Ngày 28/1/1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và các đồng chí của mình vượt qua mốc 108 biên giới Việt Nam - Trung Quốc về đến Pác Bó (xã Trường Hà, Hà Quảng, Cao Bằng).
Từ khóa: Cách mạng Việt Nam; Nguyễn Ái Quốc; Trung Quốc.
Abstract: The journey of Nguyen Ai Quoc from China back to Vietnam during 1940 - 1941 was an event of particular significance for the Vietnamese revolution. Against the backdrop of World War II, which profoundly reshaped the international and Indochinese landscape, the decision to return to the homeland reflected a strategic vision, an accurate assessment of the historical moment and the revolution’s urgent need for direct and unified leadership. This process was carefully and systematically prepared, ranging from force building and the selection of base areas to the management of external relations, thereby affirming Nguyen Ai Quoc’s role in creating crucial historical conditions that paved the way for a major turning point in the Vietnamese revolution in the early 1940.
Keywords: Vietnamese revolution; Nguyen Ai Quoc; China.
Giữa năm 1940, Nguyễn Ái Quốc hoạt động tại Côn Minh (Vân Nam, Trung Quốc), lấy bí danh là đồng chí Vương. Trong thời gian này, Người đặc biệt chú trọng việc nắm bắt tình hình trong nước, củng cố mối liên hệ với tổ chức Đảng và các cán bộ chủ chốt, coi đó là cơ sở quan trọng để đưa ra những quyết định chiến lược trong giai đoạn mới.
Đầu tháng 6/1940, Nguyễn Ái Quốc gặp các đồng chí Phạm Văn Đồng và Võ Nguyên Giáp - vừa từ trong nước sang - tại công viên Thúy Hồ(1). Trong cuộc gặp, Người hỏi rất kỹ về tình hình phong trào trong nước, về hoạt động của Mặt trận Dân chủ, về công tác báo chí và những khó khăn trên đường đi. Khi được hỏi ý kiến về vấn đề “Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở Á Đông”, Nguyễn Ái Quốc trả lời một cách thận trọng nhưng dứt khoát: “Vẫn rất cần, nhưng điều kiện tổ chức thì hiện nay chưa chín nên chưa đặt ra”(2). Điều này thể hiện rõ tư duy thực tiễn và sự cân nhắc kỹ lưỡng của Nguyễn Ái Quốc trong việc xác định mức độ chín muồi của các điều kiện cách mạng. Nhận định này cho thấy sự phân biệt rõ ràng giữa mục tiêu chiến lược lâu dài và yêu cầu trước mắt của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn 1940 - 1941.
Từ góc độ phương pháp luận, cách xử lý vấn đề của Nguyễn Ái Quốc phản ánh tư duy biện chứng, linh hoạt, coi trọng hiệu quả thực tế của tổ chức cách mạng, đồng thời tránh khuynh hướng nóng vội hoặc hình thức. Điều đó góp phần làm rõ cách thức Nguyễn Ái Quốc xác lập thứ tự ưu tiên chiến lược trong hành trình trở về nước, tập trung vào nhiệm vụ chuẩn bị lực lượng, căn cứ địa và điều kiện trong nước, tạo tiền đề trực tiếp cho bước ngoặt của cách mạng Việt Nam sau này.
Bước chuyển quan trọng trong nhận thức chiến lược của Nguyễn Ái Quốc được hình thành ngay sau khi Người nhận được tin Pari bị quân Đức chiếm ngày 20/6/1940. Trước biến động lớn của tình hình thế giới, Nguyễn Ái Quốc đã triệu tập một cuộc họp tại Côn Minh để phân tích tác động của sự kiện này đối với cách mạng Việt Nam và xác định hướng hành động phù hợp. Trong cuộc họp, Người khẳng định: “Việc Pháp mất nước là một cơ hội rất thuận lợi cho cách mạng Việt Nam. Ta phải tìm mọi cách về nước ngay để tranh thủ thời cơ. Chậm trễ lúc này là có tội với cách mạng”(3). Nhận định trên phản ánh rõ tư duy chiến lược sắc bén của Nguyễn Ái Quốc trong việc đánh giá cục diện quốc tế và vị trí của cách mạng Việt Nam trong bối cảnh chung. Người nhận diện đúng sự suy yếu nghiêm trọng của chủ nghĩa thực dân Pháp, đồng thời thấy rõ khả năng chuyển hóa mâu thuẫn giữa các lực lượng đế quốc thành điều kiện thuận lợi cho phong trào giải phóng dân tộc ở thuộc địa. Trên cơ sở đó, quyết định trở về Tổ quốc được hình thành như một lựa chọn chiến lược có tính tất yếu, gắn liền với yêu cầu tranh thủ thời cơ lịch sử và chuẩn bị trực tiếp cho bước ngoặt của cách mạng Việt Nam.
Trước những băn khoăn cho rằng việc khởi nghĩa sẽ gặp trở ngại khi chưa có vũ khí, Nguyễn Ái Quốc đã đưa ra một luận điểm có giá trị định hướng lâu dài đối với cách mạng Việt Nam. “Khởi nghĩa thì phải có vũ khí. Đó là một trong những vấn đề rất quan trọng của cách mạng. Nhưng nếu bây giờ có vũ khí thì lấy ai mà vác vũ khí? Cho nên cứ tìm cách về nước đã, sau đó chúng ta sẽ vận động quần chúng. Khi quần chúng đã giác ngộ cao thì ta sẽ có vũ khí”(4). Điều này làm nổi bật tư tưởng coi quần chúng nhân dân là nguồn sức mạnh quyết định của cách mạng, trong đó việc xây dựng, tổ chức và nâng cao trình độ giác ngộ chính trị của nhân dân được đặt lên hàng đầu. Cách tiếp cận này cho thấy Nguyễn Ái Quốc nhìn nhận vũ khí như một yếu tố gắn liền và phụ thuộc vào sức mạnh quần chúng, đồng thời khẳng định rằng chính sự tham gia rộng rãi, tự giác của nhân dân mới là điều kiện cơ bản bảo đảm cho thắng lợi của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.
Trên cơ sở phân tích thấu đáo tình hình quốc tế và trong nước, Nguyễn Ái Quốc đã kịp thời điều chỉnh phương án hoạt động theo hướng chủ động và sát hợp với yêu cầu của thời cuộc. Người điện cho Phạm Văn Đồng và Võ Nguyên Giáp, khi đó đang trên đường đi Diên An, yêu cầu dừng lại tại Quế Lâm nhằm chờ chỉ thị mới và chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho việc tìm đường trở về nước(5). Quyết định này được đưa ra trong bối cảnh Chính phủ Pháp đã đầu hàng phát xít Đức, làm thay đổi căn bản tương quan lực lượng và cục diện chính trị ở chính quốc cũng như tại Đông Dương. Như vậy, ngay từ đầu của hành trình từ Trung Quốc trở về nước, Nguyễn Ái Quốc đã thể hiện vai trò lãnh đạo có tính quyết định trong việc nhận diện đúng thời cơ lịch sử và lựa chọn phương hướng chiến lược phù hợp. Quyết định trở về Tổ quốc được hình thành trên cơ sở phân tích khoa học, toàn diện về bối cảnh quốc tế và thực tiễn cách mạng Việt Nam, thể hiện sự chủ động, nhất quán trong tư duy chiến lược, đồng thời tạo nền tảng vững chắc cho toàn bộ hành trình lịch sử tiếp theo, dẫn tới bước ngoặt căn bản của cách mạng Việt Nam trong những năm đầu thập niên 1940.
2. Từ Quế Lâm - Tĩnh Tây: Chuẩn bị toàn diện các điều kiện để trở về nước
Sau khi xác định rõ thời cơ và đưa ra quyết định chiến lược trở về Tổ quốc, Nguyễn Ái Quốc đã chuyển trọng tâm hoạt động về khu vực Quế Lâm -Tĩnh Tây, giáp biên giới Việt - Trung, để tiến hành công tác chuẩn bị một cách toàn diện và có hệ thống. Đây là giai đoạn Người trực tiếp chỉ đạo việc điều chỉnh đường lối hành động, tổ chức không gian căn cứ địa, xây dựng và huấn luyện cán bộ, triển khai hoạt động báo chí và xử lý quan hệ đối ngoại, tạo nền tảng trực tiếp cho hành trình trở về nước đầu năm 1941.
Trước hết, về định hướng đường lối và tổ chức hoạt động, ngay từ cuối tháng 6/1940, Nguyễn Ái Quốc đã chủ động bố trí lại lực lượng, tập trung nhiệm vụ chuẩn bị trở về nước. Người chỉ thị cho Phùng Chí Kiên và Vũ Anh đến Quý Dương cùng với Phạm Văn Đồng và Võ Nguyên Giáp “đi Quế Lâm để tìm cách về nước”(6). Chỉ thị này cho thấy Nguyễn Ái Quốc đã chuyển trọng tâm từ việc duy trì hoạt động ở nước ngoài sang tổ chức các điều kiện cụ thể cho việc trở về nước, đồng thời bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ giữa các cán bộ chủ chốt trong quá trình triển khai nhiệm vụ. Song song với đó, Người cử Trần Văn Hinh đi Diên An “để xây dựng quan hệ mới, đón chuyển biến mới của tình hình thế giới”(7), thể hiện tầm nhìn chiến lược trong việc kết hợp chuẩn bị trong nước với việc nắm bắt và tranh thủ những biến động quốc tế.
Cuối tháng 6/1940, Nguyễn Ái Quốc trực tiếp lên đường đi Trùng Khánh(8). Trước khi đi, Người “dặn đi dặn lại Vũ Anh và các đồng chí ở Côn Minh lo chuẩn bị mọi mặt để khi Người trở lại có thể lên đường về nước ngay”(9). Chỉ đạo này phản ánh rõ phương thức lãnh đạo chủ động, có tính toán, đặt việc chuẩn bị thực tế lên hàng đầu, nhằm bảo đảm khi thời cơ chín muồi có thể hành động kịp thời của Nguyễn Ái Quốc. Cuối tháng 7/1940, Nguyễn Ái Quốc từ Trùng Khánh trở lại Côn Minh(10), tiếp tục trực tiếp chỉ đạo công việc chuẩn bị trở về nước trong bối cảnh tình hình ngày càng chuyển biến theo chiều hướng có lợi cho cách mạng.
Tiếp đến, ngày 22/9/1940, Nguyễn Ái Quốc đưa ra những nhận định chiến lược quan trọng, làm rõ triển vọng của cách mạng Việt Nam trong bối cảnh Chiến tranh thế giới thứ hai: “Đồng minh sẽ thắng. Nhật, Pháp ở Đông Dương chóng chày sẽ bắn nhau. Việt Nam sẽ giành được độc lập. Chiến tranh du kích dần dần phát triển với những vũ khí thô sơ”(11). Những dự báo này được hình thành trong bối cảnh cục diện Chiến tranh thế giới thứ hai đang diễn biến nhanh chóng, phản ánh sự chủ động theo dõi, đánh giá sát thực tình hình quốc tế của Nguyễn Ái Quốc, đồng thời định hướng cho việc chuẩn bị các bước đi tiếp theo của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn chuyển biến quyết định.
Dựa trên những định hướng chiến lược đó, Nguyễn Ái Quốc dành sự quan tâm đặc biệt cho việc chuẩn bị căn cứ địa cách mạng, trước hết tập trung vào Cao Bằng. Khi hay tin hơn 40 thanh niên các dân tộc Cao Bằng vượt biên sang Quảng Tây, Người khẳng định: “Chúng ta sẽ tổ chức một lớp huấn luyện cho các anh em, sau đó, đưa anh em trở về củng cố và mở rộng phong trào Cao Bằng và tổ chức đường liên lạc về nước”(12). Đồng thời, Người làm rõ tầm quan trọng chiến lược của địa bàn này khi nhấn mạnh: “Căn cứ địa Cao Bằng sẽ mở ra triển vọng lớn cho cách mạng ta… Nhưng từ Cao Bằng còn phải phát triển về Thái Nguyên và thông xuống nữa mới có thể tiếp xúc với toàn quốc được. Có nối phong trào được với Thái Nguyên và toàn quốc thì khi phát động đấu tranh vũ trang, lúc thuận lợi có thể tiến công, lúc khó khăn có thể giữ”(13). Những nhận định đó cho thấy Nguyễn Ái Quốc đã xác lập một cách nhất quán về không gian căn cứ địa như nhân tố có ý nghĩa quyết định, bảo đảm cho sự phát triển bền vững của cách mạng và khả năng lan tỏa phong trào trên phạm vi cả nước.
Cùng với việc chuẩn bị căn cứ địa, Nguyễn Ái Quốc đặc biệt coi trọng xây dựng và huấn luyện đội ngũ cán bộ. Tại Tĩnh Tây, Người trực tiếp triệu tập các đồng chí Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Phùng Chí Kiên, Đặng Văn Cáp bàn việc mở lớp huấn luyện để chuẩn bị về nước. Đầu tháng 01/1941, “tại làng Nậm Quang, Nguyễn Ái Quốc tổ chức và trực tiếp huấn luyện chính trị cho 43 cán bộ cách mạng Việt Nam”(14). Chương trình huấn luyện được xây dựng một cách hệ thống, bao gồm tình hình thế giới và trong nước, tổ chức đoàn thể quần chúng, phương pháp điều tra, tuyên truyền, tổ chức, huấn luyện và đấu tranh cách mạng. Các tài liệu huấn luyện do Người biên soạn sau này được in thành sách “Con đường giải phóng”, phản ánh rõ sự chuẩn bị có chiều sâu về lý luận và phương pháp cho đội ngũ cán bộ nòng cốt.
Đáng chú ý, trong quá trình huấn luyện, Nguyễn Ái Quốc đặc biệt nhấn mạnh mối quan hệ giữa cán bộ và nhân dân, thể hiện qua những chỉ dẫn cụ thể về năm điều nên làm và năm điều nên tránh đối với dân. Những chỉ dẫn này không chỉ mang ý nghĩa đạo đức cách mạng, mà còn phản ánh quan điểm nhất quán của Người về việc lấy quần chúng làm nền tảng, coi sự tin tưởng và ủng hộ của nhân dân là điều kiện quyết định đối với sự thành công của cách mạng. Song song với công tác tổ chức và huấn luyện, Nguyễn Ái Quốc sử dụng báo chí như một công cụ quan trọng trong đấu tranh tư tưởng và đối ngoại. Trong thời gian ở Quế Lâm, Người viết nhiều bài đăng trên Cứu vong nhật báo với bút danh Bình Sơn, như các bài Ôông-Trôi-Co-mat, Chú ếch và con bò, Trò đùa dai của Rudơven tiên sinh, Hai chính phủ Vécxây, Bịa đặt, Nhân dân Việt Nam và báo chí Trung Quốc. Thông qua các bài viết này, Nguyễn Ái Quốc phê phán chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa phát xít, vạch trần các thủ đoạn tuyên truyền xuyên tạc, đồng thời khẳng định cuộc đấu tranh giải phóng của nhân dân Việt Nam là một bộ phận của phong trào chống phát xít, chống xâm lược ở châu Á. Hoạt động báo chí này góp phần tranh thủ sự đồng tình của dư luận tiến bộ Trung Quốc và quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi cho việc xử lý các mối quan hệ đối ngoại trong giai đoạn nhạy cảm.
Về đối ngoại, Nguyễn Ái Quốc luôn giữ thái độ tỉnh táo, thận trọng. Trong các cuộc họp tại Quế Lâm, Người chỉ rõ yêu cầu chấp hành nghiêm kỷ luật bí mật, tránh để lộ tư cách cộng sản, đồng thời nhấn mạnh việc không ảo tưởng vào vai trò của quân đội Tưởng Giới Thạch. Người nhận định rằng chỉ có Hồng quân Liên Xô và Hồng quân Trung Hoa mới là đồng minh thực sự, còn các lực lượng khác chỉ có thể tranh thủ trong chừng mực nhất định. Cách xử lý linh hoạt nhưng kiên định này giúp bảo đảm an toàn cho tổ chức và giữ vững nguyên tắc độc lập của cách mạng Việt Nam.
Các hoạt động diễn ra tại Quế Lâm - Tĩnh Tây cho thấy Nguyễn Ái Quốc đã chủ động tiến hành một quá trình chuẩn bị toàn diện, đồng bộ và có chiều sâu trước khi trở về Tổ quốc. Sự kết hợp chặt chẽ giữa hoạch định đường lối chiến lược, lựa chọn căn cứ địa Cao Bằng, xây dựng và huấn luyện cán bộ, hoạt động báo chí cùng việc xử lý linh hoạt các mối quan hệ đối ngoại đã tạo nên những điều kiện cơ bản, trực tiếp cho hành trình trở về nước đầu năm 1941, đồng thời đặt nền móng vững chắc cho bước ngoặt lịch sử của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn tiếp theo.
3. Trở về Tổ quốc: Hoàn thành hành trình lịch sử và mở ra bước ngoặt cách mạng Việt Nam
Sau giai đoạn tập trung chuẩn bị tại Quế Lâm - Tĩnh Tây, đến cuối năm 1940, Nguyễn Ái Quốc chủ trương đưa hoạt động tiến sát biên giới Việt - Trung để tạo điều kiện thuận lợi cho việc trở về nước. Nhận định về tình hình thế giới và Đông Dương cho thấy Người đánh giá thời cơ cách mạng đang hình thành nhưng chưa chín muồi để phát động khởi nghĩa trên phạm vi toàn quốc; vì vậy, yêu cầu đặt ra là phải trực tiếp trở về trong nước để lãnh đạo, chỉ đạo và chuẩn bị các điều kiện cần thiết. Khi đọc tin về khởi nghĩa Nam Kỳ, Nguyễn Ái Quốc nhấn mạnh: “Tình hình chung thế giới và Đông Dương ngày càng có lợi cho ta, nhưng thời cơ chưa đến, chưa thể khởi nghĩa được. Song nay đã nổ ra rồi, thì cần tổ chức rút lui cho khéo để duy trì phong trào”(15). Quan điểm này thể hiện rõ sự tỉnh táo, kiên định và nhất quán trong tư duy chiến lược của Nguyễn Ái Quốc, đồng thời khẳng định yêu cầu cấp thiết phải chuyển địa bàn hoạt động về sát biên giới và tìm đường trở về nước.
Trong bối cảnh đó, Nguyễn Ái Quốc đã chủ động tổ chức lực lượng, điều chỉnh phương thức hoạt động và chuẩn bị cụ thể cho hành trình trở về Tổ quốc. Tại Quế Lâm, Người nhận được báo cáo của nhóm công tác ở Tĩnh Tây và thư của Phạm Văn Đồng liên quan đến kế hoạch tổ chức đại hội hợp nhất các tổ chức Việt Minh. Trước tình hình phức tạp, “Nguyễn Ái Quốc chủ trương biến bức điện mời của Trương Bội Công thành “giấy đi đường” để hợp thức hóa việc di chuyển của đoàn cán bộ về Tĩnh Tây. Đoàn gồm Nguyễn Ái Quốc, Phùng Chí Kiên, Phạm Văn Đồng… rời Quế Lâm đi Nam Ninh, mở đầu cho chặng đường tiến sát biên giới Việt Nam”(16).
Từ Nam Ninh, Nguyễn Ái Quốc tiếp tục di chuyển trong điều kiện hết sức bí mật và nguy hiểm. “Trong vai một nhà báo Trung Hoa, Người cùng Phạm Văn Đồng, Phùng Chí Kiên và Đặng Văn Cáp đi thuyền về Điền Đông. Những chi tiết nhỏ trong hành trình, như việc Người thường nói tiếng Pháp, tiếng Trung Quốc để giữ vỏ bọc, hay phản xạ tự nhiên bằng tiếng Việt khi thấy tàn thuốc cháy áo, phản ánh rõ hoàn cảnh ngặt nghèo và yêu cầu tuyệt đối giữ bí mật của chuyến đi”(17). Sau khi đến Điền Đông, Nguyễn Ái Quốc cử Phạm Văn Đồng cùng một số đồng chí về Tĩnh Tây trước để nắm tình hình, còn bản thân Người chờ đón lực lượng hỗ trợ từ cơ sở cách mạng.
Đầu tháng 12/1940, Nguyễn Ái Quốc đến Tĩnh Tây và được bố trí ở nhà một gia đình Trung Quốc nghèo. Tại đây, Người tiếp tục chỉ đạo công tác chuẩn bị trong nước, đồng thời “yêu cầu Vũ Anh về Việt Nam tìm địa điểm bí mật, có cơ sở quần chúng bảo vệ và có đường rút lui khi cần thiết”(18). Việc trở về nước đã được Nguyễn Ái Quốc tính toán kỹ lưỡng, gắn liền với yêu cầu bảo đảm an toàn, bí mật và khả năng hoạt động lâu dài trong điều kiện thực dân - phát xít đàn áp gắt gao.
Cuối tháng 01/1941, Nguyễn Ái Quốc cùng các đồng chí thân cận chuẩn bị trực tiếp cho việc trở về nước. Ngày 27 tháng Giêng năm Tân Tỵ (mồng 1 Tết), Người đi chúc Tết nhân dân hai làng Nậm Quang và Nậm Tấy, hòa mình vào sinh hoạt cộng đồng, thể hiện sự gắn bó sâu sắc với quần chúng ngay trước thời khắc lịch sử của cuộc trở về(19).
Ngày 28/01/1941, Nguyễn Ái Quốc chính thức lên đường trở về nước. “Khi đến cột mốc 108 trên biên giới Việt - Trung, Người xúc động đứng lặng hồi lâu trước khi đặt chân lên đất mẹ sau ba mươi năm xa Tổ quốc”(20). Việc Hồ Chí Minh trở về Tổ quốc sau ba mươi năm hoạt động cách mạng ở nước ngoài, mang ý nghĩa đặc biệt sâu sắc đối với tiến trình cách mạng Việt Nam. Đây là thời điểm đánh dấu sự kết thúc của quá trình tìm đường cứu nước và chuẩn bị lực lượng trên phạm vi quốc tế, đồng thời mở ra giai đoạn Người trực tiếp lãnh đạo cách mạng trong nước.
Hành trình của Nguyễn Ái Quốc từ Trung Quốc trở về Tổ quốc giai đoạn 1940 - 1941 là một quá trình lịch sử được chuẩn bị công phu, có tổ chức chặt chẽ và mang tầm chiến lược đặc biệt đối với cách mạng Việt Nam. Thông qua việc nhận diện đúng thời cơ quốc tế, xác lập ưu tiên chiến lược, chuẩn bị toàn diện về lực lượng, căn cứ địa, cán bộ, tư tưởng và đối ngoại, Nguyễn Ái Quốc đã tạo dựng những điều kiện lịch sử cơ bản, trực tiếp cho bước ngoặt của cách mạng Việt Nam đầu thập niên 1940. Việc Người trở về nước đánh dấu sự chuyển biến căn bản từ hoạt động cách mạng ở nước ngoài sang trực tiếp lãnh đạo trong nước, đồng thời thể hiện sâu sắc tư duy biện chứng, phương pháp cách mạng khoa học và bản lĩnh chính trị kiên định. Trên cơ sở đó, hành trình trở về Tổ quốc của Nguyễn Ái Quốc được nhìn nhận như sự hội tụ giữa tầm nhìn chiến lược và thực tiễn cách mạng, góp phần quyết định vào việc mở ra giai đoạn phát triển mới của cách mạng Việt Nam, dẫn tới những thắng lợi có ý nghĩa lịch sử trong những năm tiếp theo./.
-------------------------------------------------------------
Ghi chú:
(1) Biên niên Tiểu sử Hồ Chí Minh, tập 1, Nxb CTQG-ST, H.2016, tr.120.
(2) Vũ Anh, “Từ Côn Minh về Pác Bó”, in trong Bác Hồ, Nxb Văn học, H.1975, tr.143.
(3), (4), (10), (12) Vũ Anh, “Những ngày gần Bác”, in trong Bác Hồ về nước, Hội Văn học nghệ thuật Cao Bằng, 1986, tr.15, tr.15, tr.15, tr.19.
(5), (6), (15), (17) Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Những chặng đường lịch sử, Nxb CTQG-ST, H.2001, tr.28, tr.29, tr.33, tr.32, tr.34.
(7) The Sixth Section (Information) of the Koumintang. (Vietnamese Communist and Vietnamese problems - Today and Yesterday) in Studies on Special Subjects 2 issues. Taipei, 1995, No. 21, p.12-13 (Dẫn theo King C. Chen: Vietnam and China (1938 - 1954), Princeton University, Press Princeton, New York, 1969, p.41).
(8), (9) Biên niên tiểu sử Hồ Chí Minh, tập 2, sđd, tr.113, tr.113.
(11) Trần Dân Tiên, Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb CTQG-ST, H.1994, tr.85-86.
(13) Bằng Giang, “Lớp huấn luyện đầu tiên”, in trong: Bác Hồ ở Việt Bắc, Nxb Việt Bắc, 1975, tr.24.
(14), (19) T. Lan, Vừa đi đường vừa kể chuyện, Nxb CTQG - Nxb Thanh niên, H.1994, tr.65 – 67, tr.69.
(16) Đặng Văn Cáp, “Con đường dẫn tôi đến với Bác”, in Bác Hồ về nước, Hội Văn học nghệ thuật Cao Bằng, 1986, tr.52 – 53.
(18) Lê Quảng Ba, “Bác Hồ về nước”, in Avoóc Hồ, Nxb Văn hóa dân tộc, H.1977, tr.12.
TS Lê Thị Hiền - Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Tin tức cùng chuyên mục
Bài viết cùng tác giả