Những chuyển biến mang tính nền tảng
Theo báo cáo của Đảng ủy Chính phủ tại Hội nghị sơ kết 1 năm vận hành mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền 3 cấp, qua 01 năm vận hành, mô hình chính quyền mói đã cơ bản đạt được các mục tiêu đề ra trong giai đoạn đầu; bộ máy hành chính nhà nước hoạt động ổn định, thông suốt, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước từng bước được nâng lên, chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp tiếp tục được cải thiện. Kết quả bước đầu khẳng định tính đúng đắn, tầm nhìn chiến lược của chủ trương đổi mới tổ chức bộ máy, đồng thời khẳng định vai trò lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, đứng đầu là đồng chí Tổng Bí thư, tạo nền tảng để tiếp tục hoàn thiện mô hình chính quyền 3 cấp, nâng cao chất lượng quản trị quốc gia và đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Nổi bật là các kết quả sau:
1. Tthiết lập cơ chế chỉ đạo, điều hành tập trung, thống nhất; hoàn thiện thể chế, tạo cơ sở để bộ máy hành chính nhà nước vận hành thông suốt
Một trong những thành công lớn nhất là đã cơ bản hoàn thiện thể chế để mô hình mới vận hành. Ngay từ đầu, Chính phủ đã chỉ đạo một cuộc tổng rà soát văn bản quy phạm pháp luật lớn chưa từng có, với 5.076 văn bản được đưa ra phân tích, mổ xẻ để xác định những nội dung không còn phù hợp. Kết quả, Quốc hội đã thông qua 116 luật, nghị quyết; Chính phủ ban hành 467 nghị định, tạo ra một khung khổ pháp lý vững chắc, xóa bỏ các rào cản, xung đột, chồng chéo giữa các quy định cũ. Nhờ đó, bộ máy hành chính nhà nước từ Trung ương đến cơ sở được duy trì hoạt động ổn định, thông suốt, không để xảy ra khoảng trống pháp lý, khoảng trống quản lý hoặc gián đoạn trong giải quyết công việc của người dân, doanh nghiệp, qua đó khẳng định năng lực chỉ đạo, điều hành của Chính phủ và khả năng thích ứng của hệ thống hành chính nhà nước trước yêu cầu cải cách sâu rộng.

2. Phân cấp, phân quyền mạnh mẽ - Khơi thông nguồn lực tại cơ sở
Triết lý cốt lõi của cải cách là đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, và thực tiễn đã chứng minh điều này. Tổng cộng 1.461 nhiệm vụ cụ thể đã được phân cấp, trong đó 1.382 nhiệm vụ thuộc thẩm quyền cấp tỉnh và 79 nhiệm vụ cho cấp xã. Đặc biệt, 859 trên tổng số 1.164 nhiệm vụ quản lý nhà nước của cấp huyện cũ (chiếm 73,8%) đã được chuyển giao hoàn toàn về cho cấp xã. Mỗi đơn vị cấp xã hiện nay đảm nhận trung bình 938 nhiệm vụ, thực sự trở thành một cấp chính quyền toàn diện, là trung tâm giải quyết mọi vấn đề của người dân và doanh nghiệp tại cơ sở. Cùng với việc chuyển giao thẩm quyền, Chính phủ và các bộ, ngành đã tập trung hướng dẫn, tập huấn, hỗ trợ địa phương hoàn thiện tổ chức bộ máy, chuẩn hóa quy trình nghiệp vụ và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức. Thông qua quá trình thực hiện nhiệm vụ theo thẩm quyền mới, năng lực quản lý, điều hành và tổ chức thực thi của chính quyền địa phương từng bước được nâng lên; đội ngũ cán bộ, công chức ngày càng chủ động hơn trong giải quyết công việc, đáp ứng tốt hơn yêu cầu quản trị địa phương trong điều kiện mới.
3. Cải cách thủ tục hành chính và chuyển đổi số đi vào thực chất
Mô hình chính quyền 3 cấp đã tạo ra một cú hích mạnh mẽ cho cải cách thủ tục hành chính (TTHC) và chuyển đổi số. Việc loại bỏ một cấp trung gian đã tự động xóa bỏ nhiều thủ tục rườm rà. Toàn hệ thống đã cắt giảm và đơn giản hóa 3.486 TTHC, ước tính tiết kiệm cho xã hội hơn 23 nghìn tỷ đồng mỗi năm. Tỷ lệ hồ sơ TTHC nộp trực tuyến đạt 91,74%, và hơn 95% hồ sơ được giải quyết đúng hoặc sớm hơn thời hạn quy định.
Quan trọng hơn, thái độ phục vụ đã có sự chuyển biến căn bản. Kết quả khảo sát cho thấy mức độ hài lòng của người dân đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính đạt 83,08%, và có đến 89,09% người dân được hỏi khẳng định không còn tình trạng công chức gây phiền hà, sách nhiễu. Hạ tầng số được đầu tư mạnh mẽ, với sóng di động băng rộng đã phủ đến 99,56% thôn, bản, và mạng 5G phủ sóng 91,9% dân số. Cổng Dịch vụ công quốc gia đã trở thành một “siêu thị dịch vụ” với 3.745 thủ tục được cung cấp trực tuyến.
4. Tạo động lực cho tăng trưởng kinh tế - xã hội
Sự vận hành hiệu quả của bộ máy hành chính mới đã giải phóng các nguồn lực cho phát triển. Năm 2025, tăng trưởng GDP của Việt Nam đạt mức ấn tượng 8,02%, đưa quy mô nền kinh tế lên 514 tỷ USD. Lần đầu tiên, GDP bình quân đầu người vượt ngưỡng 5.026 USD, giúp Việt Nam chính thức bước vào nhóm các nước có thu nhập trung bình cao. Song song đó, Chính phủ đã thể hiện trách nhiệm cao khi bổ sung ngân sách 115.952 tỷ đồng để giải quyết đầy đủ, kịp thời các chế độ, chính sách cho 143.772 cán bộ, công chức dôi dư sau sắp xếp. Nguồn lực tài chính dôi dư từ việc tinh gọn bộ máy và tiết kiệm chi thường xuyên được chuyển hướng đầu tư trực tiếp cho an sinh xã hội, y tế, giáo dục tại cơ sở. Nhà nước đã kịp thời bổ sung 115.952 tỷ đồng để chi trả chính sách cho 143.772 cán bộ dôi dư do sắp xếp, củng cố niềm tin vững chắc của Nhân dân vào sự điều hành của Đảng và Chính phủ.
Những khó khăn, thách thức từ thực tiễn: Nhận diện thẳng thắn để vượt qua
Bên cạnh những thành quả ấn tượng, mô hình mới cũng bộc lộ những khó khăn, vướng mắc tất yếu và đã được nhận diện từ sớm trong quá trình chuẩn bị, triển khai. Qua tổng kết thực tiễn, nổi lên 5 nhóm vấn đề cần tập trung giải quyết trong thời gian tới:
Thứ nhất, về công tác hoàn thiện thể chế, bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất cho vận hành chính quyền 03 cấp.
Mặc dù hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ban hành thời gian qua đã tạo hành lang pháp lý tạm thời cho bộ máy mới vận hành, nhưng tốc độ luật hóa các quy định chuyên ngành còn chậm so với yêu cầu thực tiễn. Theo kết quả rà soát đến tháng 5/2026, toàn hệ thống còn khoảng 550 văn bản quy phạm pháp luật cần các bộ, ngành, địa phương tiếp tục đề xuất sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới. Trong đó bao gồm: 80 luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội; 203 văn bản thuộc thẩm quyền của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; và 267 văn bản thuộc thẩm quyền của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ. Đặc biệt, có 129 văn bản liên quan trực tiếp đến việc vận hành chính quyền 3 cấp phải tập trung rà soát và sửa đổi để bảo đảm có hiệu lực trước ngày 01/3/2027; 21 văn bản trong số đó phải khẩn trương sửa đổi để khắc phục ngay các vướng mắc, bất cập trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của chính quyền 03 cấp.
Thứ hai, thách thức về năng lực đội ngũ cán bộ cơ sở.
Sau khi chuyển đổi mô hình chính quyền 04 cấp sang 03 cấp, áp lực công việc tại cấp xã tăng lên rất lớn do quy mô diện tích và dân số mở rộng sau sáp nhập, nhưng năng lực cán bộ chưa đáp ứng đồng đều. Qua rà soát, đánh giá thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức ở cấp xã hiện nay cho thấy, đội ngũ được hình thành từ nhiều nguồn (cán bộ, công chức cấp tỉnh, cấp huyện cũ, cấp xã cũ, viên chức, người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã), có trình độ, năng lực, kỹ năng thực thi nhiệm vụ không đồng đều, số đông vẫn từ nguồn cán bộ, công chức cấp xã cũ (tỷ lệ 68,8%) nên chưa đáp ứng yêu cầu về chuyên môn, nghiệp vụ theo vị trí việc làm. Số cán bộ, công chức bố trí từ cấp tỉnh và cấp huyện cũ chiếm khoảng 30%, trong đó đa số cán bộ lãnh đạo các cơ quan chuyên môn của tỉnh và lãnh đạo của cấp huyện cũ bố trí làm lãnh đạo chủ chốt cấp xã mới. Nhiều cấp xã thiếu hụt chuyên viên có trình độ chuyên môn sâu trong các lĩnh vực đất đai, xây dựng, tài chính, tư pháp và công nghệ thông tin. Có tình trạng nêu trên là do việc điều động cán bộ thời gian đầu sau sáp nhập còn mang tính chất cơ học, xếp chỗ ổn định tổ chức tạm thời. Các chương trình đào tạo, bồi dưỡng ngắn hạn tuy được triển khai với quy mô lớn nhưng chưa thể bù đắp 7 ngay được khoảng trống về kỹ năng xử lý hồ sơ chuyên sâu trên môi trường điện tử cho cán bộ cơ sở.
Thứ ba, việc xử lý, giải quyết tài sản công dôi dư còn chậm, gây lãng phí nguồn lực.
Đến cuối tháng 5/2026, trên phạm vi cả nước vẫn còn hơn 11.000 cơ sở nhà, đất dôi dư sau sắp xếp chưa được đưa vào khai thác hiệu quả hoặc chưa được phê duyệt phương án xử lý. Nhiều trụ sở bỏ trống không sử dụng, trong khi địa phương vẫn phải cắt cử người trông coi, phát sinh chi phí duy tu, bảo dưỡng. Nguyên nhân là do hệ thống quy định về tiêu chuẩn, định mức và quy trình xử lý tài sản công rất phức tạp, liên quan liên thông qua nhiều bước từ quy hoạch, đất đai, đầu tư, đấu giá tài sản nên thời gian kéo dài. Nhiều cơ sở nằm ở vùng sâu, vùng xa, quy mô nhỏ, thiếu hồ sơ pháp lý hoàn chỉnh nên khó thu hút xã hội hóa đầu tư.
Thứ tư, hạ tầng số và dữ liệu chưa hình thành nền tảng thống nhất.
Sự chênh lệch về năng lực công nghệ giữa các vùng miền còn lớn. Toàn quốc hiện vẫn còn 435 thôn bản chưa được phủ sóng viễn thông đầy đủ. Cổng Dịch vụ công quốc gia tại Trung tâm Dữ liệu quốc gia và Hệ thống điều phối thủ tục hành chính vẫn đang trong quá trình hoàn thiện, chưa đồng bộ dòng dữ liệu liên thông theo thời gian thực. Các bộ, ngành chưa tập trung nguồn lực triệt để để thiết kế lại, nâng cấp các phần mềm chuyên ngành theo luồng xử lý của mô hình chính quyền mới. Qua rà soát khoảng 18.500 cơ quan, đơn vị trong toàn hệ thống chính trị cho thấy khoảng 29,9% máy tính chưa đáp ứng yêu cầu tối thiểu; khoảng 26,4% thiết bị đầu cuối chưa đáp ứng yêu cầu cấu hình; vẫn còn tồn tại một số lượng tình trạng máy tính sử dụng phần mềm không có bản quyền (27% số máy dùng hệ điều hành không có bản quyền, 30,4% số máy tính dùng phần mềm văn phòng không có bản quyền). Ngoài ra khoảng 54% máy tính chưa cài đặt chữ ký số, điều này cho thấy vẫn còn một số lượng lớn cán bộ chưa sử dụng chữ ký số, từ đó hoạt động chuyển đổi số nội bộ chưa thực hiện trực tuyến toàn trình. Dữ liệu nền tảng và dữ liệu chuyên ngành chưa thực sự liên thông "đúng, đủ, sạch, sống".
Thứ năm, bất cập về quy mô đơn vị hành chính cấp xã sau sắp xếp.
Đến nay, vẫn còn 705/3.321 đơn vị hành chính cấp xã (21,23%) chưa đạt tiêu chuẩn theo quy định, chủ yếu chưa bảo đảm tiêu chuẩn về diện tích tự nhiên. Điều này làm phân tán nguồn lực, gia tăng chi phí quản lý và chưa phát huy được lợi thế quy mô trong tổ chức cung ứng dịch vụ công và phát triển kinh tế - xã hội. Bên cạnh đó, tại một số địa phương, ranh giới đơn vị hành chính sau sắp xếp chưa thực sự phù hợp với không gian phát triển, còn chia cắt các khu vực đô thị, khu 8 công nghiệp, khu kinh tế, vùng du lịch và các khu vực có tính liên kết cao; hạ tầng liên kết vùng, liên đô thị chưa đồng bộ, ảnh hưởng đến công tác quy hoạch, thu hút đầu tư và phát triển đô thị. Việc sáp nhập một số thị trấn vào xã nông thôn cũng đặt ra yêu cầu tiếp tục rà soát, đầu tư và chuyển đổi các khu vực đủ điều kiện thành đơn vị hành chính đô thị (phường), đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.
Sau một năm vận hành mô hình chính quyền 3 cấp, những kết quả đạt được là rất đáng trân trọng, là minh chứng cho một chủ trương đúng đắn và quyết tâm cao độ. Với việc tiếp tục phát huy thành quả, đối mặt và giải quyết hiệu quả các thách thức, chúng ta hoàn toàn có cơ sở để tin tưởng rằng nền hành chính Việt Nam sẽ có những bước tiến vượt bậc, trở thành một động lực mạnh mẽ, một bệ đỡ vững chắc để hiện thực hóa khát vọng xây dựng một đất nước phồn vinh, hùng cường vào năm 2045.
Đức Dương
Tin tức cùng chuyên mục
Bài viết cùng tác giả