Tiếng Việt
Tiếng Việt Tiếng Anh

Đổi mới quản trị nhà nước về an sinh xã hội trong bối cảnh xây dựng nền hành chính chuyên nghiệp, hiện đại

Ngày đăng: 21/10/2026   12:02
Đọc bài viết
Mặc định Cỡ chữ
Tóm tắt: An sinh xã hội là một trong những nền tảng quan trọng bảo đảm ổn định xã hội, phát triển con người và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội. Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách hành chính, chuyển đổi số, tinh gọn tổ chức bộ máy và vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, yêu cầu đổi mới quản trị nhà nước về an sinh xã hội ngày càng trở nên cấp thiết. Bài viết phân tích những kết quả, tồn tại và vấn đề đặt ra trong quản trị nhà nước về an sinh xã hội; đề xuất các nhóm giải pháp nhằm xây dựng hệ thống an sinh xã hội hiện đại, bao trùm, hiệu quả và thích ứng.

Từ khóa: An sinh xã hội; quản trị nhà nước; cải cách hành chính; chuyển đổi số; chính quyền địa phương; chính sách công.

Abstract: Social security is a fundamental pillar of social stability, human development, and the promotion of social progress and equity. As Vietnam accelerates administrative reform and digital transformation, streamlines its state administrative apparatus, and implements the two-tier local government model, the need to reform state governance of social security has become increasingly urgent. This article examines the achievements, existing limitations, and emerging challenges in the state governance of social security. It also proposes key measures to develop a modern, inclusive, effective, and adaptive social security system.

Keywords: Social security; state governance; administrative reform; digital transformation; local government; public policy.

Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách hành chính, chuyển đổi số, tinh gọn tổ chức bộ máy và vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, yêu cầu đổi mới quản trị nhà nước về an sinh xã hội ngày càng trở nên cấp thiết.

1. Đặt vấn đề

An sinh xã hội là một bộ phận cấu thành quan trọng của mô hình phát triển quốc gia. Một hệ thống an sinh xã hội hiệu quả giúp người dân phòng ngừa, giảm thiểu và khắc phục những rủi ro, tạo nền tảng để người dân tham gia thị trường lao động, nâng cao chất lượng cuộc sống và đóng góp vào phát triển kinh tế - xã hội. Trong nền kinh tế chuyển đổi nhanh, những rủi ro về việc làm, thu nhập, già hóa dân số, biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh, thay đổi cơ cấu nghề nghiệp và công nghệ số, đặt ra yêu cầu không chỉ mở rộng chính sách an sinh mà cần đổi mới phương thức quản trị nhà nước theo hướng hiện đại, chủ động trong nhận diện nhu cầu, dự báo rủi ro, sử dụng dữ liệu để hoạch định chính sách, cung cấp dịch vụ thuận tiện và đánh giá kết quả dựa trên mức độ hài lòng, khả năng tiếp cận và tác động đối với đời sống. Yêu cầu này càng rõ nét trong quá trình sắp xếp, tinh gọn tổ chức và xây dựng nền hành chính chuyên nghiệp, hiện đại. Bên cạnh đó, từ ngày 01/7/2025, mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai, đặt ra yêu cầu mới về phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền và tổ chức cung ứng dịch vụ công ở địa phương.

Trong bối cảnh đó, đổi mới quản trị nhà nước về an sinh xã hội không chỉ là yêu cầu của cải cách mà còn là một nội dung quan trọng của quá trình xây dựng nền hành chính phục vụ, chuyên nghiệp, hiện đại, minh bạch và hiệu quả.

2. Thực trạng quản trị nhà nước về an sinh xã hội

2.1. Hệ thống chính sách ngày càng được hoàn thiện

Đại hội XII của Đảng khẳng định, bảo đảm an sinh xã hội là một trong các nhiệm vụ trọng tâm trong thời kỳ mới. Đại hội XIII của Đảng đã đưa ra quan điểm hoàn thiện đồng bộ và thực hiện có hiệu quả chính sách xã hội, chính sách dân tộc, tôn giáo; phát triển thị trường lao động; bảo đảm cơ bản an sinh xã hội, nâng cao phúc lợi xã hội; thực hiện ngày càng tốt hơn chính sách với người có công; mở rộng bảo hiểm xã hội...

Ngày nay, hệ thống an sinh xã hội ngày càng được hoàn thiện, tác động tích cực đến đời sống xã hội, góp phần quan trọng ổn định chính trị - xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Một trong những kết quả nổi bật là hệ thống pháp luật và chính sách an sinh xã hội tiếp tục được hoàn thiện theo hướng mở rộng quyền tiếp cận và tăng cường bảo vệ người dân trước các rủi ro. Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 xác định yêu cầu phát triển hệ thống tổ chức thực hiện bảo hiểm xã hội theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại, minh bạch và hiệu quả; đồng thời ưu tiên phát triển hạ tầng công nghệ, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số và giao dịch điện tử. Đây chính là sự chuyển dịch quan trọng từ tư duy quản lý hành chính thuần túy sang quản trị dựa trên công nghệ và dữ liệu.

Một trong những thành tựu của hệ thống an sinh xã hội ở Việt Nam trong giai đoạn 2023-2025 là sự mở rộng diện bao phủ của các chính sách bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế. Năm 2024 có khoảng 18,3 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội, tương đương khoảng 39% lực lượng lao động trong độ tuổi, đến năm 2025, số người tham gia bảo hiểm xã hội tăng lên 21,53 triệu người. Tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt 93,3% dân số vào năm 2023 và tăng lên khoảng 95,16% dân số vào năm 2025, góp phần quan trọng trong việc nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe của người dân và giảm thiểu gánh nặng chi phí y tế cho các hộ gia đình. Số người được hưởng trợ giúp xã hội thường xuyên tiếp tục được mở rộng, đạt trên 3,5 triệu người vào năm 2025, trong đó khoảng 55% là người cao tuổi. Đây là minh chứng cho sự quan tâm của Đảng, Nhà nước đối với các nhóm yếu thế trong xã hội.

Tỷ lệ thất nghiệp của lực lượng lao động trong độ tuổi duy trì ở mức thấp và giảm dần. Chế độ, chính sách đối với người có công được mở rộng về đối tượng hưởng thụ với mức trợ cấp được nâng lên hàng năm. Nhà nước triển khai nhiều chính sách hỗ trợ giáo dục cho con em hộ nghèo, dân tộc thiểu số, hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Hệ thống giáo dục nghề nghiệp được đổi mới, đáp ứng nhu cầu thị trường lao động và hội nhập quốc tế. Hệ thống thông tin và truyền thông phát triển hiện đại, rộng khắp góp phần rút ngắn khoảng cách và bảo đảm tiếp cận thông tin của Nhân dân giữa các vùng miền...

2.2. Cải cách hành chính tạo chuyển biến trong cung ứng dịch vụ an sinh

Cải cách hành chính đang làm thay đổi phương thức cung cấp dịch vụ công. Việc cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục, đẩy mạnh dịch vụ công trực tuyến, toàn trình, kết nối, liên thông và chia sẻ dữ liệu, sử dụng các nền tảng số đã tạo điều kiện để người dân tiếp cận chính sách thuận tiện hơn. Trong quản trị an sinh xã hội, đây là thay đổi có ý nghĩa đặc biệt. Với hệ thống quản trị dựa trên dữ liệu, mục tiêu hướng tới là cơ quan nhà nước có thể chủ động xác định đối tượng, xác minh thông tin và cung cấp dịch vụ mà không yêu cầu người dân cung cấp những thông tin đã có.

2.3. Phân cấp, phân quyền mở ra không gian mới cho quản trị an sinh

Việc tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp từ ngày 01/7/2025 là một bước thay đổi lớn về tổ chức và phương thức vận hành của chính quyền địa phương, cấp xã được giao thêm nhiều nhiệm vụ, thẩm quyền nhằm giải quyết công việc thuận lợi hơn. Chính phủ cũng đã ban hành nhiều nghị định về phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền để bảo đảm mô hình mới hoạt động thông suốt.

Đối với an sinh xã hội, phân cấp hợp lý có thể tạo ra lợi thế rõ rệt. Chính quyền cơ sở là nơi gần người dân nhất, có điều kiện nhận diện sớm những trường hợp cần hỗ trợ, nắm bắt biến động về việc làm, thu nhập, đời sống và những vấn đề xã hội phát sinh trên địa bàn. Tuy nhiên, phân cấp cần đi cùng với phân bổ nguồn lực, dữ liệu, quy trình và cơ chế kiểm tra, giám sát phù hợp.

2.4. Chuyển đổi số tạo nền tảng cho quản trị an sinh dựa trên dữ liệu

Một trong những thay đổi quan trọng của quản trị nhà nước hiện đại là việc chuyển sang quản trị dựa trên dữ liệu. Đối với an sinh xã hội, dữ liệu về dân cư, lao động, bảo hiểm, việc làm, người hưởng chính sách và các nhóm dễ bị tổn thương tạo nền tảng để cơ quan nhà nước nhận diện chính xác hơn nhu cầu xã hội. Hệ thống quản trị hiện đại có thể tiến tới khả năng chủ động cảnh báo hoặc xác định những trường hợp có nguy cơ rơi vào hoàn cảnh khó khăn.

2.5. Những hạn chế và vấn đề đặt ra

Bên cạnh kết quả đạt được, quản trị nhà nước về an sinh xã hội vẫn đứng trước một số vấn đề.

Thứ nhất, tính liên thông của chính sách chưa đáp ứng mọi yêu cầu thực tiễn; hệ thống dữ liệu và quản lý thông tin về an sinh xã hội chưa thực sự đồng bộ, chất lượng dữ liệu chưa đồng đều; việc chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan chưa liên thông, gây khó khăn cho việc quản lý, giám sát và đánh giá hiệu quả của các chính sách xã hội. An sinh xã hội liên quan đến nhiều lĩnh vực, mỗi lĩnh vực vận hành theo một hệ thống dữ liệu, quy trình riêng, nguy cơ trùng lặp hoặc bỏ sót đối tượng vẫn có thể xảy ra.

Thứ hai, tỷ lệ tham gia bảo hiểm xã hội vẫn còn thấp so với quy mô lực lượng lao động, đặc biệt là trong khu vực lao động phi chính thức.

Thứ ba, khả năng tiếp cận chính sách giữa các nhóm dân cư còn khác nhau giữa các vùng miền. Người dân ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, người cao tuổi, người khuyết tật, lao động phi chính thức, những người hạn chế kỹ năng số còn gặp khó khăn khi tiếp cận các dịch vụ công trực tuyến.

Thứ tư, năng lực quản trị ở cấp cơ sở cần tiếp tục được nâng cao. Khi chính quyền địa phương 2 cấp vận hành, cấp xã đảm nhận nhiều nhiệm vụ hơn, trong đó có những công việc liên quan trực tiếp đến đời sống người dân. Đòi hỏi đội ngũ cán bộ nắm chắc chính sách, có năng lực sử dụng công nghệ, phân tích dữ liệu, giao tiếp với người dân và xử lý các tình huống phát sinh.

Thứ năm, cơ chế đánh giá cần chuyển trọng tâm sang đánh giá theo kết quả. Một chương trình an sinh không chỉ được đánh giá bằng số kinh phí đã chi, số hồ sơ đã giải quyết, số người được hỗ trợ, mà cần xem xét yếu tố người dân có thực sự thoát khỏi khó khăn, khả năng chống chịu trước rủi ro và chất lượng cuộc sống có được cải thiện. Chính sách dân số và phát triển chưa theo kịp những biến động của cơ cấu dân số và thị trường lao động.

3. Các giải pháp đổi mới quản trị nhà nước về an sinh xã hội

3.1. Chuyển mạnh từ quản lý sang quản trị, lấy người dân làm trung tâm

Quản trị an sinh xã hội hiện đại cần lấy người dân làm trung tâm của toàn bộ chu trình chính sách, từ thiết kế, tổ chức thực hiện đến đánh giá kết quả. Thống nhất nhận thức và hành động của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội về vai trò, vị trí của an sinh xã hội trong tổng thể hệ thống chính sách xã hội và chiến lược phát triển đất nước. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong quản lý và cung cấp dịch vụ an sinh xã hội; xây dựng và phát triển cơ sở dữ liệu quốc gia về an sinh xã hội, kết nối với các cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, bảo hiểm và lao động - việc làm.

3.2. Hoàn thiện thể chế theo hướng đồng bộ, đa tầng và linh hoạt

Đại hội XIV của Đảng yêu cầu tiếp tục hoàn thiện hệ thống thể chế và chính sách an sinh xã hội theo hướng đồng bộ, hiện đại và phù hợp với điều kiện phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Việc hoàn thiện thể chế cần bảo đảm tính thống nhất giữa các chính sách liên quan đến bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, trợ giúp xã hội, chính sách việc làm và giảm nghèo bền vững. Đồng thời, cần tiếp tục rà soát, sửa đổi và bổ sung các quy định pháp luật nhằm mở rộng diện bao phủ của hệ thống an sinh xã hội, bảo đảm quyền tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản của mọi người dân, đặc biệt là các nhóm yếu thế và lao động trong khu vực phi chính thức.

Cần tiếp tục rà soát, hoàn thiện hệ thống pháp luật về an sinh xã hội, kết hợp chặt chẽ với các chính sách kinh tế, gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển xã hội công bằng, bảo đảm an sinh xã hội.

Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh là xây dựng hệ thống an sinh xã hội đa tầng, linh hoạt và bền vững, phù hợp với điều kiện phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Hệ thống an sinh xã hội đa tầng bao gồm nhiều trụ cột khác nhau nhằm bảo đảm sự hỗ trợ toàn diện đối với người dân, trong đó các chính sách chủ yếu về bảo hiểm xã hội; bảo hiểm y tế; bảo hiểm thất nghiệp; trợ giúp xã hội; chính sách giảm nghèo; chính sách việc làm, không chỉ giúp mở rộng phạm vi bảo vệ xã hội mà còn tạo ra sự linh hoạt trong việc ứng phó với các rủi ro, đặc biệt trong bối cảnh già hóa dân số, biến động của thị trường lao động và tác động của toàn cầu hóa.

Cùng với đó, cần tăng tính linh hoạt của chính sách để ứng phó với những nhóm rủi ro mới, đặc biệt là rủi ro việc làm trong quá trình tự động hóa, chuyển đổi số và phát triển trí tuệ nhân tạo. Kế hoạch triển khai thực hiện kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại buổi làm việc với Đảng ủy Chính phủ và các cơ quan về tình hình thực hiện chính sách an sinh xã hội, hỗ trợ người yếu thế ban hành kèm theo Quyết định số 1960/QĐ-TTg ngày 09/10/2026 của Thủ tướng Chính phủ đặt mục tiêu đến năm 2030, hình thành cơ bản hệ thống an sinh xã hội đa tầng, bao trùm, số hóa, đảm bảo an sinh tối thiếu cho tất cả người dân. Đến năm 2045, hệ thống phải tiếp cận chuẩn mực của các nước phát triển có thu nhập cao, dịch vụ chất lượng, tài chính bền vững, quản trị minh bạch và khả năng ứng phó nhanh trước các rủi ro.

3.3. Xây dựng hệ thống dữ liệu an sinh xã hội liên thông

Đại hội XIV nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong quản lý chính sách xã hội, xây dựng cơ sở dữ liệu thống nhất về an sinh xã hội và kết nối với các cơ sở dữ liệu quốc gia khác nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, giảm thiểu thủ tục hành chính và tạo điều kiện thuận lợi cho người dân trong việc tiếp cận các dịch vụ an sinh xã hội.

Dữ liệu phải trở thành hạ tầng mềm của quản trị an sinh. Trên nền tảng đó, xây dựng hồ sơ an sinh của người dân, với mục tiêu chuyển sang quản lý “vòng đời an sinh” của người dân.

3.4. Phân cấp gắn với trách nhiệm giải trình, liên kết vùng, tối ưu hóa nguồn lực

Trong mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, cần tiếp tục rà soát, xác định rõ nhiệm vụ, trách nhiệm của cấp tỉnh, cấp xã và sự phối hợp giữa các cấp, đồng thời xác định rõ nguồn lực và trách nhiệm. Phân cấp giúp nâng cao tính chủ động của chính quyền địa phương, góp phần nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện các chính sách an sinh tại cơ sở.

Bên cạnh đó, cần tăng cường liên kết vùng trong an sinh xã hội nhằm phối hợp, chia sẻ nguồn lực và chính sách, phát triển toàn diện, đa tầng hệ thống an sinh xã hội, giúp các địa phương có điều kiện kinh tế khó khăn hơn trong vùng tiếp cận hoặc chia sẻ hạ tầng y tế, giáo dục, thị trường lao động và dịch vụ xã hội chất lượng cao từ các trung tâm lớn; hạn chế tình trạng cục bộ, manh mún, chồng chéo giữa các tỉnh, thành phố; tối ưu hóa chi phí quản lý và thực hiện các chính sách hỗ trợ người yếu thế; gắn kết phát triển kinh tế đi đôi với bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội, thu hẹp khoảng cách thu nhập và mức sống giữa các địa phương trong cùng vùng.

3.5. Xây dựng đội ngũ chuyên nghiệp, đẩy mạnh chuyển đổi số, chủ động phòng ngừa rủi ro

Chú trọng nâng cao năng lực, tăng cường đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, kỹ năng và năng lực số, làm việc với dữ liệu cho đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác an sinh xã hội. Tập trung đào tạo, bồi dưỡng theo vị trí việc làm, gắn đào tạo với yêu cầu thực tế tại cơ sở, giúp định hướng, phổ biến đúng đắn quan điểm, chủ trương của Đảng để người dân hiểu và tự giác tham gia chính sách an sinh xã hội, chủ động phòng, chống thông tin xấu độc. Phát huy tối đa nguồn lực vào các quỹ an sinh xã hội, giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước.

Chuyển đổi số cần thiết kế theo nguyên tắc dễ sử dụng, đơn giản, có thể thực hiện trên nhiều thiết bị, nhiều phương thức tiếp cận. Đối với người cao tuổi, người khuyết tật, người dân vùng khó khăn hoặc những người hạn chế kỹ năng số, cần duy trì các kênh hỗ trợ trực tiếp.

Xây dựng hệ thống an sinh có khả năng dự báo, sử dụng dữ liệu để nhận diện những nhóm có nguy cơ mất việc, giảm thu nhập, rơi vào nghèo đói hoặc gặp khó khăn do thiên tai, dịch bệnh và các biến động kinh tế, nâng cao khả năng chống chịu của cá nhân, gia đình và cộng đồng.

3.6. Đổi mới cơ chế giám sát và đánh giá chính sách

Cần đánh giá hiệu quả an sinh xã hội dựa trên kết quả đầu ra và tác động xã hội, như thời gian giải quyết, mức độ hài lòng của người dân, tỷ lệ tiếp cận chính sách, khả năng duy trì việc làm, mức độ giảm nghèo bền vững và khả năng phục hồi sau cú sốc. Phát huy vai trò giám sát của các tổ chức và cộng đồng dân cư trong quá trình thực hiện các chính sách an sinh xã hội; tạo điều kiện để người dân tham gia giám sát, phản biện và đánh giá hiệu quả việc thực hiện các chính sách. Xử lý nghiêm hành vi trục lợi chính sách, thiếu trách nhiệm; bảo vệ cán bộ cơ sở dám quyết định, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích Nhân dân trong những tình huống cấp thiết.

***

Đổi mới quản trị nhà nước về an sinh xã hội là yêu cầu tất yếu trong quá trình xây dựng nền hành chính hiện đại. Khi các rủi ro xã hội ngày càng đa dạng, cơ cấu dân số thay đổi, thị trường lao động chuyển biến nhanh và công nghệ tác động sâu rộng đến đời sống, phương thức quản lý truyền thống không còn đủ để đáp ứng yêu cầu mới. Đặc biệt, trong điều kiện vận hành chính quyền địa phương 2 cấp, việc đưa chính sách an sinh đến gần người dân hơn cần được xem là một trong những thước đo quan trọng của hiệu quả cải cách hành chính. Đổi mới quản trị an sinh xã hội cần được đặt trong mối quan hệ chặt chẽ với phát triển kinh tế, thị trường lao động, cải cách hành chính và chuyển đổi số. Vấn đề đặt ra trong giai đoạn tới không chỉ là có bao nhiêu chính sách an sinh, mà quan trọng hơn là chính sách đến đúng người, đúng lúc, đúng nhu cầu và tạo ra thay đổi thực chất trong cuộc sống.

Một nền hành chính hiện đại phải hướng tới một hệ thống an sinh trong đó Nhà nước chủ động nhận diện rủi ro, người dân được bảo vệ trước những biến động, chính quyền cơ sở đủ năng lực giải quyết vấn đề, dữ liệu được sử dụng để nâng cao chất lượng quyết định và mọi người dân đều có cơ hội tiếp cận các dịch vụ xã hội thiết yếu. Đổi mới quản trị nhà nước về an sinh xã hội còn là đổi mới cách Nhà nước phục vụ người dân, lấy sự an toàn, cơ hội phát triển và chất lượng cuộc sống của người dân làm thước đo của hiệu lực, hiệu quả quản trị./.

------------------------------

Tài liệu tham khảo:

1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập I). Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.

2. Văn phòng Trung ương Đảng (2026). Thông báo số 159-TB/VPTW ngày 29/8/2026 kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại buổi làm việc với Đảng ủy Chính phủ và các cơ quan về tình hình thực hiện chính sách an sinh xã hội, hỗ trợ người yếu thế.

3. Thủ tướng Chính phủ (2026). Quyết định số 1960/QĐ-TTg ngày 09/10/2026 về việc ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại buổi làm việc với Đảng ủy Chính phủ và các cơ quan về tình hình thực hiện chính sách an sinh xã hội, hỗ trợ người yếu thế.

TS Nguyễn Tiến Hùng, Trưởng Khoa Cơ bản và Ngoại ngữ kinh tế, Học viện Chính sách và Phát triển