Nền tảng pháp lý ngày càng vững chắc và toàn diện
Thời gian qua, Việt Nam đã xây dựng được một khung pháp luật tương đối đầy đủ về bảo hiểm TNLĐ-BNN. Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015 (Luật số 84/2015/QH13) là văn bản nền tảng, lần đầu tiên tách riêng và hệ thống hóa toàn diện chính sách bảo hiểm TNLĐ-BNN thành một chương độc lập (Chương III), với các điều khoản quy định rõ ràng về đối tượng, mức đóng, điều kiện hưởng và sử dụng quỹ.
Theo khoản 1 Điều 44 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015, người sử dụng lao động có trách nhiệm đóng vào Quỹ bảo hiểm TNLĐ-BNN tối đa 1% quỹ tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của người lao động, người lao động không phải đóng. Trên cơ sở này, Nghị định số 58/2020/NĐ-CP (được sửa đổi bởi Nghị định số 158/2025/NĐ-CP) quy định mức đóng thực tế ở hai mức: 0,5% áp dụng bình thường và 0,3% dành cho doanh nghiệp kiểm soát tốt TNLĐ trong 3 năm liên tiếp. Cơ chế giảm mức đóng này vừa giảm gánh nặng tài chính cho doanh nghiệp, vừa tạo ra động lực thực chất để cải thiện an toàn lao động tại nguồn.
Về điều kiện hưởng chế độ, Điều 45 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 quy định người lao động được hưởng chế độ khi bị tai nạn tại nơi làm việc trong giờ làm việc, ngoài nơi làm việc khi thực hiện công việc theo yêu cầu người sử dụng lao động, hoặc trên tuyến đường đi và về hợp lý, và bị suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên.
Mức trợ cấp được quy định tại Điều 48, Điều 49 của Luật: trường hợp suy giảm từ 5% đến 30% được hưởng trợ cấp một lần, tính bằng 5 lần mức lương cơ sở cho mức suy giảm 5%, cứ tăng thêm 1% thì hưởng thêm 0,5 lần; trường hợp suy giảm từ 31% trở lên được hưởng trợ cấp hằng tháng, bằng 30% mức lương cơ sở ở mức suy giảm 31%, cứ thêm 1% được thêm 2% mức lương cơ sở.
Đặc biệt, Luật này quy định Quỹ bảo hiểm TNLĐ-BNN không chỉ chi trả các chế độ mà còn được sử dụng để hỗ trợ phòng ngừa tai nạn lao động, cải thiện điều kiện lao động và hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp, thể hiện tư duy chính sách "phòng hơn chữa", hướng đến giảm thiểu rủi ro từ gốc chứ không chỉ bù đắp sau thiệt hại.
Bước tiến lớn nhất trong hệ thống pháp luật giai đoạn này là sự ra đời của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 (Luật số 41/2024/QH15, có hiệu lực từ ngày 01/7/2025). Luật lần đầu tiên chính thức ghi nhận "Bảo hiểm tai nạn lao động theo quy định của Luật An toàn, vệ sinh lao động" là một trong các chế độ của bảo hiểm xã hội tự nguyện - mở đường pháp lý cho cơ chế bảo vệ lao động phi chính thức. Đồng thời, tiếp tục khẳng định bảo hiểm TNLĐ-BNN là chế độ bắt buộc trong hệ thống bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với lao động có hợp đồng.
Cụ thể hóa tinh thần đó, Nghị định số 143/2024/NĐ-CP (có hiệu lực từ ngày 01/01/2025), thiết lập lần đầu tiên cơ chế bảo hiểm TNLĐ tự nguyện dành cho người lao động làm việc không theo hợp đồng lao động. Theo Điều 11 Nghị định, người tham gia đóng theo hai phương thức: 6 tháng hoặc 12 tháng một lần, với mức đóng tính trên cơ sở lương tối thiểu vùng IV. Kinh phí hỗ trợ do ngân sách địa phương đảm bảo.
Về chế độ hưởng (Điều 7 Nghị định số 143/2024/NĐ-CP), người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên do tai nạn được hưởng trợ cấp một lần: mức suy giảm 5% được hưởng 3 lần lương tối thiểu tháng vùng IV, cứ thêm 1% được thêm 0,3 lần; ngoài ra được hưởng thêm trợ cấp tính theo số năm đã đóng quỹ. Thời hạn giải quyết hồ sơ tối đa 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ (Điều 23 Nghị định số 143/2024/NĐ-CP).
Nâng cao hiệu quả chính sách trong giai đoạn mới
Hệ thống pháp luật hoàn thiện đã mang lại những kết quả rõ nét trong khu vực lao động chính thức. Tại các ngành có nguy cơ cao như xây dựng, khai khoáng, sản xuất công nghiệp, số vụ tai nạn lao động nghiêm trọng có xu hướng giảm. Cơ chế giám định miễn phí, chi trả chế độ kịp thời và hỗ trợ dụng cụ chỉnh hình, phục hồi chức năng đã tạo ra sự khác biệt thiết thực trong cuộc sống của người lao động khi rủi ro xảy đến.
Tuy nhiên, theo số liệu của Cục Thống kê, trong 6 tháng đầu năm 2025, cả nước ghi nhận 2.569 vụ tai nạn lao động với 2.633 người bị nạn. Đây mới là phần được khai báo đầy đủ. Đặc biệt, khu vực phi chính thức, chiếm tới hơn 60% lực lượng lao động cả nước (tương đương hơn 33 triệu người), vẫn là “vùng trũng an sinh”, khi phần lớn tai nạn trong nhóm này không được khai báo, không được hỗ trợ và do đó không được thống kê.
Để nâng cao hiệu quả chính sách trong giai đoạn mới, điều kiện tiên quyết là phải thay đổi căn bản cách thức truyền thông và đưa chính sách đến gần hơn với người lao động. Thực tế cho thấy, lao động phi chính thức, đặc biệt là tài xế công nghệ, shipper, lao động trẻ hầu như không tìm kiếm thông tin qua các kênh hành chính truyền thống. Vì vậy, cần triển khai truyền thông đa kênh qua mạng xã hội, ứng dụng di động, thậm chí tích hợp thông tin bảo hiểm TNLĐ trực tiếp vào các nền tảng giao việc như Be, Grab, Shopee Food… nơi người lao động hiện diện hằng ngày.
Bên cạnh đó, cần xây dựng cơ sở dữ liệu lao động phi chính thức và tăng cường vai trò cơ sở. Hiện nay, không có thống kê đầy đủ nào về số lượng, phân bố và đặc điểm rủi ro của lao động phi chính thức theo từng ngành nghề và địa bàn. Không có dữ liệu tốt thì không thể hoạch định chính sách hiệu quả. Có thể giao UBND cấp xã, phường, thị trấn trách nhiệm cụ thể trong việc lập danh sách và hỗ trợ lao động phi chính thức đăng ký tham gia bảo hiểm TNLĐ tự nguyện.
Đồng thời, gắn bảo hiểm TNLĐ với phòng ngừa và phục hồi sau tai nạn. Quỹ bảo hiểm TNLĐ-BNN hiện đã có cơ sở pháp lý để chi cho hoạt động phòng ngừa theo Điều 42 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 và hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp theo Điều 55. Tuy nhiên, trên thực tế phần chi này còn rất hạn chế. Cần tăng tỷ lệ sử dụng quỹ cho huấn luyện an toàn lao động miễn phí, hỗ trợ dụng cụ bảo hộ cho lao động tự do có nguy cơ cao, và kết nối người lao động sau tai nạn với các chương trình đào tạo nghề, tạo cơ hội tái hòa nhập thị trường lao động bền vững. Các tổ chức Công đoàn, Hội Nông dân, Hội Phụ nữ cũng cần được giao chỉ tiêu cụ thể, kèm theo nguồn lực tương xứng để thực hiện công tác vận động tham gia ngay tại cộng đồng cơ sở.
Mặt
khác, cần hoàn thiện cơ chế kiểm tra và chế tài xử lý trốn đóng bảo hiểm. Đối
với khu vực lao động chính thức, tình trạng doanh nghiệp chậm đóng hoặc trốn
đóng bảo hiểm TNLĐ-BNN vẫn còn xảy ra, gây thiệt hại trực tiếp đến quyền lợi
người lao động. Luật Bảo hiểm xã hội 2024 đã bổ sung nhiều quy định mạnh hơn về
xử lý trốn đóng. Cần sớm ban hành đầy đủ nghị định hướng dẫn, đặc biệt là cơ
chế liên thông thông tin giữa cơ quan thuế, BHXH và cơ quan lao động để phát
hiện kịp thời các trường hợp vi phạm./.
Chí Hiếu
Tin tức cùng chuyên mục
Bài viết cùng tác giả