của từng cơ quan. Theo đó, một số cơ quan được ấn định số lượng phải giảm rất cụ thể như Ủy ban cải cách ruộng đất giảm từ hơn 20.000 người xuống còn 3.200 người; một số cơ quan được xem xét, cho phép điều chỉnh tăng biên chế, như Ban Tôn giáo tăng thêm 15 người, Cục Chuyên gia tăng 13 người, Bộ Văn hóa tăng 20 người, Ban Quan hệ Bắc Nam tăng 200 người... Tiếp đó, đồng chí Lê Văn Lương cùng tập thể lãnh đạo Bộ Nội vụ đã tham mưu cho Hội đồng Chính phủ quyết định lập Ủy ban điều chỉnh biên chế Trung ương làm nhiệm vụ điều chỉnh kiểm soát biên chế, có Văn phòng thường trực đặt tại Bộ Nội vụ. Từ thực tiễn xây dựng và tổ chức thực hiện công tác tổ chức bộ máy và quản lý biên chế thống nhất của hệ thống chính trị hiện nay, có thể khẳng định trong bối cảnh bộ máy quản lý nhà nước và nền hành chính nhà nước lúc đó, việc đồng chí Lê Văn Lương cùng tập thể lãnh đạo Bộ Nội vụ chủ động tham mưu cho Hội đồng Chính phủ thành lập Ủy ban điều chỉnh biên chế Trung ương là một bước tiến bộ rất lớn, một đóng góp rất quan trọng và thiết thực, hiệu quả vào việc quản lý biên chế thống nhất của bộ máy hệ thống chính trị nói chung, bộ máy hành chính nhà nước nói riêng; trong đó có đóng góp rất quan trọng của đồng chí Lê Văn Lương.
Đại tướng, Chủ tịch nước Lê Đức Anh với những quyết định sáng suốt
Với những chiến công nổi bật trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, khi được giao trọng trách Tổng Tham mưu trưởng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, một trong những việc đầu tiên Đại tướng Lê Đức Anh tiến hành là đi thị sát dọc vùng biên giới sáu tỉnh phía Bắc. Qua gặp gỡ người dân, cán bộ địa phương và kiểm tra trực tiếp, hỏi chuyện cán bộ, chiến sĩ, Đại tướng Lê Đức Anh nhận thấy có rất nhiều vấn đề khó khăn cần giải quyết. Trong Hồi ký “Đại tướng Lê Đức Anh, cuộc đời và sự nghiệp cách mạng”[3] cho thấy qua thị sát trực tiếp, Đại tướng nhận thấy bấy lâu nay, các đơn vị cấp dưới báo cáo lên cấp trên thường chỉ nói mặt tốt, ưu điểm, còn mặt yếu kém, khuyết điểm thì không báo cáo. Bộ đội về tinh thần rất căng thẳng, về vật chất thì điều kiện ăn, ở, sinh hoạt rất thiếu thốn, kham khổ. Bởi vậy, bộ đội sinh ra bất mãn, tiêu cực và vi phạm kỷ luật dân vận, có nơi bộ đội quan hệ với nhân dân chưa tốt. Quan hệ cán bộ, chiến sĩ cũng nhiều nơi chưa tốt. Ngày hôm sau, tại một số điểm chốt, Đại tướng Lê Đức Anh chỉ đạo cho đơn vị lui về phía sau, tiếp đó cho rút từng phần các đơn vị chủ lực về tuyến hai để đưa dân quân, bộ đội địa phương và bộ đội biên phòng lên tuyến một. Tuy nhiên có tâm lý chung của cán bộ chỉ huy các cấp là lo sợ, không dám cho chủ lực và các đơn vị dưới quyền mình lui xuống. Khi lãnh đạo Quân khu 2 và Sư đoàn 316 gặp và bày tỏ e ngại, đề nghị có văn bản chỉ đạo việc rút quân, Đại tướng Lê Đức Anh đã trực tiếp ký lệnh rút quân ngay tại cuộc gặp.
Từ sau chuyến thị sát trực tiếp biên giới trở về, Đại tướng Lê Đức Anh báo cáo tình hình với các đồng chí lãnh đạo chủ chốt của Đảng và Nhà nước về thực trạng bộ đội biên cương ăn không đủ no, mặc không đủ ấm, ngân sách quốc phòng chỉ mới lo chuyện đời sống, chưa tính đến trang bị, đã chiếm tới 25% tổng ngân sách quốc dân, bởi vì quân số thường trực quá lớn, trong khi nền kinh tế - xã hội đang lâm vào khủng hoảng. Cứ như thế này tiếp diễn thì sẽ chịu được bao lâu nữa? Tăng quân số, tăng chi phí quốc phòng, nhưng an ninh quốc phòng không bảo đảm, nguy cơ đối với độc lập dân tộc trên lĩnh vực quốc phòng tăng lên. Lúc đó, Đại tướng Lê Đức Anh cho biết đồng chí đã cảm nhận một điều chắc chắn là cần phải giảm quân số và điều chỉnh lại thế bố trí chiến lược.
Sau khi đảm nhận chức vụ Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Đại tướng Lê Đức Anh đã cùng tập thể Đảng ủy Quân sự Trung ương (nay là Quân ủy Trung ương) và các đồng chí trong cơ quan Bộ Quốc phòng tập trung nghiên cứu, điều chỉnh tổ chức biên chế, bố trí chiến lược của Quân đội cho phù hợp với kế hoạch phòng thủ cơ bản trong thời kỳ mới. Thống nhất trong điều chỉnh chiến lược, bố trí lại đội hình chiến lược bảo đảm mục tiêu đánh lâu dài, giảm chi phí quốc phòng, phát huy được sức mạnh toàn dân, toàn diện, tạo nên sức mạnh phòng thủ đất nước và đủ sức mạnh chống lại mọi tình huống chiến tranh. Đó là con đường đổi mới xây dựng Quân đội nhân dân, đổi mới công cuộc xây dựng và củng cố nền quốc phòng toàn dân, kết hợp chặt chẽ quốc phòng và an ninh, kết hợp chặt chẽ công cuộc xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Sau khi báo cáo ý tưởng về điều chỉnh chiến lược và được Bộ Chính trị nhất trí, Đại tướng Lê Đức Anh đã chỉ đạo Bộ Quốc phòng tiến hành song song hai việc lớn. Một là, xây dựng kế hoạch và triển khai kế hoạch điều chỉnh bố trí chiến lược và giảm quân số. Hai là, soạn thảo các văn bản, tài liệu, giáo trình và triển khai trên toàn quốc “Thế trận chiến tranh nhân dân” và nhiệm vụ “Quốc phòng toàn dân”, làm cơ sở lý luận và thực tiễn để Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 02/NQ-BCT xác định nhiệm vụ quốc phòng đến năm 1990 và những năm tiếp theo. Tiến hành đồng thời với việc điều chỉnh bố trí đội hình chiến lược là tính toán cụ thể việc giảm quân số để bảo đảm đánh lâu dài và trực tiếp giảm chi phí quốc phòng. Đại tướng Lê Đức Anh đề nghị giảm trên 60% số quân thường trực và xin ngân sách quốc phòng từ 15 đến 18%, đầu tiên là tổng ngân sách, tiến tới là ngân sách thu trong nước. Trên cơ sở ý kiến tham mưu, đề xuất rất mạnh mẽ và quyết liệt đó, Bộ Chính trị họp và thông qua kế hoạch điều chỉnh chiến lược và giảm mạnh quân số quân đội, từ quân thường trực 1,5 triệu xuống còn 45 vạn và bước đầu để 5 vạn quân dự bị (từ 9 quân đoàn giảm xuống còn 4 quân đoàn), nhưng sức mạnh chiến đấu không giảm mà càng được tăng cường, gánh nặng ngân sách quốc phòng được giải quyết một cách cơ bản. Đi đôi với việc giảm quân số và giảm ngân sách quốc phòng, Đại tướng Lê Đức Anh đề nghị Đảng và Nhà nước có chính sách cụ thể cải thiện đời sống cho bộ đội tại ngũ; giải quyết việc làm và đời sống cho số cán bộ, chiến sĩ xuất ngũ trong đợt giảm quân số thường trực về địa phương.
Trên cương vị Chủ tịch nước, ngày 10/9/1994, Đại tướng Lê Đức Anh đã ký Lệnh số 36L/CTN, công bố Pháp lệnh quy định Danh hiệu vinh dự nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” và Pháp lệnh ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sĩ và gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người tham gia hoạt động kháng chiến, người có công với cách mạng. Cũng từ đây đã xuất hiện phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”, xây tặng “Nhà tình nghĩa” và nhận phụng dưỡng các Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Phong trào xây dựng “Quỹ đền ơn đáp nghĩa”, “Toàn dân chăm sóc gia đình thương binh, liệt sĩ, người có công với nước” trong các cơ quan, đoàn thể, tổ chức xã hội, đơn vị lực lượng vũ trang, các doanh nghiệp nhà nước và tư nhân đã trở thành nếp sống mang đậm tính nhân văn và truyền thống văn hóa “Uống nước nhớ nguồn” của các tầng lớp nhân dân trong cả nước.
Trong Hồi ký, Chủ tịch nước Lê Đức Anh kể lại, một lần vào thị sát hai địa phương là Kiên Giang và Cần Thơ, khi phát hiện ở đây có nhiều người dân mất hết ruộng đất canh tác, đồng chí đã gặp và hỏi những nông dân này vì sao mất ruộng thì họ cho biết một số cán bộ có tiền lợi dụng lúc nông dân gặp khó khăn đã mua ruộng của họ, thế là nông dân mất ruộng. Chủ tịch nước Lê Đức Anh đã nhắc nhở, phê bình cán bộ lãnh đạo của hai địa phương, đề nghị với lãnh đạo tỉnh cho nông dân vay tiền và bằng nhiều cách giúp họ chuộc lại đất. Chủ tịch nước kể lại, hôm đó một đồng chí lãnh đạo tỉnh Kiên Giang, một người chiến đấu rất dũng cảm trong kháng chiến đã thừa nhận: Tôi sống sát dân mà không hiểu dân!
Cũng trong nhiệm kỳ Đại tướng Lê Đức Anh giữ cương vị Chủ tịch nước, Việt Nam đã bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc và thiết lập quan hệ ngoại giao với Mỹ, chính thức gia nhập ASEAN. Đồng thời, Việt Nam có quan hệ với hầu hết các nước trên thế giới và hầu hết các nước đều thực hiện quan hệ hợp tác hai bên cùng có lợi với Việt Nam. Đó là những thành tựu to lớn có dấu ấn rất quan trọng của Đại tướng, Chủ tịch nước Lê Đức Anh.
Thủ tướng Võ Văn Kiệt, nhà lãnh đạo có tầm tư duy chiến lược, ý chí quyết đoán, dám nghĩ, dám làm, vì sự nghiệp đổi mới của đất nước và cuộc sống ấm no, của nhân dân
Sau ngày 30/4/1975, miền Nam được giải phóng, đất nước thống nhất, đồng chí Võ Văn Kiệt được phân công giữ chức Chủ tịch Ủy ban hành chính, sau đó là Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh. Khi đó, Thành phố Hồ Chí Minh đứng trước những khó khăn gay gắt, như sản xuất công nghiệp đình đốn do thiếu nguyên vật liệu; nông nghiệp tiếu điều, do cơ chế quản lý không phù hợp, Nhà nước không mua được thóc, nhân dân Thành phố phải ăn độn ngô, khoai, sắn… Trước tình hình ấy, đồng chí Võ Văn Kiệt đã quyết định nhiều biện pháp tháo gỡ, như cho phép doanh nghiệp nhà nước vay ngoại tệ mua nguyên liệu, mua thóc của nông dân với giá cả phù hợp, v.v… lúc đó được gọi là “xé rào”, trái với những quy định của Nhà nước, song lại giải quyết được những vấn đề thiết thực, được nhân dân ủng hộ. Những biện pháp do đồng chí Võ Văn Kiệt khởi xướng ở Thành phố Hồ Chí Minh lúc đó đã thành những gợi ý rất quan trọng để cả nước đi vào cuộc Đổi mới sâu rộng trong cả nước từ năm 1986.
Trên cương vị Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (1982), Quyền Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (từ tháng 3 đến tháng 6/1988), Phó Chủ tịch thứ nhất Hội đồng Bộ trưởng (từ tháng 6/1988 đến tháng 8/1991), Thủ tướng Chính phủ (1991-1997), đồng chí Võ Văn Kiệt đã cùng Trung ương Đảng vững tay chèo lái đưa đất nước ra khỏi ra khỏi những khó khăn chồng chất do cấm vận về kinh tế, nguyên vật liệu cạn kiệt, sản xuất đình đốn; lạm phát phi mã; đời sống nhân dân cực kỳ gian nan; khủng hoảng kinh tế - xã hội nghiêm trọng kéo dài qua nhiều năm. Trong khi đó, đất nước mới bắt đầu công cuộc Đổi mới, tư duy đổi mới chưa thực sự được thông suốt trong lãnh đạo, còn tư duy kế hoạch hóa tập trung quan liêu vẫn dai dẳng. Bối cảnh, tình hình phức tạp và khó khăn chống chất đó càng làm rõ và nổi bật tầm nhìn và tính cách quyết đoán của đồng chí Võ Văn Kiệt, một bộ óc với tầm chiến lược luôn luôn trăn trở tìm ra những đột phá, tất cả vì công cuộc đổi mới vì sự chấn hưng kinh tế đất nước, không chịu những suy nghĩ lối mòn, luôn tìm ra những hướng đi mới, cách làm mới.
Dưới sự chỉ đạo trực tiếp hoặc có sự tham gia của đồng chí Võ Văn Kiệt, ngay trong những năm khó khăn ấy, nhiều chính sách mang tính đột phá theo tư duy “cởi trói”, trả lại quyền kinh doanh của dân và doanh nghiệp đã được ban hành, như xóa bỏ hệ thống chỉ tiêu pháp lệnh, trao quyền tự chủ kinh doanh cho xí nghiệp quốc doanh; cho phép xí nghiệp quốc doanh lớn trực tiếp xuất nhập khẩu. bãi bỏ những trạm kiểm soát lưu thông hàng hóa trên các tuyến giao thông, mở đường cho giao lưu hàng hóa tự do trong cả nước; cho phép Việt kiều được gửi tiền về nước và mang tiền về nước; v.v… Luật Doanh nghiệp tư nhân và Luật Công ty cổ phần (được Quốc hội thông qua tháng 12/1990) do đồng chí chỉ đạo biên soạn đã khẳng định sự tồn tại lâu dài và nhấn mạnh sự bình đẳng trước pháp luật của doanh nghiệp tư nhân với các doanh nghiệp khác, đặt cơ sở cho những quy định rất mới về kinh tế tư nhân tại Hiến pháp 1992. Cũng trong thời gian đó, Nhà nước quyết định xóa bỏ bao cấp lương thực, thực phẩm cho công nhân, viên chức, lực lượng vũ trang và dân cư đô thị; từ năm 1989, thực hiện tự do hóa giá cả, chấm dứt tình trạng hai giá, chỉ còn duy nhất một hệ thống giá thị trường. Đối với nông dân, xóa bỏ chế độ thu mua nông sản theo giá áp đặt (quá thấp), thực hiện mua theo giá thỏa thuận. Đến những năm 1990 - 1991, tình trạng rối loạn về giá cả, rối loạn trong quá trình phân phối, lưu thông hàng hóa chấm dứt; lạm phát phi mã được chặn đứng, nền kinh tế đi dần vào thế ổn định.
Đồng chí Võ Văn Kiệt cũng đã để lại những dấu ấn không phai mờ khi chủ trương thực hiện một số công trình quốc gia rất quan trọng, như Chương trình khai thác Đồng Tháp Mười và Tứ giác Long Xuyên; xây dựng đường dây tải điện 500 kV Bắc - Nam góp phần điều hòa lượng điện trong cả nước; xây dựng Đường Bắc Thăng Long - Nội Bài, mở rộng cửa ngõ Thủ đô Hà Nội, v.v… Việc chỉ đạo khai thác vùng Đồng Tháp Mười đã cho kết quả là sản lượng lúa ở đồng bằng sông Cửu Long từ 4,6 triệu tấn năm 1976 lên 16,7 triệu tấn năm 2000 và đồng bằng sông Cửu Long đã trở thành vựa lúa lớn nhất của Việt Nam. Việc xây dựng đường dây 500 kV Bắc - Nam là một minh chứng cho tầm chiến lược, tính quyết đoán của đồng chí Võ Văn Kiệt. Trước những ý kiến phản đối, đồng chí vẫn suy nghĩ nếu không đưa điện vào Nam thì làm sao có thể công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước? Một lần nữa, đồng chí lại quy tụ những nhà khoa học uy tín vào cùng bàn, đề xuất cách làm hiệu quả nhất, theo “cách đánh du kích”: chia làm nhiều đoạn rồi cùng “đồng khởi” dựng cột, sau đó ráp nối các đoạn với nhau. Kế hoạch đặt ra là thực hiện trong 04 năm, nhưng nhờ sự quan tâm chỉ đạo quyết liệt của Thủ tướng Võ Văn Kiệt mà chỉ sau 02 năm đã hoàn thành (rút ngắn một nửa).
Quyết liệt, quyết đoán, dám chịu trách nhiệm cá nhân, song Thủ tướng Võ Văn Kiệt cũng rất coi trọng trách nhiệm cá nhân của những người đứng đầu tổ chức, coi đây cũng là một biện pháp khắc phục bệnh quan liêu, thiếu sâu sát, thiếu kiểm tra đang là một tác phong khá phổ biến trong công tác quản lý. Làm được như thế không những hạn chế được mức độ thiệt hại do tham nhũng, lãng phí gây ra, mà còn làm tăng hiệu lực của luật pháp, hiệu lực kỷ luật của Đảng. Tại Kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa IX (tháng 10/1992), sau khi danh sách các thành viên Chính phủ nhiệm kỳ mới được Quốc hội thông qua, trong bài phát biểu với tư cách là Thủ tướng, đồng chí đã nhấn mạnh trách nhiệm cá nhân, khẳng định dứt khoát mỗi thành viên Chính phủ không hoàn thành nhiệm vụ, để Bộ do mình phụ trách xảy ra tham nhũng, buôn lậu hoăc tiêu cực nghiêm trọng khác phải từ chức hoặc bị cách chức. Đồng chí khẳng định không gắn quyền hạn với trách nhiệm cá nhân là sơ hở lớn nhất, cũng là chỗ yếu lớn nhất của chúng ta. Do không có trách nhiệm cá nhân, cán bộ tài đức rất khó được trọng dụng, vì trắng đen lẫn lộn, người phạm sai lầm nghiêm trọng không bị kỷ luật, vẫn an toàn tại chức; nếu không có trách nhiệm cá nhân, sẽ không có cơ sở để đánh giá năng lực, phẩm chất cán bộ và như vậy, Chính phủ không thể phát hiện được nhân tài để trọng dụng.
Thực tế đã khẳng định đồng chí Võ Văn Kiệt là một trong những người có đóng góp rất xuất sắc cho công cuộc đổi mới ở Việt Nam. Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nhận định: “Trong các Thủ tướng của nước ta, Bác Hồ đã kiêm chức Thủ tướng 10 năm đầu của chế độ mới, không ai so sánh cùng Bác được. Còn lại 5 người Thủ tướng cho đến nay, là tôi, anh Phạm Hùng, anh Đỗ Mười, anh Võ Văn Kiệt và anh Phan Văn Khải, thì anh Võ Văn Kiệt là người làm được nhiều nhất cho dân tộc, cho đất nước”[4].
Đồng chí Nguyễn Phú Trọng, nhà lãnh đạo đặc biệt xuất sắc, tấm gương sáng ngời về học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, người đảng viên cộng sản kiên trung, có uy tín lớn của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta, hiện thân đầy đủ phẩm chất, tài năng, bản lĩnh, trí tuệ của thế hệ lãnh đạo Việt Nam thời kỳ đổi mới
Cách đây gần 51 năm, tháng 11/1973, trước những đòi hỏi của tình hình cách mạng ở hai miền của đất nước, với nhãn quan của nhà lý luận chiến lược, đồng chí Nguyễn Phú Trọng - khi đó là biên tập viên của Tạp chí Cộng sản đã có bài viết “Bệnh sợ trách nhiệm” trên chuyên mục “Sinh hoạt tư tưởng” của Tạp chí Cộng sản với bút danh “Người xây dựng” để chỉ rõ các biểu hiện của những người sợ trách nhiệm là: (1) Làm việc cầm chừng cho đủ bổn phận, cốt sao không phạm khuyết điểm; (2) Rụt rè, do dự khi giải quyết công việc, không phát biểu rõ ràng, dứt khoát ý kiến của mình, không dám quyết đoán những việc thuộc phạm vi trách nhiệm và quyền hạn được giao; (3) Lấy lý do làm việc tập thể, tôn trọng tập thể để dựa dẫm vào tập thể, việc lớn việc nhỏ gì cũng đưa ra tập thể bàn, chờ ý kiến tập thể cho đỡ phiền; (4) Ngại va chạm với đồng chí trong đơn vị, với cấp trên và cả cấp dưới, không thẳng thắn phê bình những người phạm khuyết điểm, không đấu tranh chống những hiện tượng tiêu cực, những tư tưởng và việc làm trái với đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước. Từ các biểu hiện đó và liên hệ với thực trạng tình hình, yêu cầu nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam lúc bấy giờ, đồng chí Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định “Người nào sợ trách nhiệm không phải là người lãnh đạo”. Những nghĩ suy, trăn trở, ưu tư về xây dựng tổ chức, bộ máy và công tác cán bộ không chỉ hình thành rất sớm ở người đảng viên trẻ tuổi Nguyễn Phú Trọng khi ấy, mà còn thể hiện tầm nhìn vượt thời gian; được phát triển thành lý luận và hiện thực hóa trong công tác tổ chức và cán bộ qua những tháng năm đồng chí được giao giữ các trọng trách lãnh đạo Đảng và Nhà nước; trở thành tài sản vô giá không chỉ đối với cách mạng Việt Nam, mà bạn bè quốc tế cũng đánh giá rất cao. Các tác phẩm của đồng chí đã được nhiều nước trân trọng tiếp nhận, dịch và xuất bản bằng ngôn ngữ của họ để làm tài liệu nghiên cứu, tham khảo và học tập. Vì vậy, chúng ta cũng có thể khẳng định rằng, di sản tư tưởng của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã mang tầm vóc quốc tế.
Trên cương vị Chủ tịch Quốc hội từ năm 2006 đến năm 2011, đồng chí Nguyễn Phú Trọng đã dành sự quan tâm đặc biệt cho công tác xây dựng pháp luật nói chung, pháp luật về tổ chức, bộ máy và công tác cán bộ nói riêng (chỉ tính riêng nhiệm kỳ Quốc hội khóa XII đã ban hành, thông qua 67 đạo luật; trong đó có 15 đạo luật về lĩnh vực tổ chức và cán bộ); qua đó góp phần hết sức quan trọng vào việc thực hiện mục tiêu xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Với những ý nghĩa, giá trị và hiệu quả to lớn đó, có thể khẳng định các đạo luật được ban hành trong thời kỳ đồng chí Nguyễn Phú Trọng giữ cương vị Chủ tịch Quốc hội khóa XII không chỉ là cơ sở pháp lý, mà còn là động lực pháp lý quan trọng của công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
Trên cương vị Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI, khóa XII, khóa XIII, đồng chí Nguyễn Phú Trọng đã lãnh đạo Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư xây dựng, ban hành Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc khóa XI, khóa XII, khóa XIII cùng nhiều văn bản cụ thể hóa các Nghị quyết này. Là nhà lý luận uyên bác, nhà lãnh đạo có tầm nhìn chiến lược sâu rộng, trong vai trò Trưởng Tiểu ban Văn kiện Đại hội XIII, trên cơ sở tổng kết lý luận và thực tiễn, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ đạo xây dựng Văn kiện Đại hội XIII của Đảng theo hướng tách nội dung về xây dựng đội ngũ cán bộ với nội dung về công tác tổ chức để nhấn mạnh và khẳng định công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị phải đồng bộ, toàn diện, bao quát cả 5 nội dung: chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Đây là bước phát triển đột phá về tư duy lý luận của Đảng ta và dấu ấn sâu đậm tư duy lý luận của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng về công tác cán bộ - khâu then chốt của then chốt trong tổng thể công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị.
Với 80 năm tuổi đời, 57 năm tuổi Đảng, là người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã dành cả cuộc đời mình vì lý tưởng cao đẹp của Đảng, là tấm gương sáng ngời, mẫu mực về đạo đức cách mạng của người chiến sĩ cộng sản, trọn đời vì nước, vì dân. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã để lại cho chúng ta di sản tư tưởng, lý luận quý báu, không chỉ trong phạm vi quốc gia mà đã vươn đến tầm vóc quốc tế./.
---------------------------------------------------------
Ghi chú:
[2]. Hồ sơ số 1046, phông Bộ Nội vụ, Trung tâm Lưu trữ quốc gia III.
[3]. https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/van-kien-tu-lieu-ve-dang/book/sach-chinh-tri/dai-tuong-le-duc-anh-cuoc-doi-va-su-nghiep-cach-mang-334.
[4]. Võ Văn Kiệt - Một nhân cách lớn; Nhà lãnh đạo tài năng; Suốt đời vì nước vì dân (Hồi ký). Nxb CTQGST, H.2012.
TS Trần Nghị, Bộ Nội vụ
TS Phạm Thị Hồng, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
.
Tin tức cùng chuyên mục
Bài viết cùng tác giả