![]()
Từ khóa: Phụ nữ dân tộc thiểu số; sản xuất nông nghiệp; Ứng dụng khoa học và công nghệ trong nông nghiệp.
Abstract: This article analyzes the current situation and barriers to the application of science and technology in agricultural production among ethnic minority women in Ta Xua Commune, Son La Province, based on qualitative research data comprising 30 in-depth interviews, one focus group discussion, and secondary sources. The findings show that although women participate in almost every stage of production, their capacity to independently use and manage technology and their digital financial capabilities remain limited due to resource constraints. The article proposes solutions to strengthen their capacity to apply science and technology, mitigate the adverse impacts of natural disasters, improve production efficiency, and develop sustainable agricultural livelihoods.
Keywords: Ethnic minority women; agricultural production; application of science and technology in agriculture.
1. Đặt vấn đề
Xã Tà Xùa, tỉnh Sơn La là nơi sinh sống chủ yếu của đồng bào dân tộc Mông, với sinh kế chủ yếu dựa vào nông - lâm nghiệp. Xã có địa hình dốc, chia cắt mạnh cùng hình thái thời tiết đặc trưng nhiều sương mù và mát mẻ quanh năm, tuy nhiên, trong những năm gần đây ở địa bàn xuất hiện nhiều loại hình thời tiết cực đoan hơn như rét đậm, rét hại, mưa đá… gây ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất nông nghiệp của người dân. Trong bối cảnh đó, việc ứng dụng khoa học và công nghệ (KHCN), đổi mới phương thức sản xuất có vai trò quan trọng trong phát triển sản xuất nhằm nâng cao năng lực thích ứng và giảm thiểu tác động tiêu cực của thiên tai. Các nghiên cứu đã chỉ ra, phụ nữ là lực lượng lao động chính trong sản xuất nông nghiệp, tuy nhiên họ cũng là nhóm gặp nhiều khó khăn trong tiếp cận và làm chủ KHCN bởi những yếu tố liên quan đến cấu trúc và nguồn lực như trình độ học vấn, khả năng nói tiếng phổ thông và những bất bình đẳng giới trong phân công lao động và quyền quyết định trong gia đình (UN Women, 2021; Học viện Phụ nữ, 2021; FAO, 2023; IFAD, 2024). Xuất phát từ thực tiễn đó, bài viết phân tích thực trạng và những rào cản trong ứng dụng KHCN của phụ nữ dân tộc thiểu số (DTTS) trong sản xuất nông nghiệp tại xã Tà Xùa để làm căn cứ đề xuất một số giải pháp phù hợp nhằm nâng cao khả năng tiếp cận và ứng dụng KHCN cho phụ nữ DTTS trong bối cảnh mới.
2. Hướng tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
Theo lý thuyết nguồn lực của (Blood & Wolfe, 1960), vị thế xã hội, quyền quyết định và năng lực hành động của cá nhân trong gia đình cũng như ngoài cộng đồng được quyết định bởi khả năng kiểm soát các nguồn lực mà cá nhân nắm giữ. Trong bối cảnh hiện nay, việc xem xét khả năng ứng dụng KHCN trong sản xuất nông nghiệp của phụ nữ DTTS không chỉ bắt đầu từ các nguồn lực như vật chất, tài chính mà còn cần đánh giá từ góc độ cấu trúc và các nguồn lực về nhân khẩu và xã hội như trình độ học vấn, khả năng sử dụng ngôn ngữ phổ thông (tiếng Kinh); năng lực số và khả năng tiếp cận thông tin, tiếp cận các chương trình đào tạo, tập huấn để nhận diện và đề xuất giải pháp tháo gỡ những rào cản hiện có, trong việc phát triển sinh kế nông nghiệp bền vững.
Bài viết sử dụng nguồn dữ liệu khảo sát thực địa thuộc nhiệm vụ khoa học: "Ứng dụng khoa học, công nghệ trong sản xuất nông nghiệp ứng dụng với thiên tai của phụ nữ dân tộc thiểu số ở một xã của tỉnh Sơn La" do Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới chủ trì, thực hiện vào tháng 7/2026 tại xã Tà Xùa, tỉnh Sơn La. Nguồn dữ liệu được thu thập định nghĩa bao gồm: 01 thảo luận nhóm đại diện chính quyền và các tổ chức đoàn thể địa phương (cán bộ UBND xã, Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Tổ công nghệ số cộng đồng, Trưởng thôn) và 30 phỏng vấn sâu (trong đó có 18 nữ và 10 nam giới là người dân tộc Mông đại diện cho các hộ gia đình sản xuất nông nghiệp tại địa phương). Bên cạnh đó, bài viết còn tiến hành phân tích, tổng hợp các tài liệu thứ cấp từ các báo cáo tổng kết, số liệu thống kê định kỳ của chính quyền địa phương về tình hình kinh tế - xã hội, lao động, việc làm, chuyển đổi số, công tác phòng, chống thiên tai và phát triển nông nghiệp giai đoạn 2020-2026. Dữ liệu tổng hợp và phân tích theo chủ đề trên cơ sở vận dụng lý thuyết nguồn lực.
3. Thực trạng ứng dụng khoa học và công nghệ trong sản xuất nông nghiệp của phụ nữ dân tộc thiểu số
3.1. Ứng dụng khoa học và công nghệ trong sản xuất nông nghiệp của phụ nữ dân tộc thiểu số tại xã Tà Xùa
Ứng dụng KHCN trong sản xuất nông nghiệp của phụ nữ dân tộc Mông tại xã Tà Xùa hiện nay cho thấy sự phân hóa theo lĩnh vực canh tác, đặc thù công đoạn sản xuất cũng như vị thế của họ trong cấu trúc hộ gia đình.
Ứng dụng giống mới, kỹ thuật canh tác và cơ giới hóa.
Trong lĩnh vực trồng trọt, đồng bào DTTS tại xã Tà Xùa đã chuyển đổi từ các giống lúa truyền thống cho năng suất thấp sang các giống lúa thuần và lúa lai ngắn ngày có khả năng chống chịu sâu bệnh và chịu lạnh tốt hơn như giống 838, 305, Thái Bình. Phụ nữ dân tộc Mông là người đảm nhận chính hầu hết các khâu từ gieo mạ, nhổ mạ, cấy lúa đến làm cỏ.
Trong những năm gần đây, các dự án ứng dụng tiến bộ kỹ thuật đã đưa giống lê VH6 (lê Tai Nung) và BV1 là giống cây mới, được ghép trên gốc cây mắc cọp bản địa nhằm gia tăng khả năng bám rễ và chịu rét đã mở ra hướng phát triển cây trồng mang lại giá trị kinh tế cao cho người dân địa phương, đặc biệt là phụ nữ dân tộc Mông. Phụ nữ dân tộc Mông là người tham gia hầu hết các công đoạn từ trồng, chăm sóc, thu hoạch sản phẩm, tuy nhiên, họ lại bị hạn chế trong việc tiếp cận, lĩnh hội các kiến thức, kỹ thuật do ít tham gia các lớp tập huấn khuyến nông.
Về mặt cơ giới hóa, với điều kiện địa hình đồi dốc, quy mô sản xuất nhỏ nên việc áp dụng các loại máy móc hỗ trợ gặp nhiều khó khăn. Người dân chủ yếu ứng dụng các thiết bị cơ giới quy mô hộ gia đình như máy tuốt lúa mini, máy bừa cầm tay loại nhỏ, máy sao chè bán thủ công… Những thiết bị này giúp giải phóng sức lao động, đặc biệt giảm tải sức lao động cho lao động nữ.
Kỹ thuật chăn nuôi và dự trữ thức ăn cho vật nuôi.
Trước áp lực của các hiện tượng thời tiết cực đoan (rét đậm, rét hại, sương muối), phụ nữ đã kết hợp khéo léo giữa tri thức bản địa và các kỹ thuật chăn nuôi hiện đại để bảo vệ đàn gia súc. Thay vì phương thức thả rông truyền thống trong rừng như tập quán trước đây, các hộ gia đình đã chuyển sang hình thức nuôi bán chăn thả. Phụ nữ tham gia tích cực trong việc gia cố chuồng trại, che chắn gió lùa, tận dụng chăn ấm, quần áo cũ để giữ nhiệt cho gia súc, đồng thời áp dụng kỹ thuật làm ấm thức ăn để tăng sức đề kháng cho vật nuôi trong những ngày rét đậm, có xuất hiện băng giá.
Để giải quyết bài toán thiếu nguồn thức thức ăn trong mùa đông lạnh giá và những ngày mưa lớn kéo dài, phụ nữ dân tộc Mông với vai trò là người thực hiện chính trong các hoạt động chăn nuôi đã áp dụng kỹ thuật ủ thức ăn từ thân, củ cây chuối hoặc cỏ voi (sau khi băm nhỏ được trộn với tỷ lệ muối thích hợp), nén chặt và kín trong bao tải hoặc thùng xốp. Phương pháp lên men vi sinh tự nhiên này giúp bảo quản thức ăn từ 02 đến 03 tháng mà không bị hỏng, bảo đảm nguồn dinh dưỡng liên tục trong điều kiện thời tiết cực đoan đang diễn ra với tần suất ngày càng gia tăng hơn ở địa phương.
Khoảng cách số và năng lực tiếp cận công nghệ thông tin trong nông nghiệp.
Theo số liệu thống kê của chính quyền địa phương năm 2026, tỷ lệ dân số xã Tà Xùa sở hữu điện thoại thông minh (điện thoại thông minh) đạt 53,4% và 43% người dân thường xuyên truy cập internet (UBND xã Tà Xùa, 2026). Mặc dù chỉ số về cơ sở hạ tầng có sự cải thiện tốt hơn, tuy nhiên, đi sâu tìm hiểu vẫn còn tồn tại khoảng cách giới trong năng lực làm chủ công nghệ số theo hướng bất lợi cho phụ nữ.
Nam giới người dân tộc Mông ở vị thế chủ động hơn trong việc sở hữu các thiết bị, truy cập các ứng dụng dự báo thời tiết trực tuyến để điều chỉnh lịch sản xuất, tìm kiếm thông tin về giống mới, cách thức chăm sóc hoặc xem các video hướng dẫn tiêm phòng vắc xin phòng, chống dịch bệnh cho cây trồng, vật nuôi trên YouTube, Facebook. Trong khi đó, không gian sử dụng công nghệ số của phụ nữ bị hạn chế ở chức năng liên lạc (nghe, gọi) hoặc xem các video giải trí bằng tiếng Mông trên không gian mạng.
Công nghệ chế biến, bảo quản nông sản và giao dịch tài chính số.
Trong chuỗi giá trị chè Shan Tuyết cổ thụ, một đặc sản của vùng núi Tà Xùa, phụ nữ dân tộc Mông đóng vai trò rất quan trọng trong khâu bảo tồn chất lượng sản phẩm. Do cây chè cổ thụ cao lớn, mọc rải rác trên sườn đồi dốc, núi nên người Mông phải thu hái thủ công bằng tay. Việc nhận biết chính xác thời điểm hái và thao tác ngắt búp "1 tôm 1 lá" hoặc "1 tôm 2 lá" bằng tay vào sáng sớm khi sương chưa tan đòi hỏi sự tỉ mỉ, kiên nhẫn cao mà máy móc không thể thay thế được. Tuy nhiên, phụ nữ dân tộc Mông, đặc biệt là phụ nữ độ tuổi trung niên trở lên lại yếu thế hơn trong thương mại điện tử và tài chính số. Các hoạt động đăng tải hình ảnh sản phẩm chè, vườn lê lên Facebook, Zalo để chốt đơn hàng gửi đi các tỉnh, thành phố hầu hết do nam giới hoặc số ít phụ nữ trẻ đảm nhận. Do không biết chữ và lo sợ rủi ro lừa đảo số, phần lớn phụ nữ dân tộc Mông rất e ngại việc thanh toán bằng tài khoản ngân hàng, vì vậy tiền bán nông sản, thậm chí tiền công lao động làm thuê của bản thân họ cũng đều chuyển qua tài khoản của người chồng khiến họ bị phụ thuộc hơn về mặt tài chính.
3.2. Hiệu quả và rào cản trong ứng dụng khoa học và công nghệ của phụ nữ dân tộc thiểu số nhằm giảm thiểu rủi ro do thiên tai
Việc từng bước đưa KHCN vào sản xuất nông nghiệp tại xã Tà Xùa đã mang lại những chuyển biến tích cực, phát triển sản xuất và nâng cao năng lực chống chịu trước thiên tai cho người dân thông qua việc góp phần giảm thiểu tỷ lệ tử vong trên đàn vật nuôi nhờ kỹ thuật nuôi bán chăn thả kết hợp với đảm bảo nguồn thức ăn và kiểm soát dịch bệnh. Bên cạnh đó, việc ứng dụng KHCN cũng giúp tăng cường khả năng chống chịu cho cây trồng như giống lê mới có khả năng chịu khí hậu lạnh hoặc áp dụng quy trình khai thác đúng kỹ thuật và sử dụng chế độ sinh học cho chè Shan Tuyết giúp bảo tồn nguồn gen di sản, duy trì năng suất ổn định trước các hình thái thời tiết cực đoan.
Dù đạt được những kết quả đáng ghi nhận song việc ứng dụng KHCN tại Tà Xùa vẫn cho thấy tính thiếu đồng bộ và thiếu nhạy cảm giới. Trước hết là tình trạng mù chữ và khả năng sử dụng tiếng Kinh hạn chế ở phụ nữ dân tộc Mông tại địa phương, đặc biệt là phụ nữ trung niên đã ngăn cản họ tiếp cận tài liệu kỹ thuật, nghiên cứu thông tin trên internet hay vận hành các dịch vụ công nghệ số, tài chính số. Rào cản ngôn ngữ cũng tạo ra tâm lý tự ti, e ngại khi tham gia các hoạt động sinh hoạt cộng đồng. Hơn nữa, các lớp tập huấn khuyến nông tại địa phương vẫn sử dụng cách gửi giấy mời đại diện hộ gia đình tham gia nên thường thu hút chủ hộ (phần lớn là đàn ông) tham gia. Tài liệu và ngôn ngữ ở các lớp tập huấn chủ yếu sử dụng tiếng Kinh trong khi phụ nữ là những người trực tiếp lao động sản xuất trên nương rẫy nên thông tin tập huấn chưa thực sự được truyền đạt trúng đối tượng đích.
Trong những năm gần đây, áp lực sinh kế đã thúc đẩy một bộ phận nam giới trẻ tuổi tại Tà Xùa di cư ra các khu công nghiệp dưới xuôi làm việc (UBND xã Tà Xùa, 2026). Việc di cư của nam giới một mặt góp phần tạo thêm giá trị kinh tế cho gia đình, mặt khác cũng để lại trách nhiệm gánh vác toàn bộ công việc nhà, công việc sản xuất cho người ở lại trong khi năng lực về ứng dụng kỹ thuật sản xuất lẫn năng lực số của họ còn nhiều hạn chế.
4. Một số khuyến nghị
Một là, cần thay đổi quy định tham gia các lớp tập huấn theo hướng đảm bảo cơ hội tham gia bình đẳng cho cả nam giới và phụ nữ bằng cách thay vì chỉ mời "chủ hộ” thì giấy mời và thông báo cần định hướng rõ ràng khuyến khích cả vợ và chồng cùng tham gia hoặc ưu tiên trực tiếp lao động nữ chính.
Hai là, thiết kế lại chương trình đào tạo bằng cách sử dụng hình thức trực tuyến, video minh họa, tài liệu bằng hình ảnh có cả tiếng Kinh và tiếng Mông kết hợp sử dụng báo cáo viên là người địa phương để tránh rào cản về ngôn ngữ.
Ba là, triển khai các lớp xóa mù chữ linh hoạt về thời gian cho phụ nữ DTTS, lồng ghép với hướng dẫn sử dụng điện thoại thông minh, truy cập thông tin thời tiết nông vụ, nhận biết lừa đảo số và thao tác thanh toán trực tuyến phục vụ giao dịch nông sản. Phối hợp giữa Hội Phụ nữ xã, Phòng Văn hoá - Xã hội cùng chính quyền địa phương thiết kế các lớp học xóa mù chữ kết hợp phổ cập kỹ năng số cơ bản với thời gian linh hoạt (vào buổi tối hoặc thời gian nông nhàn) dành riêng cho phụ nữ DTTS.
Bốn là, tập huấn cho phụ nữ sử dụng các ứng dụng liên quan đến dự báo thời tiết, cảnh báo sớm thiên tai, tra cứu thông tin về kỹ thuật sản xuất, giới thiệu sản phẩm, kỹ năng nhận diện và phòng tránh lừa đảo qua mạng, đồng thời hỗ trợ họ tiếp cận an toàn với các dịch vụ tài chính số, mở tài khoản ngân hàng để tự chủ nguồn thu nhập của bản thân.
Năm là, Nhà nước cần ưu tiên nguồn vốn đầu tư công hoàn thiện hạ tầng nước sinh hoạt và sản xuất, giao thông nội bản, hỗ trợ các thiết bị cơ giới quy mô nhỏ, gọn nhẹ phù hợp với địa hình đặc thù miền núi. Điều này giúp đồng bào DTTS, đặc biệt là phụ nữ có nhiều thời gian hơn để học hỏi, nâng cao trình độ, tham gia các hoạt động học tập, sinh hoạt cộng đồng và phát triển kinh tế.
Sáu là, phát huy vai trò của các tổ chức, đoàn thể và tổ công nghệ số cộng đồng, nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ công nghệ số cộng đồng tại các bản, giao nhiệm vụ cụ thể cho các thành viên trực tiếp hỗ trợ phụ nữ và người cao tuổi tiếp cận công nghệ. Đồng thời, phát huy vai trò chủ sở hữu của Hội Phụ nữ các cấp trong việc xây dựng các tổ/nhóm sinh kế tương hỗ, giúp phụ nữ chia sẻ kinh nghiệm ứng phó thiên tai và liên kết tiêu thụ nông sản bền vững.
5. Kết luận
Kết quả phân tích cho thấy thực trạng, hiệu quả và các rào cản đối với việc ứng dụng KHCN trong sản xuất nông nghiệp của phụ nữ DTTS trong bối cảnh thiên tai. Phụ nữ đảm nhiệm phần lớn các công đoạn trong sản xuất nông nghiệp, tuy nhiên, Dưới góc độ lý thuyết nguồn lực, họ lại bị hạn chế trong việc làm chủ kiến thức sản xuất cũng như tiếp cận công nghệ số, thương mại điện tử và giao dịch tài chính số. Những khó khăn trong việc ứng dụng KHCN của phụ nữ dân tộc Mông ở địa bàn nghiên cứu xuất phát từ các yếu tố như tình trạng không biết chữ, rào cản ngôn ngữ tiếng Kinh, phương pháp tập huấn khuyến nông chưa tính đến yếu tố nhạy cảm giới, mô hình phân công lao động theo hướng bất lợi cho phụ nữ và vị thế của phụ nữ trong gia đình.
Để giải quyết bài toán phát triển nông nghiệp bền vững và xây dựng nông thôn mới vùng đồng bào DTTS trong bối cảnh mới, hệ thống chính sách quản lý nhà nước cần chuyển biến thực chất theo hướng trao quyền số cho phụ nữ và đảm bảo tính bao trùm. Việc thực hiện đồng bộ các giải pháp về cải cách phương pháp khuyến nông, phổ cập giáo dục - kỹ năng số, đầu tư hạ tầng nông thôn và trao quyền kinh tế cho phụ nữ không chỉ là chìa khóa để giải phóng sức lao động, nâng cao khả năng thích ứng với thiên tai mà còn là nền tảng vững chắc để thực hiện thành công mục tiêu bình đẳng giới và phát triển bao trùm ở địa bàn nghiên cứu nói riêng và khu vực miền núi phía Bắc nước ta hiện nay nói chung./.
--------------------------------------
Tài liệu tham khảo:
1. Blood, R. O., & Wolfe, D. M. (1960), Husbands & Wives: The Dynamics of Married Living. Glencoe, IL: Free Press.
2. FAO (2023), The status of women in agrifood systems. Food and Agriculture Organization of the United Nations. Rome.
3. IFAD (2024), Towards Digital Inclusion in Rural Transformation. Rome: International Fund for Agricultural Development / Rural Finance Investment Learning Centre. https://www.rfilc.org/.
4. Học viện Phụ nữ Việt Nam (2021), Khoảng cách giới trong công nghệ số dưới bối cảnh Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0. Báo cáo đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Hà Nội.
5. UBND xã Tà Xùa (2025), Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh xã Tà Xùa.
6. UBND xã Tà Xùa (2026), Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh xã Tà Xùa 06 tháng đầu năm 2026, Sơn La.
7. UN Women Việt Nam (2021), Tóm tắt chính sách: Các vấn đề về giới trong các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, Hà Nội.
Bài viết là sản phẩm của nhiệm vụ khoa học: “Ứng dụng khoa học, công nghệ trong sản xuất nông nghiệp ứng phó với thiên tai của phụ nữ dân tộc thiểu số ở một xã của tỉnh Sơn La” do Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới chủ trì năm 2026.
Đặng Thanh Nhàn - Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới
Tin tức cùng chuyên mục
Bài viết cùng tác giả