Tiếng Việt
Tiếng Việt Tiếng Anh

Lào Cai: Tạo động lực mới cho phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2030

Ngày đăng: 29/09/2026   21:47
Đọc bài viết
Mặc định Cỡ chữ
Với mục tiêu phát triển nhanh, toàn diện, bền vững, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng, các dân tộc và nâng cao đời sống Nhân dân, Lào Cai xác định giai đoạn 2026-2030 là thời kỳ tiếp tục tạo chuyển biến mạnh mẽ trong phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Trọng tâm được đặt vào phát triển sinh kế, giảm nghèo bền vững, hoàn thiện hạ tầng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, bảo tồn văn hóa, chuyển đổi số và nâng cao hiệu lực tổ chức thực hiện chính sách.


Lào Cai tập trung phát triển kinh tế hàng hóa, chuỗi giá trị và nâng thu nhập cho đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Hướng tới phát triển nhanh, toàn diện và bền vững

Lào Cai là địa bàn có nhiều xã, thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, với địa hình phức tạp, điều kiện phát triển giữa các khu vực còn chênh lệch. Trong những năm qua, các chương trình, chính sách dân tộc và Chương trình mục tiêu quốc gia đã góp phần cải thiện kết cấu hạ tầng, hỗ trợ sinh kế, giảm nghèo và nâng cao khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản của người dân.

Bước vào giai đoạn 2026-2030, yêu cầu đặt ra không chỉ là tiếp tục đầu tư cho những địa bàn còn khó khăn, mà quan trọng hơn là tạo ra năng lực phát triển mới để người dân và cộng đồng có thể chủ động tham gia vào quá trình phát triển.

Theo Kế hoạch triển khai thực hiện Chiến lược công tác dân tộc giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045 của UBND tỉnh Lào Cai, mục tiêu tổng quát được tỉnh xác định là phát triển nhanh, toàn diện, bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; từng bước thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng, các dân tộc; nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân; bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa; xây dựng hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh, giữ vững quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội.

Về mục tiêu cụ thể, một trong những chỉ tiêu đáng chú ý là Lào Cai đặt mục tiêu nâng mức thu nhập bình quân của người dân tộc thiểu số lên 60 triệu đồng/người/năm vào năm 2030, cao hơn đáng kể so với mục tiêu 40 triệu đồng/người/năm năm 2026.

Cùng với đó, tốc độ tăng tổng sản phẩm trên địa bàn phấn đấu đạt trên 10%; tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào DTTS theo chuẩn đa chiều giảm bình quân 3-3,5 điểm phần trăm/năm. Tỷ lệ lao động DTTS trong độ tuổi được đào tạo nghề phù hợp với nhu cầu và có thu nhập ổn định đạt từ 35-40% trở lên, trong đó ít nhất 50% là lao động nữ.

Mục tiêu phát triển sinh kế cũng được thể hiện qua việc nâng tỷ lệ hộ nông dân người DTTS làm kinh tế nông - lâm nghiệp hàng hóa lên 55%; chuyển dịch 8% lao động nông thôn vùng DTTS&MN hằng năm sang các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, du lịch và dịch vụ.

Bên cạnh đó, Lào Cai đặt mục tiêu hoàn thiện các điều kiện sống cơ bản. Đến năm 2030, 100% hộ dân được sử dụng điện lưới quốc gia hoặc nguồn điện phù hợp, 100% hộ đồng bào DTTS được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh; 100% trường, lớp học và trạm y tế được xây dựng kiên cố. Tỷ lệ xã vùng DTTS&MN đạt chuẩn nông thôn mới phấn đấu trên 60%, 98% thôn có đường ô tô đến trung tâm được cứng hóa.
Trong giáo dục, mục tiêu đến năm 2030 là tỷ lệ trẻ em DTTS 3-4 tuổi đến trường đạt 99,5%; trẻ trong độ tuổi tiểu học đến trường đạt 100%; học sinh THCS đến trường đạt 99,99%; học sinh THPT trên 80%; tỷ lệ người DTTS từ 15-60 tuổi biết chữ mức độ 1 trên 98%.

Trong lĩnh vực y tế, tỉnh phấn đấu tỷ lệ đồng bào DTTS tham gia bảo hiểm y tế trên 100%; trên 90% phụ nữ DTTS mang thai được khám thai ít nhất 4 lần; 95% phụ nữ sinh con tại cơ sở y tế hoặc có sự trợ giúp của nhân viên y tế; tỷ lệ trẻ em DTTS suy dinh dưỡng thể nhẹ cân giảm xuống dưới 11,5%.

Phát triển kinh tế - xã hội dựa trên lợi thế địa phương

Để biến các mục tiêu về thu nhập thành kết quả thực tế, Lào Cai xác định phát triển kinh tế nông - lâm nghiệp theo hướng hàng hóa là một trong những giải pháp trọng tâm. Thay vì sản xuất nhỏ lẻ, phân tán, tỉnh hướng tới hình thành các vùng sản xuất tập trung, ứng dụng khoa học và công nghệ, gắn sản xuất với chế biến, tiêu thụ và xây dựng thương hiệu.

Cách tiếp cận này đặc biệt có ý nghĩa đối với các địa bàn miền núi, nơi đất sản xuất hạn chế nhưng có nhiều sản phẩm đặc trưng, tài nguyên bản địa và lợi thế về khí hậu, cảnh quan. Khi được tổ chức lại theo chuỗi giá trị, các sản phẩm nông - lâm nghiệp có thể tạo giá trị gia tăng cao hơn, đồng thời mở rộng cơ hội việc làm tại chỗ.

Cùng với sản xuất nông - lâm nghiệp, Lào Cai chủ trương phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã, doanh nghiệp; khuyến khích khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo trong vùng đồng bào DTTS. Công nghiệp chế biến, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, du lịch và kinh tế biên mậu được xác định là những lĩnh vực cần thúc đẩy để tạo thêm việc làm và đa dạng hóa sinh kế.

Cùng với đó, hạ tầng tiếp tục là một trong những "điểm tựa" quan trọng để vùng DTTS&MN phát triển. Lào Cai xác định ưu tiên hoàn thiện giao thông, điện, nước sinh hoạt, thủy lợi, viễn thông và hạ tầng số; đồng thời tăng cường đầu tư trường học, cơ sở y tế và thiết chế văn hóa.

Tuy nhiên, trong giai đoạn mới, đầu tư hạ tầng cần chuyển mạnh từ tư duy "có công trình" sang "công trình tạo ra giá trị". Đường giao thông phải mở ra khả năng lưu thông hàng hóa; hạ tầng số phải hỗ trợ người dân tiếp cận thị trường; công trình thủy lợi phải phục vụ chuyển đổi sản xuất; trường học và trạm y tế phải thực sự nâng chất lượng dịch vụ.

Việc Chính phủ triển khai Chương trình MTQG theo hướng tích hợp từ năm 2026 được kỳ vọng góp phần giảm chồng chéo về địa bàn, đối tượng và nguồn lực, đồng thời tạo điều kiện để địa phương chủ động hơn trong lựa chọn nội dung đầu tư phù hợp với nhu cầu thực tế.

Về giáo dục, y tế và nguồn nhân lực, Lào Cai đặt mục tiêu đồng thời nâng chất lượng giáo dục phổ thông, duy trì phổ cập, xóa mù chữ và phát triển hệ thống trường dân tộc nội trú, bán trú phù hợp với điều kiện địa bàn.

Đào tạo nghề được định hướng gắn với nhu cầu thị trường lao động; qua đó tạo sự chuyển tiếp rõ hơn từ đào tạo - kỹ năng - việc làm - thu nhập. Cùng với đào tạo nghề cho người dân, tỉnh chú trọng đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là cán bộ, công chức, viên chức người DTTS và xây dựng nguồn cán bộ tại chỗ.

Đến năm 2030, Lào Cai đặt mục tiêu 100% cán bộ, công chức cấp xã đạt chuẩn trình độ chuyên môn, ngoại ngữ, tin học theo vị trí việc làm và có trình độ đại học trở lên; 95% có trình độ trung cấp lý luận chính trị và 95% trở lên được bồi dưỡng kiến thức dân tộc.

Về bảo tồn văn hóa gắn với phát triển du lịch, tỉnh xác định tiếp tục bảo tồn tiếng nói, chữ viết, phong tục, tập quán và các giá trị văn hóa truyền thống; đồng thời phát triển thiết chế văn hóa cơ sở và xây dựng những sản phẩm du lịch đặc trưng.

Đến năm 2030, tỉnh phấn đấu 100% thôn có nhà sinh hoạt cộng đồng và 100% thôn có đội văn hóa, văn nghệ hoặc câu lạc bộ truyền thống hoạt động thường xuyên. Chỉ số hạnh phúc của người dân được đặt mục tiêu đạt 72%.

Đây là hướng phát triển có khả năng tạo sự gắn kết giữa kinh tế và văn hóa: người dân vừa là chủ thể bảo tồn, vừa có thể tham gia cung cấp dịch vụ du lịch, giới thiệu sản phẩm địa phương và tạo sinh kế từ chính những giá trị bản địa.

Chuyển đổi số và đổi mới phương thức tổ chức thực hiện

Một trong những điểm nhấn đáng chú ý trong định hướng của Lào Cai là tăng cường khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Tỉnh xác định xây dựng cơ sở dữ liệu về công tác dân tộc, ứng dụng công nghệ trong quản lý, điều hành và hỗ trợ người dân, hợp tác xã, doanh nghiệp.

Sở Khoa học và Công nghệ được giao chủ trì các chương trình ứng dụng khoa học - công nghệ, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, hỗ trợ khởi nghiệp gắn với sản phẩm đặc thù và tài nguyên bản địa; đồng thời thúc đẩy chuyển đổi số cấp xã, ứng dụng công nghệ số trong sản xuất, kinh doanh và quản lý.

Đây sẽ là giải pháp quan trọng để khắc phục hạn chế về khoảng cách địa lý. Khi hạ tầng số được cải thiện, người dân vùng cao có thêm khả năng tiếp cận thông tin thị trường, thương mại điện tử, dịch vụ công, giáo dục và y tế từ xa.

Một yêu cầu xuyên suốt trong kế hoạch của Lào Cai là đổi mới phương thức tổ chức thực hiện. Tỉnh nhấn mạnh phân cấp, phân quyền gắn với kiểm tra, giám sát; xác định rõ trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị, địa phương; ưu tiên nguồn lực cho địa bàn đặc biệt khó khăn và nhóm dân tộc còn nhiều khó khăn.

Nguồn lực thực hiện không chỉ từ ngân sách Trung ương, ngân sách địa phương và các chương trình mục tiêu quốc gia, mà còn được huy động từ doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân và các nguồn vốn hợp pháp khác. Tỉnh đồng thời đặt yêu cầu sử dụng nguồn lực công khai, minh bạch, đúng mục tiêu, đúng đối tượng và hiệu quả.

Quan trọng hơn, người dân, cộng đồng và doanh nghiệp được xác định là những chủ thể tham gia vào quá trình phát triển. Điều này giúp chính sách chuyển từ "hỗ trợ cho người dân" sang "tạo điều kiện để người dân cùng tham gia và hưởng lợi từ phát triển".

Đối với cấp xã, UBND các xã, phường được yêu cầu chủ động xây dựng kế hoạch phù hợp với điều kiện thực tế, lồng ghép các chương trình, dự án, huy động nguồn lực tại chỗ và phát huy vai trò của Nhân dân.

Giai đoạn 2026-2030 mở ra yêu cầu mới đối với công tác dân tộc ở Lào Cai: không chỉ hoàn thành các chỉ tiêu về đầu tư và hỗ trợ, mà phải tạo được sự thay đổi thực chất về năng lực phát triển của vùng đồng bào DTTS&MN.

Để đạt mục tiêu thu nhập bình quân 60 triệu đồng/người/năm, giảm nghèo 3-3,5 điểm phần trăm mỗi năm, trên 60% xã đạt chuẩn nông thôn mới và 100% hộ được sử dụng điện, nước hợp vệ sinh vào năm 2030, các chính sách cần được triển khai đồng bộ, có trọng tâm và gắn chặt với điều kiện từng địa bàn.

Trong đó, phát triển sản xuất hàng hóa, tạo việc làm và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cần được coi là "trục chính"; hạ tầng, chuyển đổi số và dịch vụ xã hội là nền tảng; văn hóa, môi trường và quốc phòng, an ninh là những yếu tố bảo đảm cho phát triển bền vững.

Với định hướng phát triển nhanh, toàn diện và bền vững, Lào Cai đang đặt vùng đồng bào DTTS&MN vào một vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển chung của tỉnh. Nếu các nguồn lực được tập trung đúng địa bàn, các chính sách được tổ chức thực hiện linh hoạt và người dân thực sự trở thành chủ thể, những mục tiêu đến năm 2030 sẽ không chỉ là những con số trong kế hoạch, mà có thể chuyển hóa thành những thay đổi cụ thể về sinh kế, thu nhập, chất lượng dịch vụ và đời sống của đồng bào các dân tộc./.

Thanh Nhung

Bài viết cùng tác giả