Từ khóa: Chuyển đổi số; Đồng Tháp; đổi mới sáng tạo; kỷ nguyên mới; mô hình tăng trưởng; phát triển bền vững.
Abstract: Dong Thap Province is entering a new era of development with a stronger position, expanded scale, and greater ambitions following the administrative boundary merger and consolidation of the two-tier local government model. Based on a review of the province’s development during 2020-2025 and its strategic orientations toward 2030, with a vision to 2045, this article analyzes the conditions for Dong Thap Province to enter this “new era”, identifies its key growth drivers, and clarifies the requirements for achieving rapid and sustainable development.
Keywords: Digital transformation; Dong Thap Province; innovation; new era; growth model; sustainable development.
![]()
1. Đặt vấn đề
Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng xác định đất nước ta đã chính thức bước vào “kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”, trong đó mục tiêu đến năm 2045 Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Yêu cầu này đặt ra trách nhiệm mới đối với các địa phương: phải chuyển mạnh từ tư duy tăng trưởng theo chiều rộng sang phát triển dựa trên năng suất, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chất lượng thể chế. Trong bối cảnh đó, tỉnh Đồng Tháp có những điều kiện đặc biệt để tạo bước chuyển chiến lược.
Đồng Tháp là tỉnh thuộc Vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), có diện tích tự nhiên 5.938,64 km2, quy mô dân số 4.370.046 người(1), không gian phát triển trải dài từ biên giới giáp với Campuchia, nơi đầu nguồn sông Tiền đến tận Biển Đông. Đây là tiền đề quan trọng để hình thành các cực tăng trưởng mới về công nghiệp chế biến, logistics, thương mại, dịch vụ và du lịch.
Thực tiễn giai đoạn 2020 - 2025 cho thấy, tỉnh Đồng Tháp đạt nhiều kết quả tích cực: 19/23 chỉ tiêu chủ yếu hoàn thành hoặc vượt kế hoạch; GRDP bình quân đầu người đạt khoảng 85,5 triệu đồng; cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng công nghiệp - xây dựng và dịch vụ; hạ tầng giao thông được cải thiện; năng lực cạnh tranh cấp tỉnh thuộc nhóm dẫn đầu cả nước; nông nghiệp chuyển mạnh sang tư duy kinh tế nông nghiệp; phong trào khởi nghiệp và các mô hình “Hội quán”, hợp tác xã phát triển rộng khắp. Những kết quả đó tạo nền tảng để tỉnh bước vào giai đoạn phát triển cao hơn. Tuy nhiên, nhiều thách thức vẫn hiện hữu: quy mô kinh tế còn nhỏ so với tiềm năng; công nghiệp chế biến chưa thật sự bứt phá; chất lượng nguồn nhân lực chưa đồng đều; biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn và sạt lở diễn biến phức tạp; liên kết vùng và kết nối hạ tầng còn những điểm nghẽn; năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp địa phương còn hạn chế.
Vì vậy, vấn đề đặt ra không chỉ là duy trì tăng trưởng, mà là xác lập một mô hình phát triển mới để tỉnh Đồng Tháp có thể tăng trưởng nhanh, bền vững và nâng cao vị thế trong vùng. Bài viết tập trung làm rõ ba nội dung: (1) Cơ sở để Đồng Tháp bước vào kỷ nguyên phát triển mới; (2) Các động lực tăng trưởng chủ yếu trong giai đoạn mới; (3) Những yêu cầu đặt ra để hiện thực hóa khát vọng phát triển nhanh, bền vững đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045.
2. Tỉnh Đồng Tháp bước vào kỷ nguyên phát triển mới
2.1. Từ nền tảng thực tiễn đến khát vọng phát triển mới
Kỷ nguyên phát triển mới của tỉnh Đồng Tháp được hình thành trên cơ sở kết hợp giữa thành tựu tích lũy trong nhiều năm đổi mới và yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới. Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030 đã xác định phải: “Giữ vững sự trong sạch, vững mạnh của Đảng bộ và hệ thống chính trị; phát huy lợi thế cửa ngõ Đồng bằng sông Cửu Long; phát triển nhanh công nghiệp; xây dựng nền nông nghiệp sinh thái, hiện đại; nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân; bảo đảm vững chắc quốc phòng, an ninh”. Đây không chỉ là định hướng phát triển kinh tế mà còn là sự chuyển đổi về tầm nhìn và phương thức phát triển của tỉnh Đồng Tháp.
Điểm mới quan trọng là tỉnh Đồng Tháp không còn chỉ được nhìn nhận như một tỉnh nông nghiệp truyền thống, mà đang hướng tới vị thế một trung tâm nông nghiệp hiện đại, công nghiệp chế biến và dịch vụ của vùng. Việc chuyển từ “sản xuất nông nghiệp” sang “kinh tế nông nghiệp” trong những năm qua đã tạo tiền đề cho bước chuyển này. Các ngành hàng chủ lực như lúa gạo, trái cây, cá tra, hoa kiểng, sen không chỉ tăng sản lượng mà từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị, gắn với chế biến, thương mại điện tử, du lịch và xây dựng thương hiệu địa phương.
2.2. Không gian phát triển được mở rộng sau hợp nhất
Sau khi hợp nhất, tỉnh Đồng Tháp có lợi thế đặc biệt về không gian phát triển. Tỉnh vừa có vùng thượng nguồn sông Tiền, vùng trung tâm sông Hậu, vừa có khu vực ven biển Gò Công. Sự kết hợp này tạo nên cấu trúc kinh tế đa dạng: nông nghiệp nước ngọt, thủy sản, công nghiệp chế biến, logistics đường thủy, kinh tế biển và du lịch sinh thái.
Với vị trí cửa ngõ của vùng Đồng bằng sông Cửu Long giúp tỉnh có khả năng kết nối trực tiếp với Thành phố Hồ Chí Minh và các trung tâm kinh tế lớn. Hệ thống cao tốc, quốc lộ, đường ven sông Tiền, các cảng thủy nội địa và cảng biển trong quy hoạch sẽ tạo điều kiện hình thành các hành lang kinh tế mới. Chương trình hành động của Tỉnh ủy đặt mục tiêu xây dựng mới khoảng 400 km đường trong giai đoạn 2026 - 2030, đồng thời thúc đẩy các tuyến cao tốc Mỹ An - Cao Lãnh, Cao Lãnh - An Hữu giai đoạn 2, Đức Hòa - Mỹ An và nghiên cứu các tuyến liên kết vùng mới. Đây là bước đi có ý nghĩa chiến lược nhằm phá vỡ điểm nghẽn về kết nối và chi phí logistics.
2.3. Chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chiều rộng sang chiều sâu
Tỉnh Đồng Tháp bước vào kỷ nguyên mới trong bối cảnh mô hình tăng trưởng cũ dựa nhiều vào khai thác tài nguyên, lao động giá rẻ và mở rộng quy mô sản xuất đã bộc lộ giới hạn. Chương trình hành động của Tỉnh ủy xác định rõ: tăng trưởng giai đoạn 2026 - 2030 phải dựa trên khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; phấn đấu tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân đạt từ 9%/năm trở lên và kinh tế số chiếm tối thiểu 30% GRDP vào năm 2030(2). Sự chuyển đổi này có ba hàm ý quan trọng. Thứ nhất, năng suất lao động trở thành động lực chủ yếu của tăng trưởng thay cho mở rộng đầu vào truyền thống. Thứ hai, công nghiệp chế biến, dịch vụ logistics, thương mại số và du lịch trải nghiệm sẽ giữ vai trò ngày càng lớn trong cơ cấu kinh tế. Thứ ba, chất lượng quản trị nhà nước và môi trường đầu tư trở thành lợi thế cạnh tranh cốt lõi của địa phương.
2.4. Khát vọng phát triển trở thành nguồn lực tinh thần mới
Một đặc điểm nổi bật của tỉnh Đồng Tháp trong nhiều năm qua là tinh thần “tự lực - tự quản - chăm chỉ - hợp tác” được nuôi dưỡng thông qua các mô hình Hội quán, hợp tác xã và phong trào khởi nghiệp. Kỷ nguyên mới đòi hỏi nguồn lực tinh thần này được nâng lên thành khát vọng phát triển chung của toàn xã hội. Chương trình hành động của Tỉnh ủy nhấn mạnh việc khơi dậy khát vọng phát triển Đồng Tháp phồn vinh, hạnh phúc; phát huy ý chí tự lực, tự cường; tạo sự thống nhất cao trong nhận thức và hành động để thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số. Điều đó cho thấy, bên cạnh vốn đầu tư và hạ tầng, niềm tin xã hội, tinh thần đổi mới sáng tạo và ý chí vươn lên của người dân, doanh nghiệp và đội ngũ cán bộ được xem là một nguồn lực phát triển đặc biệt quan trọng.
2.5. Chuyển từ lợi thế so sánh sang lợi thế cạnh tranh
Trong nhiều năm, lợi thế của tỉnh Đồng Tháp chủ yếu dựa trên điều kiện tự nhiên, đất đai màu mỡ, nguồn nước dồi dào và sản xuất nông nghiệp quy mô lớn. Tuy nhiên, trong điều kiện cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt, những lợi thế đó không còn đủ để tạo ra tốc độ tăng trưởng cao và bền vững. Kỷ nguyên mới đòi hỏi tỉnh Đồng Tháp phải chuyển từ khai thác lợi thế so sánh sang xây dựng lợi thế cạnh tranh dựa trên chất lượng thể chế, đổi mới sáng tạo, nguồn nhân lực và trình độ công nghệ...
Như vậy, tỉnh Đồng Tháp bước vào kỷ nguyên phát triển mới không chỉ với những lợi thế về địa lý, nông nghiệp hay hạ tầng, mà còn với một tầm nhìn phát triển mới, mô hình tăng trưởng mới và khát vọng phát triển mới. Đây là nền tảng để tỉnh tạo ra bước chuyển chiến lược trong giai đoạn 2026 - 2030 và tầm nhìn đến năm 2045.
3. Những động lực tăng trưởng của tỉnh Đồng Tháp trong kỷ nguyên phát triển mới
3.1. Hạ tầng giao thông và liên kết vùng - động lực mở rộng không gian phát triển
Trong điều kiện của một tỉnh nằm ở cửa ngõ Đồng bằng sông Cửu Long, hạ tầng giao thông có ý nghĩa quyết định đối với khả năng thu hút đầu tư, phát triển công nghiệp và giảm chi phí logistics. Chương trình hành động của Tỉnh ủy Đồng Tháp xác định phát triển hạ tầng giao thông đồng bộ, hiện đại, thích ứng với biến đổi khí hậu là đột phá chiến lược hàng đầu; trọng tâm là các tuyến cao tốc, quốc lộ, đường ven sông Tiền, cảng thủy nội địa và cảng biển. Việc hình thành các hành lang kết nối tỉnh với Thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Cần Thơ và các tuyến ven sông, ven biển sẽ tạo ra tác động lan tỏa lớn: mở rộng thị trường cho nông sản, thúc đẩy công nghiệp chế biến, phát triển logistics đa phương thức và tăng khả năng tiếp cận các trung tâm tiêu dùng lớn. Hạ tầng không chỉ là điều kiện vật chất mà còn là công cụ tái cấu trúc không gian kinh tế của tỉnh.
3.2. Nông nghiệp sinh thái, hiện đại và kinh tế tuần hoàn
Nông nghiệp tiếp tục là nền tảng quan trọng của tỉnh Đồng Tháp, nhưng động lực tăng trưởng mới không nằm ở tăng sản lượng thuần túy mà ở tăng giá trị gia tăng. Định hướng của tỉnh là phát triển nông nghiệp sinh thái, hiện đại, công nghệ cao; hình thành các vùng nguyên liệu tập trung; đẩy mạnh sản xuất tuần hoàn, thích ứng biến đổi khí hậu; gắn chặt với công nghiệp chế biến, du lịch và thị trường xuất khẩu. Lợi thế của tỉnh Đồng Tháp là hệ sinh thái sản phẩm đa dạng: lúa gạo, trái cây, cá tra, sen, hoa kiểng. Khi được tổ chức theo chuỗi giá trị, các sản phẩm này có thể tạo ra giá trị kinh tế cao hơn nhiều so với xuất khẩu nguyên liệu thô. Mô hình liên kết “nông dân - hợp tác xã - doanh nghiệp - nhà khoa học - ngân hàng” cần tiếp tục được củng cố để nâng cao năng lực cạnh tranh của toàn ngành. Đặc biệt, kinh tế tuần hoàn mở ra hướng phát triển mới cho nông nghiệp của tỉnh Đồng Tháp. Phụ phẩm từ lúa, thủy sản, trái cây và sen có thể được tái chế thành thức ăn chăn nuôi, phân bón hữu cơ, năng lượng sinh học hoặc sản phẩm chế biến sâu. Đây là con đường vừa nâng cao giá trị gia tăng vừa giảm tác động môi trường.
3.3. Công nghiệp chế biến - động lực tăng trưởng chủ yếu
Chương trình hành động của Tỉnh ủy Đồng Tháp đặt mục tiêu khu vực công nghiệp - xây dựng tăng trưởng bình quân khoảng 14,8%/năm trong giai đoạn 2026 - 2030. Điều này phản ánh sự chuyển dịch chiến lược: công nghiệp chế biến phải trở thành động lực tăng trưởng chủ yếu trong cơ cấu kinh tế của tỉnh. Đồng Tháp có lợi thế rõ rệt để phát triển công nghiệp chế biến nông, thủy sản nhờ nguồn nguyên liệu lớn và ổn định. Việc hình thành các vùng công nghiệp dọc sông Tiền, sông Hậu và các cực công nghiệp ở Tân Phước, Gò Công sẽ tạo điều kiện thu hút các dự án chế biến sâu, cơ khí nông nghiệp, công nghiệp hỗ trợ và logistics. Điểm quan trọng là phải chuyển từ chế biến sơ cấp sang chế biến sâu, xây dựng thương hiệu và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Chỉ khi đó, công nghiệp mới thực sự nâng cao giá trị gia tăng và tạo ra năng suất lao động cao hơn cho nền kinh tế địa phương.
3.4. Dịch vụ logistics, thương mại và du lịch
Với vị trí cửa ngõ của vùng, logistics có thể trở thành một ngành kinh tế quan trọng của tỉnh Đồng Tháp. Các trung tâm logistics gắn với khu công nghiệp, cảng thủy nội địa và hệ thống cao tốc sẽ giúp giảm chi phí vận chuyển, tăng khả năng cạnh tranh của hàng hóa và thu hút doanh nghiệp sản xuất. Đồng thời, thương mại điện tử và kinh tế số đang mở rộng không gian thị trường cho sản phẩm địa phương. Việc hỗ trợ doanh nghiệp tham gia các sàn thương mại điện tử trong nước và quốc tế sẽ giúp nông sản, sản phẩm OCOP và hàng chế biến của Đồng Tháp tiếp cận trực tiếp người tiêu dùng với chi phí thấp hơn. Du lịch cũng là động lực tăng trưởng đáng chú ý. Tỉnh có lợi thế về du lịch sinh thái, du lịch nông nghiệp, du lịch sông nước và trải nghiệm văn hóa. Khi được kết nối với các sản phẩm đặc trưng như sen, hoa Sa Đéc, làng nghề truyền thống và hệ sinh thái miệt vườn, du lịch có thể tạo ra giá trị lan tỏa lớn cho khu vực nông thôn.
3.5. Khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số
Đây là động lực mang tính quyết định đối với khả năng bứt phá của tỉnh Đồng Tháp trong dài hạn. Chương trình hành động của Tỉnh ủy xác định khoa học - công nghệ và chuyển đổi số là “con đường ngắn nhất” để nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Trong nông nghiệp, ứng dụng công nghệ sinh học, cảm biến, dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo sẽ giúp tối ưu hóa sản xuất và truy xuất nguồn gốc. Trong công nghiệp, đổi mới công nghệ giúp giảm chi phí, nâng chất lượng sản phẩm và đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế. Trong quản trị nhà nước, chuyển đổi số tạo ra môi trường hành chính minh bạch, thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp. Mục tiêu kinh tế số chiếm tối thiểu 30% GRDP vào năm 2030 cho thấy tỉnh Đồng Tháp không xem chuyển đổi số chỉ là nhiệm vụ kỹ thuật, mà còn là chiến lược tái cấu trúc toàn bộ nền kinh tế.
3.6. Nguồn nhân lực chất lượng cao và thể chế phát triển
Động lực cuối cùng, nhưng có tính nền tảng, là con người và thể chế. Tỉnh Đồng Tháp đặt mục tiêu đến năm 2030 tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 82,5%, trong đó lao động có bằng cấp, chứng chỉ đạt 43,5%(3). Đây là điều kiện cần để phát triển công nghiệp hiện đại, dịch vụ chất lượng cao và kinh tế số. Bên cạnh đào tạo nghề, Đồng Tháp chú trọng phát triển kỹ năng số, ngoại ngữ, quản trị và đổi mới sáng tạo. Liên kết giữa nhà trường, doanh nghiệp và các viện nghiên cứu cần được tăng cường để bảo đảm đào tạo gắn với nhu cầu thực tiễn. Song song với đó là cải cách thể chế và xây dựng chính quyền kiến tạo. Môi trường đầu tư minh bạch, thủ tục hành chính thuận lợi, phân cấp gắn với trách nhiệm và cơ chế giám sát hiệu quả sẽ tạo niềm tin cho doanh nghiệp và nhà đầu tư. Trong bối cảnh cạnh tranh giữa các địa phương ngày càng gay gắt, chất lượng thể chế chính là một lợi thế cạnh tranh quan trọng của tỉnh Đồng Tháp.
Như vậy, sáu động lực tăng trưởng của tỉnh Đồng Tháp bao gồm: hạ tầng và liên kết vùng; nông nghiệp sinh thái hiện đại; công nghiệp chế biến; dịch vụ logistics - thương mại - du lịch; khoa học - công nghệ và chuyển đổi số; nguồn nhân lực và thể chế phát triển. Sự kết hợp đồng bộ của các động lực này sẽ quyết định khả năng hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững của tỉnh Đồng Tháp trong giai đoạn mới.
4. Những yêu cầu đặt ra để tỉnh Đồng Tháp hiện thực hóa khát vọng phát triển
Một là, kiên định mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Mục tiêu tăng trưởng hai con số chỉ có thể đạt được nếu tỉnh Đồng Tháp chuyển đổi thành công từ mô hình tăng trưởng dựa vào mở rộng quy mô sang mô hình dựa trên năng suất, tri thức và đổi mới sáng tạo. Điều này đòi hỏi tỉnh phải dành nguồn lực thích đáng cho khoa học - công nghệ, hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ và thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Quan trọng hơn, cần xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo địa phương, trong đó doanh nghiệp là trung tâm, nhà khoa học là lực lượng hỗ trợ, Nhà nước đóng vai trò kiến tạo.
Hai là, hoàn thiện hạ tầng và tháo gỡ các điểm nghẽn để tạo đà cho phát triển.
Cần đẩy nhanh tiến độ các công trình hạ tầng chiến lược, xử lý dứt điểm các dự án tồn đọng và tạo quỹ đất sạch để thu hút đầu tư. Đồng thời, cần phát triển đồng bộ hạ tầng số, hạ tầng logistics, hạ tầng năng lượng và hạ tầng xã hội (nhà ở công nhân, y tế, giáo dục). Chỉ khi các loại hạ tầng được phát triển hài hòa, tỉnh mới có thể thu hút được các nhà đầu tư chiến lược và hình thành các cụm công nghiệp, đô thị, dịch vụ hiện đại.
Ba là, phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa và chuyển đổi số.
Đây là thách thức lớn nhất trong nhiều năm tới đối với tỉnh Đồng Tháp. Công nghiệp chế biến hiện đại, logistics, kinh tế số và quản trị công hiện đại đều cần đội ngũ lao động có kỹ năng, kỷ luật và khả năng thích ứng công nghệ. Vì vậy, giáo dục nghề nghiệp phải được đổi mới theo hướng gắn chặt với nhu cầu của doanh nghiệp. Tỉnh cần ưu tiên đào tạo các lĩnh vực: công nghệ thông tin, tự động hóa, công nghệ sau thu hoạch, logistics, quản trị chuỗi cung ứng, công nghệ thực phẩm và kỹ thuật môi trường. Bên cạnh đó, việc phổ cập kỹ năng số và nâng cao năng lực ngoại ngữ cho lực lượng lao động trẻ là điều kiện để tham gia sâu hơn vào thị trường lao động khu vực và quốc tế.
Bốn là, nâng cao chất lượng quản trị và hiệu lực của bộ máy nhà nước.
Kỷ nguyên mới đòi hỏi bộ máy nhà nước không chỉ quản lý mà phải kiến tạo phát triển. Việc vận hành mô hình chính quyền địa phương 02 cấp sau sắp xếp là cơ hội để tinh gọn tổ chức bộ máy, phân định rõ trách nhiệm và nâng cao hiệu quả phục vụ người dân, doanh nghiệp. Yêu cầu đặt ra là tiếp tục cải cách thủ tục hành chính, đẩy mạnh phân cấp gắn với kiểm soát quyền lực, ứng dụng công nghệ số trong điều hành và xây dựng văn hóa phục vụ trong đội ngũ cán bộ, công chức(4). Chất lượng quản trị sẽ quyết định khả năng huy động nguồn lực xã hội và mức độ hấp dẫn của môi trường đầu tư.
Năm là, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu và bảo đảm phát triển bền vững.
Tỉnh Đồng Tháp là địa phương chịu tác động mạnh của biến đổi khí hậu, hạn hán, xâm nhập mặn và sạt lở. Vì vậy, phát triển nhanh phải đi đôi với phát triển bền vững. Điều này đòi hỏi quy hoạch phát triển phải tích hợp các yêu cầu về thích ứng khí hậu, sử dụng hiệu quả tài nguyên nước, bảo vệ hệ sinh thái và giảm phát thải. Nông nghiệp sinh thái, kinh tế tuần hoàn, năng lượng tái tạo và hạ tầng thích ứng biến đổi khí hậu cần được xem là những thành tố bắt buộc của mô hình phát triển mới, chứ không chỉ là các giải pháp hỗ trợ.
Sáu là, khơi dậy khát vọng phát triển và sức mạnh đại đoàn kết dân tộc.
Mọi chiến lược phát triển cuối cùng đều phải được hiện thực hóa bằng hành động của con người. Tỉnh Đồng Tháp có lợi thế về truyền thống nghĩa tình, tinh thần hợp tác và sự gắn kết cộng đồng. Trong giai đoạn mới, cần tiếp tục phát huy các mô hình Hội quán, hợp tác xã, phong trào khởi nghiệp và các sáng kiến cộng đồng để huy động sức dân vào phát triển.
Khát vọng phát triển không thể chỉ là khẩu hiệu trong văn kiện, mà phải trở thành động lực hành động của cán bộ, doanh nghiệp và người dân. Khi xã hội hình thành niềm tin vào tương lai phát triển của địa phương, nguồn lực đầu tư, đổi mới sáng tạo và tinh thần dám nghĩ, dám làm sẽ được khơi thông mạnh mẽ. Những yêu cầu trên cho thấy, hiện thực hóa khát vọng phát triển của tỉnh Đồng Tháp không phải là nhiệm vụ của riêng chính quyền, mà là quá trình huy động tổng hợp các nguồn lực vật chất, thể chế và tinh thần của toàn xã hội.
5. Kết luận
Tỉnh Đồng Tháp đang đứng trước cơ hội lịch sử để tạo bước phát triển đột phá trong kỷ nguyên mới, trên nền tảng thành quả đổi mới, không gian phát triển mở rộng sau hợp nhất, lợi thế vị trí cửa ngõ Đồng bằng sông Cửu Long và định hướng chiến lược của Đảng bộ tỉnh. Động lực tăng trưởng giai đoạn mới là sự kết hợp giữa hạ tầng và liên kết vùng, nông nghiệp hiện đại, công nghiệp chế biến, logistics, thương mại, du lịch, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, nguồn nhân lực chất lượng cao và thể chế phát triển.
Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững, tỉnh cần đổi mới mô hình tăng trưởng, tháo gỡ điểm nghẽn về hạ tầng và thể chế, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, hiệu lực quản trị nhà nước, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân. Với định hướng đúng đắn, quyết tâm chính trị cao và sự đồng thuận xã hội, tỉnh Đồng Tháp phấn đấu trở thành tỉnh phát triển nhanh, bền vững, thuộc nhóm dẫn đầu vùng Đồng bằng sông Cửu Long vào năm 2030, trở thành trung tâm nông nghiệp hiện đại và du lịch sinh thái của vùng vào năm 2045, đóng góp thiết thực vào khát vọng phát triển đất nước trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc./.
------------------------------------
Ghi chú:
1. Cổng thông tin điện tử Đồng Tháp (2026), truy cập tại trang https://dongthap.gov.vn/, cập nhật ngày 26/6/2026.
2, 3. Tỉnh ủy Đồng Tháp (2025), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Đồng Tháp lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030 (Lưu hành nội bộ).
4. Phạm Ngọc Hòa (2026), Tỉnh Đồng Tháp sau một năm vận hành chính quyền địa phương 02 cấp: Kết quả và giải pháp thực hiện trong bối cảnh mới, Tạp chí Tổ chức nhà nước và Lao động, số 8/2026, tr.41.
-------------------------------------
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Chính trị (2024), Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập I, II, Nxb CTQG-ST.
3. Phạm Ngọc Hòa (2024), Đổi mới và phát triển ở Việt Nam: Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội.
4. Phạm Ngọc Hòa (2025), Tinh gọn tổ chức bộ máy hệ thống chính trị đáp ứng yêu cầu phát triển trong bối cảnh mới, Tạp chí Tổ chức nhà nước và Lao động, số 12/2025.
5. Phạm Ngọc Hòa (2026), Tỉnh Đồng Tháp sau một năm vận hành chính quyền địa phương 02 cấp: Kết quả và giải pháp thực hiện trong bối cảnh mới, Tạp chí Tổ chức nhà nước và Lao động, số 8/2026.
6. Tỉnh ủy Đồng Tháp (2025), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Đồng Tháp lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030 (Lưu hành nội bộ).
7. Tỉnh ủy Đồng Tháp (2025), Chương trình hành động số 14-CTr/TU ngày 30/12/2025 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về lãnh đạo thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế “hai con số” giai đoạn 2026 - 2030 và tiếp tục tăng trưởng nhanh, bền vững đến năm 2045.
8. Tỉnh ủy Đồng Tháp (2026), Báo cáo số 221-BC/TU ngày 03/6/2026 Sơ kết 01 năm vận hành bộ máy của hệ thống chính trị và chính quyền địa phương 02 cấp.
9. Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp (2025), Báo cáo số 297/BC-UBND ngày 26/11/2025 tình hình phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Đồng Tháp năm 2025 và Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026.
10. Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp (2026), Quyết định số 1410/QĐ-UBND ngày 13/5/2026 Phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch tỉnh Đồng Tháp thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
ThS Nguyễn Dương Thanh Thủy - Trường Chính trị tỉnh Đồng Tháp
Tin tức cùng chuyên mục
Bài viết cùng tác giả