Tiếng Việt
Tiếng Việt Tiếng Anh

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc và đoàn kết quốc tế trong bảo vệ và phát triển đất nước hiện nay

Ngày đăng: 04/09/2026   16:13
Đọc bài viết
Mặc định Cỡ chữ
Tóm tắt: Tư tưởng về đại đoàn kết toàn dân tộc và đoàn kết quốc tế là một trong những nội dung cốt lõi trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh, có giá trị lý luận, thực tiễn sâu sắc đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bài viết tập trung phân tích cơ sở lý luận, làm rõ việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc và đoàn kết quốc tế trong phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại. Trên cơ sở đó, đề xuất các định hướng và giải pháp nhằm tiếp tục phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, mở rộng đoàn kết quốc tế, huy động hiệu quả các nguồn lực trong và ngoài nước, góp phần xây dựng đất nước phát triển nhanh, bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong kỷ nguyên mới.

Từ khóa: Bảo vệ Tổ quốc; đại đoàn kết toàn dân tộc; đoàn kết quốc tế; hội nhập quốc tế; phát triển đất nước; tư tưởng Hồ Chí Minh.

Abstract: Ho Chi Minh’s Ideology on great national unity and international solidarity constitutes one of the core components of the Ho Chi Minh ideological system and holds profound theoretical and practical value for the cause of national construction and defense. This article analyzes its theoretical foundations and clarifies the application of Ho Chi Minh’s Ideology on great national unity and international solidarity in promoting socio-economic development, ensuring national defense and security, and enhancing the effectiveness of external relations. On this basis, the article proposes orientations and solutions to further harness the strength of great national unity, expand international solidarity, and effectively mobilize domestic and external resources. These efforts aim to contribute to the country’s rapid and sustainable development and to the firm safeguarding of the Socialist Republic of Vietnam in the new era.

Keywords: National defense; great national unity; international solidarity; international integration; national development; Ho Chi Minh’s Ideology.


Đặt vấn đề

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc và đoàn kết quốc tế là một bộ phận đặc biệt quan trọng trong hệ thống tư tưởng của Người, đồng thời là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho đường lối cách mạng Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định đại đoàn kết toàn dân tộc là nguồn sức mạnh quyết định mọi thắng lợi của cách mạng, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại thông qua mở rộng đoàn kết, hợp tác quốc tế trên cơ sở độc lập, tự chủ, bình đẳng và cùng có lợi. Quan điểm đó không chỉ có ý nghĩa đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc trước đây mà vẫn giữ nguyên giá trị trong công cuộc xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng, chuyển đổi số và Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang làm thay đổi phương thức phát triển của các quốc gia, Việt Nam đứng trước nhiều cơ hội và thách thức đan xen. Các vấn đề như cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, an ninh phi truyền thống, biến đổi khí hậu, già hóa dân số và tác động của không gian mạng đặt ra yêu cầu phải tiếp tục củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đồng thời tăng cường đoàn kết quốc tế nhằm huy động hiệu quả các nguồn lực phục vụ phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Xuất phát từ yêu cầu đó, bài viết tập trung phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn của việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc và đoàn kết quốc tế; đánh giá những kết quả đạt được, những vấn đề đặt ra và đề xuất các định hướng, giải pháp nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong kỷ nguyên mới của dân tộc.

1. Cơ sở lý luận về đại đoàn kết toàn dân tộc và đoàn kết quốc tế

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc và đoàn kết quốc tế được hình thành trên nền tảng kế thừa truyền thống yêu nước, nhân nghĩa, cố kết cộng đồng của dân tộc Việt Nam; tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại; đồng thời vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đại đoàn kết toàn dân tộc không chỉ là yêu cầu khách quan của sự nghiệp cách mạng mà còn là chiến lược lâu dài, là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của dân tộc. Người khẳng định: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; thành công, thành công, đại thành công”, coi Nhân dân là chủ thể của cách mạng, là nguồn sức mạnh to lớn để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, đại đoàn kết toàn dân tộc được xây dựng trên nền tảng liên minh giữa giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; đồng thời mở rộng tới mọi giai tầng xã hội, các dân tộc, tôn giáo, người Việt Nam ở nước ngoài và những cá nhân có tinh thần yêu nước, không phân biệt thành phần xã hội, tín ngưỡng hay quá khứ. Điểm cốt lõi của tư tưởng này là lấy lợi ích quốc gia - dân tộc làm điểm tương đồng để tập hợp, phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân trong thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Song song với đại đoàn kết toàn dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng đoàn kết quốc tế như một bộ phận hữu cơ của chiến lược cách mạng. Người chủ trương kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; xây dựng quan hệ hữu nghị, hợp tác bình đẳng, tôn trọng độc lập, chủ quyền và cùng có lợi với các quốc gia, dân tộc trên thế giới. Quan điểm này phản ánh tầm nhìn chiến lược về việc huy động các nguồn lực bên ngoài để bổ sung cho nội lực dân tộc, tạo nên sức mạnh tổng hợp trong đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng đất nước và bảo vệ hòa bình.

Trong bối cảnh hiện nay, cơ sở lý luận đó tiếp tục được Đảng Cộng sản Việt Nam kế thừa và phát triển trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng, thể hiện ở quan điểm phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng, toàn diện và hiệu quả. Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng tiếp tục kế thừa, nâng tầm và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc và đoàn kết quốc tế thành đòn bẩy chiến lược đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới. Đảng ta xác định xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc là chiến lược cốt lõi, lấy mục tiêu: Hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc làm điểm tương đồng để quy tụ sức mạnh dân tộc. Quan điểm trọng tâm là khơi dậy mạnh mẽ khát vọng phát triển, phát huy giá trị văn hóa và hệ giá trị con người Việt Nam; đồng thời gắn kết chặt chẽ đại đoàn kết với thực thi dân chủ, bảo đảm an sinh xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong tình hình mới. Việc vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc và đoàn kết quốc tế, vì vậy không chỉ có ý nghĩa lý luận, đồng thời còn là yêu cầu thực tiễn nhằm huy động tối đa nguồn lực trong nước và quốc tế, củng cố đồng thuận xã hội, tăng cường sức mạnh quốc gia, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định và tạo động lực cho phát triển nhanh, bền vững, đồng thời bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế.

2. Thực trạng vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc và đoàn kết quốc tế trong phát triển và bảo vệ đất nước hiện nay

Trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế, tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc và đoàn kết quốc tế đã được Đảng và Nhà nước Việt Nam quán triệt, vận dụng sáng tạo trong hoạch định đường lối, chính sách và tổ chức thực tiễn, góp phần tạo nên sức mạnh tổng hợp để phát triển đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Theo đó, tư tưởng đại đoàn kết của Chủ tịch Hồ Chí Minh được thể hiện trước hết ở chỗ: Đại đoàn kết là sức mạnh, là vấn đề có ý nghĩa chiến lược quyết định sự thành công của cách mạng. Người cho rằng đoàn kết sẽ tạo nên sức mạnh bởi đoàn kết, đại đoàn kết là sự tập hợp và phát huy sức mạnh của mỗi cá nhân trong cộng đồng. Nhưng đây không phải là sự tập hợp rời rạc của các phép cộng giản đơn mà luôn có sự tuyên truyền vận động, giáo dục, giác ngộ, hướng dẫn, tổ chức quần chúng thành lực lượng thống nhất để tạo nên sức mạnh vô địch chống mọi kẻ thù. Người nói: Đại đoàn kết là “sức mạnh”hhhhh, là “lực lượng”, “là then chốt của sự thành công”, đoàn kết là “điểm mẹ”, “Điểm này mà thực hiện tốt thì đẻ ra con cháu đều tốt”…

Đại đoàn kết toàn dân tộc tiếp tục được xác định là đường lối chiến lược, là nguồn lực nội sinh quan trọng, đồng thời đoàn kết quốc tế được xem là điều kiện để kết hợp hiệu quả sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng.

Về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, hệ thống chính sách phát triển kinh tế - xã hội, giảm nghèo bền vững, bảo đảm an sinh xã hội, xây dựng nông thôn mới, phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thực hiện bình đẳng giới, chăm lo người có công và bảo đảm quyền con người đã góp phần củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước ta. Hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội ngày càng được đổi mới theo hướng phát huy dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội và huy động sự tham gia của các tầng lớp Nhân dân vào quá trình phát triển đất nước. Khối đại đoàn kết toàn dân tộc còn được mở rộng thông qua việc phát huy vai trò của đội ngũ trí thức, doanh nhân, văn nghệ sĩ, chức sắc tôn giáo, người có uy tín trong cộng đồng và hơn năm triệu người Việt Nam ở nước ngoài trong xây dựng và quảng bá hình ảnh đất nước.

Nhìn chung, thực tiễn phát triển đất nước cho thấy việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc và đoàn kết quốc tế đã góp phần quan trọng tạo dựng sự đồng thuận xã hội, huy động hiệu quả các nguồn lực trong và ngoài nước, củng cố sức mạnh quốc gia và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển. Tuy nhiên, trong giai đoạn phát triển mới, việc tiếp tục đổi mới cơ chế phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc gắn với nâng cao hiệu quả hội nhập quốc tế, tăng cường khối đoàn kết giữa các giai tầng xã hội và phát huy vai trò của mọi chủ thể trong hệ thống chính trị sẽ là yêu cầu có ý nghĩa chiến lược nhằm hiện thực hóa mục tiêu phát triển nhanh, bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Trong lĩnh vực phát triển kinh tế, việc phát huy sức mạnh đại đoàn kết đã tạo điều kiện huy động các nguồn lực xã hội cho đầu tư, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, góp phần duy trì tăng trưởng kinh tế, cải thiện môi trường đầu tư và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Trong lĩnh vực văn hóa - xã hội, nhiều chương trình bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc, xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở, phát triển giáo dục, y tế và khoa học - công nghệ đã góp phần củng cố bản sắc văn hóa dân tộc, tăng cường sự gắn kết cộng đồng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

Về đoàn kết quốc tế, Việt Nam tiếp tục thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế, là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Việc mở rộng quan hệ với các quốc gia, tổ chức quốc tế và tham gia tích cực vào các cơ chế hợp tác đa phương đã tạo điều kiện thu hút nguồn lực về vốn, công nghệ, tri thức và kinh nghiệm quản trị phục vụ phát triển đất nước, đồng thời nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Những kết quả đạt được trong công tác đối ngoại, ngoại giao kinh tế, ngoại giao văn hóa, ngoại giao nhân dân và hợp tác quốc phòng, an ninh đã thể hiện rõ sự vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.

Bên cạnh những kết quả tích cực, việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc và đoàn kết quốc tế vẫn còn một số hạn chế như: Khoảng cách phát triển giữa các vùng, miền; chất lượng nguồn nhân lực chưa đồng đều; một bộ phận người dân ở vùng sâu, vùng xa còn gặp nhiều khó khăn; nguy cơ phân hóa xã hội và tác động của thông tin xấu, độc trên không gian mạng vẫn ảnh hưởng đến khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Trên bình diện quốc tế, bối cảnh cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, các thách thức an ninh phi truyền thống, biến đổi khí hậu, dịch bệnh và những biến động của kinh tế thế giới đặt ra yêu cầu tiếp tục nâng cao năng lực dự báo, khả năng thích ứng và hiệu quả hội nhập quốc tế.

Trong bối cảnh đó, việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc và đoàn kết quốc tế cần được đổi mới theo hướng phát huy đồng thời sức mạnh nội sinh của dân tộc và sức mạnh của thời đại. Điều này đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện thể chế phát huy dân chủ và khối đại đoàn kết toàn dân tộc; thực hiện hiệu quả chính sách dân tộc, tôn giáo và an sinh xã hội; phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, đội ngũ trí thức, doanh nhân và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài; đồng thời chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện. Đây là yêu cầu có ý nghĩa chiến lược nhằm củng cố sự đồng thuận xã hội, tăng cường sức mạnh quốc gia và tạo nền tảng vững chắc cho phát triển nhanh, bền vững gắn với bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn mới.

Bối cảnh phát triển mới của đất nước với sự tác động đồng thời của toàn cầu hóa, chuyển đổi số, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và những biến động nhanh chóng của tình hình thế giới đang đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc và đoàn kết quốc tế. Bên cạnh những thời cơ thuận lợi từ hội nhập quốc tế sâu rộng, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ và kinh tế số, Việt Nam cũng phải đối mặt với những thách thức như cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, biến đổi khí hậu, an ninh phi truyền thống, già hóa dân số, khoảng cách phát triển giữa các vùng, miền và nguy cơ gia tăng bất bình đẳng xã hội. Những yếu tố này tác động trực tiếp đến việc củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và phát huy sức mạnh tổng hợp của quốc gia.

Một vấn đề quan trọng khác là sự phát triển của không gian mạng và truyền thông số đã làm thay đổi phương thức tiếp nhận thông tin, tạo điều kiện mở rộng giao lưu, hợp tác quốc tế nhưng đồng thời cũng làm gia tăng nguy cơ lan truyền thông tin sai lệch, kích động chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, gây ảnh hưởng đến niềm tin xã hội và sự đồng thuận trong cộng đồng. Điều đó đòi hỏi phải nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh, tăng cường năng lực truyền thông chính sách và xây dựng môi trường số an toàn, lành mạnh.

3. Định hướng và giải pháp tiếp tục vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc và đoàn kết quốc tế trong phát triển, bảo vệ đất nước hiện nay

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng và chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, việc tiếp tục vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc và đoàn kết quốc tế cần được triển khai theo hướng phát huy tối đa sức mạnh nội sinh của dân tộc, đồng thời khai thác hiệu quả các nguồn lực bên ngoài nhằm tạo động lực cho phát triển nhanh, bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, cụ thể là:

Một là, cần tiếp tục quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc trong toàn hệ thống chính trị và toàn xã hội; lấy lợi ích quốc gia - dân tộc làm điểm hội tụ để củng cố đồng thuận xã hội, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân và tăng cường niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước ta. Đồng thời, cần hoàn thiện thể chế và chính sách phát triển theo hướng bảo đảm công bằng xã hội, thu hẹp chênh lệch vùng miền, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và phát huy vai trò của đội ngũ trí thức, doanh nhân, văn nghệ sĩ, chức sắc tôn giáo, người có uy tín và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước.

Hai là, tiếp tục đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội theo hướng tăng cường đối thoại, phát huy dân chủ, mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân tộc và nâng cao hiệu quả giám sát, phản biện xã hội. Đồng thời, tăng cường ứng dụng công nghệ số trong công tác tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh, xây dựng môi trường thông tin lành mạnh, nâng cao năng lực nhận diện và đấu tranh với các thông tin sai trái, góp phần củng cố niềm tin xã hội và tăng cường đồng thuận trong cộng đồng.

Ba là, đối với đoàn kết quốc tế, cần kiên định thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa và đa dạng hóa quan hệ quốc tế; chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện; kết hợp chặt chẽ đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và ngoại giao nhân dân nhằm tranh thủ nguồn lực về vốn, khoa học - công nghệ, tri thức và kinh nghiệm quản trị phục vụ phát triển đất nước. Đồng thời, cần phát huy vai trò của Việt Nam trong các cơ chế hợp tác đa phương, nâng cao hiệu quả ngoại giao kinh tế, ngoại giao văn hóa và ngoại giao số, góp phần xây dựng môi trường hòa bình, ổn định và mở rộng không gian phát triển.

Việc triển khai đồng bộ các định hướng và giải pháp trên sẽ góp phần hiện thực hóa tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc với sức mạnh thời đại, tạo nền tảng vững chắc để huy động hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển nhanh, bền vững, nâng cao vị thế quốc gia và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh phát triển mới.

Thực tiễn cách mạng Việt Nam khẳng định: tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc và đoàn kết quốc tế là nền tảng tư tưởng có giá trị bền vững, giữ vai trò định hướng trong sự nghiệp phát triển và bảo vệ Tổ quốc. Việc vận dụng sáng tạo tư tưởng của Người đã góp phần phát huy sức mạnh nội sinh của dân tộc, kết hợp hiệu quả với sức mạnh thời đại, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh và nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng và chuyển đổi số, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, phát huy dân chủ, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, mở rộng đoàn kết quốc tế và tăng cường đồng thuận xã hội. Đây là cơ sở quan trọng để huy động hiệu quả mọi nguồn lực, xây dựng đất nước phát triển nhanh, bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.

----------------------------------

Tài liệu tham khảo:

(1) Bộ Chính trị, Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 12/3/2003 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.

(2) Bộ Chính trị, Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 10/4/2013 về hội nhập quốc tế.

(3) Bộ Chính trị, Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 09/6/2014, Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.

(4) Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết số 43-NQ/TW ngày 24/11/2023, Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng phồn vinh, hạnh phúc.

(5) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội ĐBTQ lần thứ XI, Nxb  CTQG-ST, H.2011.

(6), (7) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 11, Nxb CTQG-ST, H.1996, tr.22, tr.154.

(8), (9) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 8, sđd, tr.276, tr.392.

(10) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội ĐBTQ lần thứ XIII, Nxb  CTQG-ST, H.2021.

(11) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội ĐBTQ lần thứ XIV, Nxb  CTQG-ST, H.2026.

(12) Đào Thị Hoàn, Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy sức mạnh nội sinh đưa đất nước vững bước tiến vào kỷ nguyên mới, https://lyluanchinhtri.vn/van-dung-tu-tuong-ho-chi-minh-ve-dai-doan-ket-toan-dan-toc-phat-huy-suc-manh-noi-sinh-dua-dat-nuoc-vung-buoc-tien-vao-ky-nguyen-moi-6714.html, 2026.

(13) Hội đồng Lý luận Trung ương, Những vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb CTQG-ST, H.2022.

(14) Nguyễn Phú Trọng, Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb CTQG-ST, H.2022.

(15) Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Báo cáo tại Đại hội ĐBTQ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VIII, nhiệm kỳ 2014 - 2019.

(16) Bộ Chính trị, Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24/01/2025 về hội nhập quốc tế trong tình hình mới.

(17) Bộ Chính trị, Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam.

TS Vũ Toản - Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh

Bài viết cùng tác giả