Tiếng Việt
Tiếng Việt Tiếng Anh

Đổi mới quản trị quốc gia theo tinh thần Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng

Ngày đăng: 08/04/2026   11:18
Đọc bài viết
Mặc định Cỡ chữ
Tóm tắt: Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình, đổi mới quản trị quốc gia trở thành một định hướng phát triển có ý nghĩa quan trọng. Quan điểm này đã được thể hiện và nhấn mạnh trong Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Bài viết tập trung phân tích quan điểm của Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV về đổi mới quản trị quốc gia và đề xuất một số kiến nghị vận dụng trong thời gian tới.

Ảnh minh họa cho bài viết

Từ khoá: Cải cách hành chính; Đại hội XIV; Quản trị quốc gia.

Abstract: In the context of the country entering a new era of advancement, reforming national governance has become a development orientation of significant importance. This perspective has been articulated and emphasized in the Documents of the 14th National Congress of the Party. This article focuses on analyzing the viewpoints of the 14th National Congress regarding national governance reform and proposes several recommendations for application in the coming period.

Keywords: Administrative reform; 14th National Congress; National governance.

1.   Đặt vấn đề

Việc nghiên cứu, tìm hiểu về quan điểm, định hướng của Đảng trong Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV là một nội dung quan trọng, cần thiết và cấp bách trong thời gian tới. Để có thể triển khai có hiệu quả các định hướng, quan điểm và nội dung trong Văn kiện, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên cần hiểu biết đầy đủ và sâu sắc.

Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV đề cập tổng thể, toàn diện các nội dung trong định hướng phát triển giai đoạn tới của đất nước. Trong các nội dung này, đổi mới quản trị quốc gia đã được đề cập rất sâu sắc, cụ thể. Bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, đổi mới quản trị quốc gia không chỉ là yêu cầu cấp bách nhằm tháo gỡ “điểm nghẽn” thể chế và các lĩnh vực khác mà còn là động lực quan trọng để thúc đẩy sự phát triển của đất nước. Trong bối cảnh chuyển đổi số mạnh mẽ, quá trình cải cách hành chính và sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội, việc xác lập một hệ thống quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả và kiến tạo phát triển trở thành nhiệm vụ chiến lược hàng đầu.

2.   Quan điểm của Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng về đổi mới quản trị quốc gia

Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII lần đầu tiên chính thức sử dụng thuật ngữ “quản trị nhà nước”, thể hiện việc chuyển tư duy từ quản lý nhà nước sang quản trị nhà nước, theo đó đổi mới quản trị quốc gia theo hướng hiện đại, cạnh tranh hiệu quả [2, tr. 213]. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV tiếp tục nhấn mạnh về định hướng đổi mới quản trị quốc gia, theo đó Xây dựng hệ thống quản lý nhà nước, quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả, phục vụ và kiến tạo phát triển, xây dựng chính phủ số, chính quyền số” [3, tr. 129] và “xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại, hiệu lực, hiệu quả” [3, tr. 126].

Các quan điểm về đổi mới quản trị quốc gia trong Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục kế thừa và phát huy tinh thần của Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tuy nhiên có những định hướng cụ thể, chi tiết gắn với bối cảnh xây dựng chính quyền địa phương 2 cấp và đòi hỏi đặt ra trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Quan điểm về đổi mới quản trị quốc gia bao trùm lên nhiều nội dung và có nhiều định hướng vừa mang tính khái quát, hệ thống vừa mang tính cụ thể. Trong đó, có thể khái quát thành các quan điểm cơ bản sau đây:

Thứ nhất, nhấn mạnh vai trò, tầm quan trọng của đổi mới quản trị quốc gia và tư duy đổi mới để kiến tạo phát triển

Việc đổi mới nói chung và đổi mới quản trị quốc gia nói riêng trở thành yêu cầu cấp thiết trong quá trình phát triển đất nước. Đây vừa là nội dung, vừa là động lực cho sự phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Trong diễn văn bế mạc Đại hội, đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnhTinh thần “đổi mới” là yêu cầu mang tính thời đại. Không đổi mới, cải cách thì không thể bứt phá, không thể cạnh tranh, không thể phát triển. Phải tiếp tục đổi mới tư duy, đổi mới mô hình phát triển, mô hình tăng trưởng, đổi mới biện pháp tổ chức thực hiện, để đường lối đúng trở thành kết quả cụ thể trong cuộc sống” [4, tr. 399]. Đổi mới quản trị quốc gia trong bối cảnh hiện nay gắn với yêu cầu nâng cao hiệu quả, chất lượng và phục vụ Nhân dân. Quá trình này đòi hỏi phải gắn liền với những kết quả mang lại trong thực tiễn quản trị nhà nước, trong phát triển kinh tế - xã hội và trong đáp ứng nhu cầu của người dân. Đây là quá trình chuyển mạnh mẽ từ quản lý thụ động sang quản lý, quản trị chủ động, tích cực, sáng tạo, thông suốt và hiệu quả. Trong đó, Nhà nước chuyển mạnh mẽ từ vai trò quản lý, điều hành sang vai trò định hướng, kiến tạo các điều kiện, không gian cho sự phát triển, chú trọng chức năng hậu kiểm Chuyển mạnh phương thức quản lý nhà nước từ tiền kiểm sang hậu kiểm gắn với xây dựng các tiêu chuẩn, quy chuẩn để quản lý và tăng cường kiểm tra, giám sát[3, tr. 88]. Như vậy, Nhà nước sẽ xây dựng các tiêu chuẩn, quy chuẩn để định hướng hoạt động và kiểm tra, giám sát dựa trên các tiêu chuẩn, quy chuẩn đã thiết lập. Việc quản trị gắn liền với kết quả, với các chỉ số định lượng để định hướng và kiểm soát. Trong điều kiện hiện nay, Nhà nước không chỉ quản lý mà phải tạo ra môi trường, điều kiện thuận lợi nhất để khơi thông các nguồn lực xã hội nhằm thúc đẩy sự phát triển. Như vậy, đổi mới nói chung và đổi mới quản trị quốc gia trở thành mệnh lệnh chính trị quan trọng trong giai đoạn tới.

Đồng thời, việc xây dựng các chính sách, quyết định phải trên cơ sở là lợi ích của Nhân dân “Mọi chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước phải thực sự xuất phát từ nhu cầu, nguyện vọng, quyền lợi và lợi ích chính đáng, hợp pháp của Nhân dân; lấy việc tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, hạnh phúc và sự hài lòng của Nhân dân làm thước đo và mục tiêu phấn đấu” [3, tr. 121]. Đây chính là nền tảng cốt lõi cho quản trị quốc gia. Thước đo để đánh giá hiệu quả quản trị là sự đáp ứng nhu cầu của người dân, là sự hài lòng, đồng thuận của người dân.

Thứ hai, chú trọng và nâng cao hiệu quả cải cách hành chính toàn diện

Trọng tâm trong đổi mới quản trị quốc gia là tăng cường thực hiện cải cách hành chính trên các lĩnh vực nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả, hiệu năng quản trị. Việc cải cách hành chính muốn thực hiện hiệu quả, thực chất cần tiến hành đồng bộ trên tất cả các nội dung, các lĩnh vực. Trong đó, tập trung cải cách thể chế để tháo gỡ các điểm nghẽn, khơi thông cho sự phát triển bền vững, tạo nền tảng cho đổi mới, sáng tạo “Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật đầy đủ, đồng bộ, thống nhất, công bằng, dân chủ, minh bạch, khả thi, ổn định” [3, tr. 128]. Thể chế trong giai đoạn mới được xác định không chỉ là công cụ quản trị mà còn động lực cho sự phát triển. Cải cách tổ chức bộ máy nhà nước tiếp tục được quan tâm, thực hiện “Tiếp tục hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy, biên chế, mối quan hệ công tác giữa các cấp chính quyền” [3, tr. 127]. Việc cải cách bộ máy cần tiến hành toàn diện, trong đó tập trung phân định chức năng nhiệm vụ, xây dựng bộ máy gọn nhẹ và cơ chế phối hợp, nhịp nhàng, đồng bộ, vận hành trơn tru.

Một vấn đề trọng tâm trong cải cách hành chính được Đại hội xác định là đẩy mạnh phân cấp, phân quyền để giải quyết hài hoà mối quan hệ giữa trung ương và địa phương, nâng cao hiệu lực, hiệu quả, hiệu năng quản trị quốc gia nói chung và quản trị địa phương nói riêng, Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền theo hướng tăng cường tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương với phương châm địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”” [3, tr. 127-128]. Đồng thời đẩy mạnh phân cấp, phân quyền cũng là nội dung xác định trong đột phá chiến lược “Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền trong quản lý, quản trị phát triển giữa trung ương và địa phương, phát huy vai trò tự chủ, tự chịu trách nhiệm của địa phương” [3, tr. 147]. Việc phân cấp, phân quyền lần này được yêu cầu thực hiện một cách triệt để, mạnh mẽ, khoa học, hợp lý, thực chất hơn. Trong bối cảnh tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp, việc đẩy mạnh phân cấp, phân quyền là nội dung, giải pháp quan trọng để nâng cao hiệu quả quản trị “Tiếp tục hoàn thiện việc vận hành chính quyền địa phương 2 cấp, khai thác hiệu quả không gian phát triển, phát huy tiềm năng, lợi thế của địa phương, vùng phù hợp với đặc thù từng địa bàn, gắn với yêu cầu phát triển vùng, liên kết vùng” [3, tr. 128]. Việc phân cấp, phân quyền theo phương châm “cấp tỉnh mạnh về chiến lược, cấp xã mạnh về thực thi”.

Định hướng phân cấp, phân quyền phải gắn với điều kiện thực tế và đảm bảo các nguồn lực để quá trình này được thực hiện thực chất, hiệu quả và lâu dài “tiếp tục đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, uỷ quyền một cách khoa học, hợp lý, đi đôi với nâng cao trách nhiệm, gắn với bảo đảm nguồn lực, phù hợp với năng lực thực hiện nhiệm vụ”. [3, tr.129]. Quá trình phân cấp, phân quyền muốn hiệu quả phải được thực hiện phù hợp, khoa học cần gắn liền với cơ chế kiểm tra, kiểm soát “Tăng cường kiểm tra, kiểm soát; bảo đảm sự quản lý thống nhất của Trung ương, đồng thời phát huy vai trò chủ động, sáng tạo, tự chịu trách nhiệm của địa phương” [3, tr. 129].

Việc cải cách bộ máy nhà nước nói chung và chính quyền địa phương nói riêng không đơn thuần chỉ là sắp xếp mô hình cơ cấu mà còn là thay đổi mô hình quản trị, phương pháp quản trị. Điều này tiếp tục được khẳng định tại Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV, “Trong phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV, Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định mô hình chính quyền địa phương hai cấp là phương thức quản trị địa phương mới, nhằm bỏ tầng nấc trung gian, tổ chức vận hành bộ máy chính quyền cơ sở thông suốt. Ông nhấn mạnh phải xác định đây là một cuộc cải cách về quản trị, chứ không đơn thuần là một sự điều chỉnh về tổ chức bộ máy” [1].

Bên cạnh đó, việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức là nội dung tiếp tục được khẳng định và nhấn mạnh với tư cách là một nội dung trong đột phá chiến lược về phát triển nguồn nhân lực Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp của hệ thống chính trị, nhất là cán bộ cấp chiến lược và cấp cơ sở thực sự tiêu biểu, có tư duy, năng lực quản trị tiên tiến, phù hợp với mô hình tổ chức mới và yêu cầu phát triển bứt phá của đất nước” [3, tr.147]. Trong đó, việc phát triển năng lực quản trị tiên tiến đáp ứng yêu cầu thực tiễn là một nội dung quan trọng trong phát triển năng lực của cán bộ, công chức, nhất là đội ngũ lãnh đạo. Bối cảnh mới đòi hỏi đội ngũ cán bộ, công chức không chỉ là nhà hành chính mà còn là nhà quản trị, với tư duy, kỹ năng quản trị hiện đại. Năng lực quản trị của đội ngũ cán bộ công chức phải được phát triển toàn diện, bao gồm cả kiến thức, kỹ năng và phẩm chất.

Thứ ba, đổi mới quản trị quốc gia trên nền tảng chuyển đổi số và phát huy đổi mới sáng tạo

Để có thể nâng cao hiệu quả quản trị quốc gia trong bối cảnh của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đòi hỏi phải dựa trên nền tảng công nghệ số và đổi mới sáng tạo. Quản trị trong thời đại số phải gắn với quản trị 4.0, dựa trên dữ liệu, nền tảng số. Đảng xem đây là động lực quan trọng để tạo nền tảng, tiền đề cho sự phát triển quốc gia “Thúc đẩy đột phá về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phục vụ, kiến tạo phát triển” [3, tr. 147]. Để có thể áp dụng khoa học, công nghệ, Đảng chú trọng việc vận dụng những kết quả, thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 “Chủ động tiếp cận nhanh và khai thác có hiệu quả cơ hội và thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư” [3, tr. 106]. Đảng coi chuyển đổi số không chỉ là ứng dụng công nghệ mà là sự thay đổi toàn diện về mô hình tổ chức và quy trình vận hành. Mục tiêu là xây dựng chính phủ số, chính quyền số để nâng cao tính minh bạch và hiệu quả. Việc quản trị phải dựa trên dữ liệu và kết nối liên thông giữa các vùng, các ngành, các địa phương, từ đó nâng cao năng lực và hiệu quả quản trị. Bên cạnh đó, Đảng cũng chủ trương “Xây dựng, nuôi dưỡng văn hoá đổi mới sáng tạo” [3, tr. 107], việc đổi mới sáng tạo cần được thể hiện trên mọi lĩnh vực, trong đó có quản trị nhà nước. Tư duy quản trị phải là tư duy mở, sẵn sàng thay đổi để thích ứng với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội.

3. Vận dụng quan điểm của Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng về đổi mới quản trị quốc gia trong thời gian tới

Trên cơ sở các định hướng, quan điểm của Đảng về đổi mới quản trị quốc gia trong Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, trong thời gian tới cụ thể hoá và triển khai thực hiện những nội dung này, chúng tôi kiến nghị một số biện pháp sau đây:

Thứ nhất, nâng cao nhận thức về quan điểm đổi mới quản trị quốc gia trong Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV

Quan điểm đổi mới quản trị quốc gia của Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng có nhiều sự thay đổi mang tính cơ bản. Do đó, để có thể thực hiện đúng, đầy đủ và hiệu quả các quan điểm này đòi hỏi cán bộ, đảng viên cần nâng cao nhận thức về những thay đổi này. Trong đó cần nhận thức đầy đủ, hiểu rõ bản chất của những thay đổi trong tư duy về đổi mới quản trị nhà nước. Các cơ quan, địa phương cần tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền, giải thích nhằm giúp cán bộ, đảng viên nhận diện được sự khác biệt mang tính cách mạnggiữa quản trị truyền thống và quản trị hiện đại trong kỷ nguyên số, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Trong đó, tập trung chuyển từ tư duy nhận thức sang hiểu rõ và hành động quyết liệt; từ nhận thức quản lý sang quản trị, kiến tạo, phát triển; từ trạng thái “quản lý, giáo dục” sang “khơi thông, truyền cảm hứng [1]. Giải pháp nâng cao nhận thức không được dừng lại ở việc giúp cho cán bộ, đảng viên biết và hiểu những thay đổi trong quan điểm đổi mới quản trị quốc gia mà còn giúp họ thấy được trách nhiệm của mình trong việc hiện thực hoá những quan điểm này trong công tác chỉ đạo, điều hành, thực thi công vụ gắn với chức trách, nhiệm vụ của mình trong thời gian tới. Đổi mới quản trị quốc gia trước hết phải được thể hiện ở đổi mới tư duy, do đó mỗi cán bộ, đảng viên nhận thức rõ điều này. Các cơ quan, địa phương cần tổ chức các đợt sinh hoạt chính trị tìm hiểu về quan điểm đổi mới trong quản trị quốc gia để thống nhất về nhận thức và làm nền tảng cho những hoạt động triển khai trong thời gian tới.

Thứ hai, cụ thể hoá các quan điểm về đổi mới quản trị quốc gia

Quan điểm đổi mới quản trị quốc gia đã được nhấn mạnh trong Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV. Tuy nhiên, để hiện thực hoá các quan điểm này đòi hỏi các cơ quan nhà nước, các cấp chính quyền, các lĩnh vực cần tăng cường cụ thể hoá các quan điểm này. Trong đó tập trung vào một số trọng tâm sau:

Một là, hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia để thực hiện cơ chế hậu kiểm

Để chuyển từ “tiền kiểmsang hậu kiểm” một cách an toàn, hiệu quả, các cơ quan nhà nước cần nhanh chóng xây dựng bộ tiêu chuẩn, quy chuẩn rõ ràng, chi tiết trong các lĩnh vực quản lý nhà nước. Khi các hàng rào kỹ thuật đã được định hình và xác định cụ thể, minh bạch, các cơ quan nhà nước có thể dễ dàng quản lý, trong khi đó, người dân, doanh nghiệp có thể đơn giản hoá thực hiện thủ tục hành chính. Việc thanh tra, kiểm tra của cơ quan nhà nước sẽ trở nên đơn giản và hiệu quả hơn. Bên cạnh đó, góp phần thúc đẩy tinh thần tự giác, tự chịu trách nhiệm của các chủ thể trong xã hội. Các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật cần xác định cụ thể nội hàm, gắn với yêu cầu của từng lĩnh vực. Ngoài ra cần quy định cụ thể quy trình, thẩm quyền và cách thức “hậu kiểm” để tạo cơ sở pháp lý cho công tác này. Cơ chế kiểm tra, giám sát cần được xác định cụ thể nhất là trong bổi cảnh phân cấp, phân quyền.

Hai là, tiếp tục cụ thể hoá các nội dung cải cách hành chính

Nội dung cải cách hành chính nhà nước nhà nước giai đoạn 2021-2030 đã được xác định cụ thể trong Nghị quyết số 76/NQ-CP ngày 15 tháng 7 năm 2021. Hiện nay chúng ta đang bước vào giai đoạn 2 của Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2021-2030 và Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 282/QĐ-TTg ngày 12 tháng 2 năm 2026 về ban hành Kế hoạch cải cách hành chính nhà nước trọng tâm giai đoạn 2026-2030. Tuy nhiên, trong thời gian tới cần tiếp tục nghiên cứu để thể chế hoá quan điểm về đổi mới quản trị quốc gia vào xác định mục tiêu, nội dung, nhiệm vụ cải cách hành chính nhà nước trong giai đoạn 2026-2030 thông qua các chỉ đạo, kế hoạch, chương trình cụ thể hơn nữa. Một số nội dung cần được tiếp tục nghiên cứu, cụ thể hoá chi tiết như phân cấp, phân quyền cho chính quyền địa phương, xây dựng đề án vị trí việc làm gắn với chính quyền 2 cấp, xây dựng cơ sở dữ liệu số sau sáp nhập, cơ chế đặc thù cho các đô thị đặc biệt,… Ngoài ra cần cụ thể hoá cơ chế giải trình, chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương với chính quyền trung ương, giữa cấp dưới với cấp trên. Bên cạnh đó, Chính phủ, bộ ngành, các địa phương cần xác định “điểm nghẽn của điểm nghẽn” để có định hướng hoàn thiện các quy định pháp lý cho công tác quản trị nhà nước. Cơ chế về kiểm tra, kiểm soát của trung ương đối với địa phương, cấp trên đối với cấp dưới trong bối cảnh phân cấp, phân quyền cần được cụ thể hoá trong các quy định pháp luật. Vai trò kiến tạo, kiến thiết của Chính phủ, các ngành, lĩnh vực, các địa phương cũng cần được cụ thể hoá làm cơ sở cho việc điều chỉnh chính sách, pháp luật và mô hình quản trị, vận hành.

Thứ ba, tăng cường triển khai thực hiện các biện pháp, giải pháp đổi mới quản trị quốc gia

Trên cơ sở các định hướng, quan điểm về đổi mới quản trị quốc gia đòi hỏi các cơ quan nhà nước, các địa phương, các ngành, lĩnh vực cần xây dựng các mô hình, giải pháp cụ thể để triển khai thực hiện gắn với đơn vị mình. Quản trị quốc gia trong bối cảnh mới đòi hỏi hiệu quả quản trị cao và bền vững, tính linh hoạt, thích ứng trong mô hình quản trị, tính đồng bộ, nhịp nhàng trong qúa trình quản trị, tính minh bạch của nền hành chính. Do đó, các cơ quan nhà nước cần nghiên cứu xây dựng và áp dụng mô hình quản trị quốc gia, quản trị địa phương gắn với bối cảnh tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp và bối cảnh kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Trong thời gian tới, Chính phủ và Bộ Nội vụ cần tiếp tục chỉ đạo các ngành, lĩnh vực, các địa phương đẩy mạnh thực hiện cải cách hành chính theo tinh thần của đổi mới quản trị quốc gia. Cải cách hành chính trong thời gian tới cần gắn với các mô hình cụ thể hơn, các giải pháp hiệu quả hơn, các kết quả “lượng hoá” hơn. Đặc biệt cần đẩy mạnh thực hiện các nội dung cải cách hành chính trong giai đoạn 2026-2030, nhất là việc phân cấp, phân quyền. Cần tổ chức triển khai đồng bộ, quyết liệt và hiệu quả các mô hình, giải pháp cải cách hành chính trong thời gian tới.

4. Kết luận

Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã tiếp tục khẳng định, đồng thời đưa ra những quan điểm, định hướng cho đổi mới quản trị quốc gia mang tính chiều sâu, toàn diện và hệ thống hơn. Đổi mới quản trị quốc gia không được xác định thành đột phá chiến lược riêng, nhưng tinh thần của đổi mới quản trị quốc gia thể hiện trong những định hướng về đột phá chiến lược mà Đảng ta đã xác định tại Đại hội XIV. Đây là những nền tảng quan trọng để các cơ quan nhà nước nghiên cứu cụ thể hoá và triển khai các biện pháp, giải pháp đổi mới và nâng cao hiệu quả quản trị quốc gia trong thời gian tới. Các tinh thần, định hướng đổi mới quản trị quốc gia cần được cụ thể hoá trong các văn bản chỉ đạo, điều hành và hiện thức hoá trong hành động.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Báo Điện tử Chính phủ (2026),  Toàn văn: Thông báo Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV, Truy xuất từ https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/toan-van-thong-bao-hoi-nghi-lan-thu-hai-ban-chap-hanh-trung-uong-dang-khoa-xiv-119260326064929484.htm

2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Tập 1, NXB Chính trị Quốc gia Sự thật

3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Tập 1, NXB Chính trị Quốc gia Sự thật

4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Tập 2, NXB Chính trị Quốc gia Sự thật

TS. Trần Bá Hùng, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG-HCM