![]()
1. Đánh giá chung về tình hình, kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội tháng 9 và 09 tháng năm 2026, Nghị quyết số 312/NQ-CP năm 2026 về Phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 9/2026 và Hội nghị trực tuyến Chính phủ với địa phương nhấn mạnh: Kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, lạm phát được kiểm soát, duy trì đà tăng trưởng cao, các động lực truyền thống được phát huy, nhiều điểm nghẽn được khơi thông, các động lực mới bước đầu được tập trung thúc đẩy gắn với chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao năng suất, chất lượng, sức cạnh tranh của nền kinh tế, tạo nền tảng cho đổi mới mô hình phát triển, các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm. Tăng trưởng kinh tế (GDP) quý III ước tăng 9,95% so với cùng kỳ, tính chung 09 tháng tăng 9,01%... Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân 09 tháng tăng 4,52% so với cùng kỳ. Thị trường tiền tệ, tỷ giá cơ bản ổn định, bảo đảm thanh khoản hệ thống các tổ chức tín dụng, đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế. Thu ngân sách nhà nước 09 tháng đạt 2,19 triệu tỷ đồng, bằng 86,5% dự toán, tăng 12,1% so với cùng kỳ trong khi đã miễn, giảm, gia hạn thuế, phí... khoảng 245,6 nghìn tỷ đồng; đáp ứng nhiệm vụ chi phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, chế độ, chính sách theo quy định. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tháng 9 đạt gần 117,7 tỷ đô la Mỹ (USD), tăng 7,3% so với tháng trước, 09 tháng đạt 888 tỷ USD, tăng 30,4% so với cùng kỳ; tháng 9 đổi chiều xuất siêu 1,27 tỷ USD sau nhiều tháng nhập siêu. Thị trường chứng khoán Việt Nam chính thức được nâng hạng lên thị trường mới nổi thứ cấp. Giải ngân vốn đầu tư công có nhiều chuyển biến; đến hết tháng 9 ước đạt gần 643 nghìn tỷ đồng, đạt 63% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao, cao hơn so với cùng kỳ khoảng 13% về tỷ lệ và 202,6 nghìn tỷ đồng về số tuyệt đối (https://thuvienphapluat.vn/van-ban/bo-may-hanh-chinh/Nghi-quyet-312-NQ-CP-2026-Hoi-nghi-truc-tuyen-Chinh-phu-voi-dia-phuong-728239.aspx).
Chính phủ nhận định các lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế đạt kết quả tích cực, thể hiện qua Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 9 tăng 16,65% so với cùng kỳ, cao nhất từ năm 2015 đến nay, tính chung 09 tháng tăng 12,3%, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,9%; Chỉ số Nhà quản trị mua hàng (PMI) tháng 9 đạt 51,9 điểm; Tập trung đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng chiến lược đồng bộ, hiện đại; hoàn thành thêm 395 km đường bộ cao tốc, đưa vào khai thác toàn tuyến cao tốc Bắc - Nam phía Đông, khởi công đồng loạt 5 tuyến đường sắt đô thị, đóng điện 116 công trình lưới điện 110 - 500kV... Triển khai sản xuất xăng sinh học, duy trì giá xăng dầu ở mức thấp so với khu vực; không tăng giá điện; an ninh năng lượng được giữ vững. Quyết liệt tháo gỡ các dự án tồn đọng kéo dài; từ tháng 4 đến tháng 9 năm 2026 đã hoàn thành tháo gỡ thêm 2.535 dự án với tổng diện tích đất là 86,6 nghìn ha, tổng mức đầu tư trên 1,69 triệu tỷ đồng, nâng tổng số dự án được tháo gỡ lên 3.557 dự án; có 855 dự án đưa vào khai thác, sử dụng với tổng diện tích đất là 19,35 nghìn ha, tổng mức đầu tư 322,8 nghìn tỷ đồng; Quốc hội đã ban hành Nghị quyết tháo gỡ khó khăn, vướng mắc các dự án điện năng lượng tái tạo; cơ bản hoàn thành điều chỉnh quy hoạch vùng, quy hoạch sử dụng đất quốc gia... (https://thuvienphapluat.vn/van-ban/bo-may-hanh-chinh/Nghi-quyet-312-NQ-CP-2026-Hoi-nghi-truc-tuyen-Chinh-phu-voi-dia-phuong-728239.aspx).
Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,02%, bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu; kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản ước đạt 56,3 tỷ USD, tăng 7,8% so với cùng kỳ; xuất siêu 16,9 tỷ USD, tăng 7,4%. Khu vực dịch vụ tăng khá; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 9 tăng 14,1% so với cùng kỳ, 09 tháng tăng 13,4%; khách quốc tế 09 tháng đạt 17,7 triệu lượt người, tăng 14,5% so với cùng kỳ, cao nhất từ trước đến nay. Trong tháng 9, số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và quay trở lại hoạt động là 20,3 nghìn, tính chung 09 tháng là 224 nghìn doanh nghiệp, cao hơn số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội quý III/2026 ước đạt 1,3 triệu tỷ đồng, tăng 16,7% so với cùng kỳ, 09 tháng đạt 3,11 triệu tỷ đồng, tăng 15,1%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đăng ký 09 tháng đạt trên 50,36 tỷ USD, tăng 76,4%, vốn FDI thực hiện đạt 21,07 tỷ USD, tăng 12,1% so với cùng kỳ (https://thuvienphapluat.vn/van-ban/bo-may-hanh-chinh/Nghi-quyet-312-NQ-CP-2026-Hoi-nghi-truc-tuyen-Chinh-phu-voi-dia-phuong-728239.aspx).
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý III và chín tháng năm 2026 (Báo cáo số 354/BC-CTK ngày 03/10/2026) của Cục Thống kê cho biết: trong chín tháng năm 2026, kinh tế thế giới tiếp tục đối mặt với nhiều yếu tố bất định, diễn biến nhanh và khó dự báo. Xung đột quân sự kéo dài tại Nga - Ucraina và Trung Đông, cạnh tranh chiến lược gia tăng, chủ nghĩa bảo hộ và các biện pháp điều chỉnh chính sách thương mại, tiền tệ của các nền kinh tế lớn đã tác động lớn đến chuỗi cung ứng, nguồn cung năng lượng, giá nguyên, nhiên, vật liệu, chi phí vận tải và thương mại quốc tế. Áp lực lạm phát gia tăng trở lại, trong khi nợ công toàn cầu tăng cao. Thiên tai, biến đổi khí hậu, thời tiết cực đoan diễn biến phức tạp tại nhiều khu vực, gây thiệt hại nghiêm trọng về người và tài sản. An ninh năng lượng, an ninh lương thực, an ninh mạng tiếp tục đặt ra nhiều thách thức. Tuy nhiên, làn sóng đầu tư vào hạ tầng trí tuệ nhân tạo (AI), công nghệ bán dẫn diễn ra mạnh mẽ, tạo động lực hỗ trợ tăng trưởng kinh tế toàn cầu.
Báo cáo số 354/BC-CTK ngày 03/10/2026 nêu rõ: trong bối cảnh đó, các tổ chức quốc tế có những điều chỉnh khác nhau về triển vọng tăng trưởng kinh tế thế giới năm 2026. Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD)1, Liên hợp quốc (UN)2 điều chỉnh dự báo tăng trưởng kinh tế thế giới cao hơn so với dự báo đưa ra trước đó với mức tăng 0,1 điểm phần trăm nhưng đều thấp hơn nhiều so với năm 2025. Cụ thể, OECD dự báo tăng trưởng kinh tế thế giới năm 2026 đạt 2,9% (thấp hơn 0,5 điểm phần trăm so với năm 2025), UN dự báo đạt 2,6% (thấp hơn 0,3 điểm phần trăm). Riêng Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF)3 điều chỉnh dự báo tăng trưởng kinh tế thế giới năm 2026 thấp hơn 0,1 điểm phần trăm, đạt 3,0%, là mức cao nhất trong số các tổ chức quốc tế nêu trên nhưng vẫn thấp hơn mức tăng của năm 2025 0,5 điểm phần trăm. Đối với khu vực Đông Nam Á4, các tổ chức quốc tế đưa ra những đánh giá khác nhau về tăng trưởng kinh tế năm 2026 của từng nền kinh tế, trong đó Việt Nam được dự báo có tốc độ tăng trưởng cao nhất. Theo đó, tăng trưởng năm 2026 của Việt Nam được dự báo trong khoảng từ 7,5-8,2%5; Inđônêxia từ 5,0-5,2%; Malaixia từ 4,7-4,9%; Philipin từ 3,3-4,1%; Singapore từ 4,8-5,0% và Thái Lan từ 1,9-2,4%. Như vậy, việc tăng trưởng kinh tế (GDP) cuat Việt Nam trong quý III ước tăng 9,95% so với cùng kỳ, tính chung 09 tháng tăng 9,01% đã vượt so với số liệu dự báo của các tổ chức quốc tế uy tín.
Nguyên nhân của những thành công nêu trên cũng được Chính phủ chỉ rõ, đó là có sự lãnh đạo toàn diện của Ban Chấp hành Trung ương mà trực tiếp, thường xuyên là Bộ Chính trị, Ban Bí thư, đứng đầu là Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm; sự đồng hành, phối hợp chặt chẽ của Quốc hội và các cơ quan trong hệ thống chính trị; sự chung sức, đồng lòng của Nhân dân, cộng đồng doanh nghiệp; Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã tập trung chỉ đạo xây dựng, ban hành 32 Chương trình hành động để triển khai kịp thời, đồng bộ Nghị quyết, Kết luận của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, trọng tâm là các quyết sách chiến lược tại Hội nghị Trung ương 2, Hội nghị Trung ương 3, trong đó có Kết luận số 18-KL/TW, Nghị quyết số 19-NQ/TW về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam, 11 Nghị quyết chuyên đề về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, giáo dục, y tế, văn hóa, du lịch, ngoại giao, kinh tế...; các luật, nghị quyết được Quốc hội khóa XVI thông qua từ đầu nhiệm kỳ đến nay; biến quyết tâm chính trị thành kết quả cụ thể, thực chất. Tiếp tục nắm chắc tình hình, điều hành thực hiện nhiệm vụ thường xuyên; chú trọng giải quyết vấn đề tồn đọng, kéo dài; chủ động ứng phó nhanh chóng, hiệu quả vấn đề cấp bách phát sinh. Nhờ đó, kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại tháng 9 và 09 tháng đầu năm 2026 của nước ta đạt nhiều kết quả quan trọng, tốt hơn tháng trước và cùng kỳ năm trước (https://thuvienphapluat.vn/van-ban/bo-may-hanh-chinh/Nghi-quyet-312-NQ-CP-2026-Hoi-nghi-truc-tuyen-Chinh-phu-voi-dia-phuong-728239.aspx).
Trong Báo cáo số 354/BC-CTK ngày 03/10/2026, Cục Thống kê cũng phân tích, làm rõ hơn nguyên nhân thành công từ phía quản lý nhà nước là Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo quyết liệt các bộ, ngành và địa phương tập trung triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phấn đấu đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số trong năm 2026. Việc hoàn thiện và vận hành mô hình chính quyền địa phương 02 cấp đã góp phần mở rộng không gian phát triển, tăng cường liên kết vùng, tạo điều kiện nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước; đồng thời thúc đẩy phân cấp, phân quyền, cải cách thủ tục hành chính, huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho phát triển. Nhờ đó, mặc dù bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều bất ổn, kinh tế - xã hội quý III và chín tháng năm 2026 của nước ta tiếp tục đạt được kết quả tích cực, quan trọng trên hầu hết các ngành, lĩnh vực.
2. Trong bức tranh kinh tế - xã hội chín tháng đầu năm 2026 của Việt Nam, an sinh xã hội là một trong những nội dung đạt nhiều kết quả tích cực, điểm sáng nổi bật nhất. Báo cáo số 354/BC-CTK ngày 03/10/2026 của Cục Thống kê nhấn mạnh: trong chín tháng năm 2026, tình hình đời sống dân cư duy trì ổn định, an sinh xã hội được cải thiện. Chính phủ và địa phương triển khai đồng bộ, kịp thời, hiệu quả các chính sách hỗ trợ đối với người có công, hộ nghèo, cận nghèo, đối tượng bảo trợ xã hội và các nhóm dân cư gặp khó khăn. Nghị quyết số 312/NQ-CP năm 2026 cũng nhấn mạnh: Công tác an sinh xã hội được thực hiện đầy đủ, kịp thời. Báo cáo tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và Nhân dân gửi đến Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI khẳng định: Nhân dân vui mừng về sự chăm lo của Đảng, Nhà nước trong thực hiện các chính sách an sinh xã hội, chăm lo người nghèo và các đối tượng yếu thế. Cử tri và Nhân dân ghi nhận, đánh giá cao việc nâng mức trợ cấp, phụ cấp và các chế độ ưu đãi dành cho người có công với cách mạng cùng nhiều hoạt động “Đền ơn đáp nghĩa” thiết thực được tổ chức nhân kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh - Liệt sĩ. Đặc biệt, “Chiến dịch 500 ngày đêm tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ” đã lan tỏa niềm xúc động sâu sắc, lòng biết ơn vô hạn đối với các anh hùng, liệt sĩ đã hy sinh vì độc lập, tự do của dân tộc (https://quochoi.vn/tintuc/Pages/su-kien-noi-bat.aspx?ItemID=102138).
Báo cáo số 354/BC-CTK ngày 03/10/2026 của Cục Thống kê cho biết, theo kết quả điều tra lao động việc làm thì trong tháng 9/2026, tỷ lệ hộ đánh giá có thu nhập trong tháng không thay đổi và tăng lên so với cùng kỳ năm trước (tháng 9/2025) là 97,1% (tăng 0,6 điểm phần trăm so với kỳ báo cáo tháng 8/2206 và tăng 1,0 điểm phần trăm so với tháng 8/2025); tỷ lệ hộ đánh giá có thu nhập giảm và không biết so với tháng cùng kỳ năm 2025 là 2,9%. Trong quý III/2026, tỷ lệ hộ đánh giá có thu nhập tăng lên và không thay đổi so với cùng kỳ năm 2025 là 96,8%, tăng 0,3 điểm phần trăm so với kỳ báo cáo quý trước và tăng 0,5 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước; tỷ lệ hộ đánh giá có thu nhập giảm và không biết là 3,2%. Các hộ đánh giá có thu nhập tăng chủ yếu do tăng thu từ tiền lương, tiền công của thành viên hộ với 68,5% hộ đánh giá; có 37,3% hộ nhận định do tăng thu từ hoạt động nông, lâm nghiệp, thủy sản; 20,8% hộ đánh giá do tăng thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ phi nông, lâm nghiệp, thủy sản6.
Báo cáo số 354/BC-CTK ngày 03/10/2026 cũng cho biết, trong chín tháng năm 2026 đã có 18,3% hộ được phỏng vấn cho biết nhận được trợ giúp từ các nguồn khác nhau. Trong đó, tỷ lệ hộ nhận được trợ giúp từ họ hàng, người thân là 10,3%; từ các chương trình, chính sách chung của quốc gia là 8,8%; từ các chương trình, chính sách của địa phương là 7,2%; từ các hoạt động từ thiện của các tổ chức và cá nhân khác là 2,1% và từ các nguồn khác là 0,06%.
Nội dung này tiếp tục được Chính phủ nêu rõ trong Nghị quyết số 312/NQ-CP năm 2026: Công tác bảo đảm an sinh xã hội luôn được các cấp, các ngành thực hiện kịp thời, hiệu quả. Trong chín tháng năm 20267, tổng số tiền hỗ trợ an sinh xã hội cho các nhóm đối tượng đạt gần 69,3 nghìn tỷ đồng, trong đó lãnh đạo trung ương và địa phương, các ban, ngành, đoàn thể, các nhà hảo tâm đã tổ chức thăm hỏi, động viên và tặng quà cho đối tượng bảo trợ xã hội theo Nghị định số 20/2021/NĐ-CP ngày 15/3/2021 với số tiền hơn 32,4 nghìn tỷ đồng; hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có hoàn cảnh khó khăn, hộ chính sách xã hội là hơn 3,2 nghìn tỷ đồng; người có công, thân nhân người có công với cách mạng là hơn 33,3 nghìn tỷ đồng; hỗ trợ đột xuất, bất thường phát sinh tại địa phương là hơn 246,6 tỷ đồng. Ngoài ra, bảo hiểm xã hội đã cấp phát gần 35,1 triệu thẻ bảo hiểm y tế, sổ, thẻ khám chữa bệnh miễn phí cho các đối tượng thụ hưởng. Trong chín tháng năm 2026, Chính phủ đã hỗ trợ cho người dân hơn 18,1 nghìn tấn gạo. Trong đó, gần 9,1 nghìn tấn gạo được hỗ trợ cứu đói dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ cho 604,6 nghìn nhân khẩu; hơn 8,2 nghìn tấn gạo cứu đói giáp hạt năm 2026 cho 547,2 nghìn nhân khẩu; 887,4 tấn gạo hỗ trợ khắc phục hậu quả thiên tai, mưa lũ cho 59,1 nghìn nhân khẩu.
Tại Thông báo số 159-TB/VPTW ngày 29/8/2026 về cuộc làm việc ngày 25/8/2026 với Đảng ủy Chính phủ và các ban, bộ, ngành Trung ương về tình hình thực hiện chính sách an sinh xã hội, hỗ trợ người yếu thế đã nêu rõ kết luận và sự ghi nhận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: trong thời gian qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước và sự chung sức của toàn xã hội, công tác an sinh xã hội đã đạt nhiều kết quả quan trọng, giúp ổn định xã hội, củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Đến nay, cả nước có 99,1 triệu người tham gia bảo hiểm y tế (96,9% dân số); khoảng 2,5 triệu người hưởng trợ cấp hưu trí xã hội; chính sách giảm nghèo, tín dụng, nhà ở, giáo dục, y tế, việc làm và cứu trợ thiên tai đã trở thành điểm tựa của hàng triệu gia đình (https://mattran.org.vn/chuong-trinh-phoi-hop/thong-bao-so-159tbvptw-xay-dung-he-thong-an-sinh-xa-hoi-da-tang-bao-trum-lay-nguoi-dan-lam-trung-tam-74195.html). Đây là sự ghi nhận, đánh giá rất cao của người đứng đầu Đảng và Nhà nước ta đối với công tác an sinh xã hội.
Một nội dung được Nhân dân, dư luận xã hội đặc biệt quan tâm và đánh giá rất cao là tri ân người có công. Trong đó, “Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ” hướng tới kỷ niệm 80 năm ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947-27/7/2027) đang được các cấp, các ngành, các đơn vị, địa phương quyết liệt triển khai. Theo số liệu của Chiến dịch 500 ngày đêm8 tính đến ngày 23/9/2026 (Báo cáo số 354/BC-CTK ngày 03/10/2026), công tác tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ tiếp tục đạt nhiều kết quả quan trọng: có 2.803 hài cốt liệt sĩ đã được tìm kiếm, quy tập, trong đó có 1.773 hài cốt liệt sĩ trong nước, 174 hài cốt tại Lào và 856 hài cốt tại Campuchia; có 199.908 mộ liệt sĩ được lấy mẫu hài cốt phục vụ giám định, xác định danh tính (đạt 94,78% tiến độ), trong đó có 139.016 mộ đủ điều kiện lấy mẫu (đạt 69,35%), 60.892 mộ chưa đủ điều kiện lấy mẫu; có 99.443 mẫu hài cốt liệt sĩ của các địa phương đã được tiếp nhận, lưu trữ và bảo quản. Cùng với công tác tìm kiếm, quy tập, các địa phương và lực lượng chức năng đã tổ chức 18 lễ truy điệu, an táng hài cốt liệt sĩ, đón 893 hài cốt liệt sĩ về an táng theo quy định.
Còn theo số liệu báo cáo của Văn phòng Ban chỉ đạo tìm kiếm quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ (https://baotintuc.vn/chien-dich-500-ngay-dem-da-lay-276853-mau-adn-cua-than-nhan-liet-si-post1396644.html), tính đến ngày 22/10/2026, các lực lượng đã tìm kiếm và quy tập được 3.838 hài cốt liệt sĩ, đạt 54,83% kế hoạch đề ra. Cụ thể, số lượng quy tập trong nước là 2.535 hài cốt, tại Lào là 238 hài cốt và tại Campuchia là 1.065 hài cốt. Riêng tại khu vực Công viên Lê Thị Riêng (Thành phố Hồ Chí Minh), lực lượng chức năng đã quy tập được 800 hài cốt và tiến hành an táng 731 hài cốt vào ngày 14/10/2026. Toàn Chiến dịch huy động 32 đội tìm kiếm, quy tập với tổng quân số 1.588 người, bao gồm 13 đội hoạt động trong nước và 19 đội ở nước ngoài (trong đó có 8 đội ở Lào và 11 đội ở Campuchia). Các đơn vị đã tổ chức trang trọng 29 lễ truy điệu và an táng cho 2.132 hài cốt liệt sĩ. Tính đến ngày 10/10/2026, 7/7 quân khu cùng 34/34 tỉnh, thành phố đã hoàn thành công tác lấy mẫu hài cốt liệt sĩ đối với 211.300 mộ trong các nghĩa trang liệt sĩ trên cả nước. Trong số đó, có 147.638 mộ đủ điều kiện lấy mẫu (đạt 69,87%) và 63.662 mộ không đủ điều kiện. Công tác này huy động 297 tổ lấy mẫu với 3.500 người tham gia. Đối với thân nhân liệt sĩ, lực lượng chức năng đã lấy 276.853 mẫu, tiến hành phân tích 100.701 mẫu và thực hiện đồng bộ vào cơ sở dữ liệu được 95.797 mẫu. Các địa phương đã tiếp nhận, lưu trữ và bảo quản 130.574 mẫu hài cốt liệt sĩ. Trong đó, Viện Pháp y Quân đội đã tiếp nhận 76.232 mẫu, tiến hành giám định 354 mẫu, kết quả có 61 mẫu có giải trình tự gen.
Công tác rà phá bom mìn, vật nổ được triển khai song song với tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ, nhất là tại những khu vực từng diễn ra chiến sự. Theo số liệu báo chí cung cấp ngày 23/10/2026 (https://baotintuc.vn/chien-dich-500-ngay-dem-da-lay-276853-mau-adn-cua-than-nhan-liet-si-post1396644.html), lực lượng công binh và các đơn vị liên quan đã rà phá bom mìn, vật nổ được hơn 18.966 héc-ta trên tổng số 22.100 héc-ta (đạt 85,82%). Đặc biệt, tính đến ngày 12/10/2026, vùng lõi Vị Xuyên (Tuyên Quang) đã hoàn thành 100% công tác rà phá bom mìn, vật nổ trên toàn bộ diện tích 4.460 héc-ta.
Trong Báo cáo của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và Nhân dân gửi đến Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI khẳng định: Cử tri và Nhân dân trân trọng việc chăm lo người có công; những nỗ lực không quản ngày đêm của các đồng chí lãnh đạo, các tổ chức, cá nhân trong Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ. Việc điều chỉnh tiền lương, lương hưu, chế độ phụ cấp công vụ đối với cán bộ, công chức cấp xã, trợ cấp, xóa nhà tạm, nhà dột nát, giảm nghèo được cử tri ghi nhận và đánh giá rất cao. Đặc biệt, việc Chính phủ ban hành Nghị định số 381/2026/NĐ-CP ngày 02/10/2026 quy định phụ cấp công vụ đối với cán bộ, công chức làm việc trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức chính trị xã hội trực thuộc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở xã, phường, đặc khu được dư luận xã hội, đội ngũ cán bộ, công chức ghi nhận và đánh giá rất cao. Theo đó, đối tượng quy định tại Nghị định số 381/2026/NĐ-CP được hưởng mức phụ cấp công vụ bằng 55% mức lương hiện hưởng cộng phụ cấp chức vụ lãnh đạo và phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có) được áp dụng đối với cán bộ, công chức cấp xã không được hưởng tiền lương, thu nhập tăng thêm theo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố về chi tiền lương, thu nhập tăng thêm; mức phụ cấp công vụ bằng 25% mức lương hiện hưởng cộng phụ cấp chức vụ lãnh đạo và phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có) được áp dụng đối với cán bộ, công chức cấp xã được hưởng tiền lương, thu nhập tăng thêm theo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố về chi tiền lương, thu nhập tăng thêm. Trường hợp cán bộ, công chức cấp xã được hưởng mức tiền lương, thu nhập tăng thêm thấp hơn mức phụ cấp công vụ 55% thì được hưởng chênh lệch cho bằng mức phụ cấp công vụ 55%.
3. Đạt được những kết quả nổi bật nêu trên, trước hết là sự quan tâm chỉ đạo thường xuyên, sâu sát và quyết liệt của Đảng, Nhà nước đối với công tác an sinh xã hội. Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng nêu rõ quan điểm chỉ đạo: Bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội, an sinh xã hội, phúc lợi xã hội, an ninh xã hội và an ninh con người. Xây dựng hệ thống an sinh xã hội đa tầng, hiện đại, thích ứng linh hoạt, theo vòng đời và bao phủ toàn dân, toàn diện, lấy con người là trung tâm, nâng cao phúc lợi xã hội toàn dân; bảo đảm mọi người dân được tiếp cận, thụ hưởng các dịch vụ xã hội cơ bản, thiết yếu có chất lượng; ưu tiên các đối tượng chính sách, đối tượng yếu thế và đối tượng trong khu vực phi chính thức, mở rộng tín dụng chính sách xã hội phù hợp điều kiện, trình độ phát triển của Việt Nam, “không để ai bị bỏ lại phía sau”. Nghị quyết số 01/NĐ-CP ngày 08/01/2026 của Chính phủ về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2026 khẳng định công tác an sinh xã hội được đặt ở vị trí trung tâm của chiến lược tăng trưởng. Với định hướng hiện đại hóa quản trị dựa trên dữ liệu số, mở rộng vững chắc diện bao phủ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và chủ động bảo đảm nguồn lực tài chính bền vững, Nghị quyết số 01/NĐ-CP ngày 08/01/2026 của Chính phủ thể hiện rõ quyết tâm xây dựng hệ thống an sinh bao trùm, thích ứng với yêu cầu phát triển nhanh và bền vững, bảo đảm mọi người dân đều được thụ hưởng thành quả của quá trình phát triển.
Các chương trình, chính sách an sinh xã hội được các cơ quan có thẩm quyền triển khai thực hiện kịp thời, hiệu quả, qua đó có tác động tích cực đến đời sống dân cư, như chính sách an sinh xã hội hỗ trợ, trợ cấp cho người có công và thân nhân người có công với cách mạng, người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn và các đối tượng bảo trợ xã hội; hỗ trợ bất thường, trợ giúp sau thiên tai, bão lũ, cứu trợ đột xuất luôn được quan tâm được thực hiện kịp thời; Chương trình “Cả nước chung tay xóa nhà tạm, nhà dột nát” đã hoàn thành sớm hơn 5 năm 4 tháng so với kế hoạch ban đầu; chính sách trợ cấp hưu trí xã hội cho người cao tuổi không có lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng (từ 75 tuổi trở lên); chính sách tặng quà đối với người có công; chính sách, phụ cấp công vụ đối với cán bộ, công chức làm việc trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội trực thuộc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở xã, phường, đặc khu; chính sách hỗ trợ thẻ bảo hiểm y tế/sổ/thẻ khám chữa bệnh miễn phí; Chương trình phát động Tháng cao điểm “Vì người nghèo” năm 2026 do Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chủ trì tổ chức.
Trong thời gian tới, công tác an sinh xã hội sẽ được tiếp tục triển khai quyết liệt, mạnh mẽ và hiệu quả theo Quyết định số 1960/QĐ-TTg ngày 09/10/2206 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại buổi làm việc với Đảng ủy Chính phủ và các cơ quan về tình hình thực hiện chính sách an sinh xã hội, hỗ trợ người yếu thế với 10 nhiệm vụ, giải pháp: (1) Nâng cao nhận thức về vai trò của chính sách an sinh xã hội trong chính sách xã hội; (2) Thiết lập hồ sơ an sinh và đầu mối phục vụ người dân; (3) Củng cố sàn an sinh, cải cách chính sách trợ giúp xã hội; (4) Mở rộng bảo hiểm xã hội, xây dựng thị trường lao động bao trùm; (5) Xây dựng hệ thống an sinh gia đình và liên thế hệ; (6) Phát triển kinh tế chăm sóc, chủ động ứng phó già hóa dân số; (7) Bảo đảm cơ hội phát triển công bằng cho trẻ em và người yếu thế; (8) Nâng cao khả năng thích ứng với thiên tai, dịch bệnh và quá trình phát triển xanh; (9) Đổi mới quản trị, tài chính và giám sát xã hội; (10) Xây dựng Chương trình hành động quốc gia về hiện đại hóa hệ thống an sinh xã hội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045./.
----------------------
Chú thích:
1. OECD (tháng 9/2026), “Báo cáo sơ bộ Triển vọng Kinh tế OECD tháng 9/2026: Vượt qua những cú sốc liên tiếp”, https://www.oecd.org/en/publications/oecd-economic-outlook-interim-report-september-2026_f751d02b-en.html, truy cập ngày 25/9/2026.
2. UN (tháng 9/2026), “Tình hình và triển vọng kinh tế thế giới cập nhật tháng 9/2026”, https://desapublications.un.org/publications/world-economic-situation-and-prospects-2026-september-update, truy cập ngày 25/9/2026.
3. IMF (tháng 7/2026), “Nền kinh tế toàn cầu trong dòng chảy giao thoa của chiến tranh và công nghệ”, https://www.imf.org/en/publications/weo/issues/2026/07/08/world-economic-outlook-update-july-2026, truy cập ngày 25/9/2026.
4 AMRO (tháng 9/2026), “Báo cáo Triển vọng kinh tế khu vực ASEAN+3: Bản cập nhật sơ bộ tháng 7/2026”, https://www.amro-asia.org/quarterly-update-of-the-asean3-regional-economic-outlook-areo-july-2026, truy cập ngày 25/9/2026.
5. AMRO, ADB và IMF dự báo tăng trưởng kinh tế của Việt Nam năm 2026 lần lượt đạt 7,5%; 7,8% và 8,2%.
6. Một hộ dân cư có thể lựa chọn nhiều nguyên nhân.
7. Theo báo cáo của Thống kê tỉnh, thành phố tổng hợp, cập nhật đến ngày 25/9/2026.
(Nguồn: Báo cáo số 354/BC-CTK ngày 03/10/2026).
Hồng Lạc
Tin tức cùng chuyên mục
Bài viết cùng tác giả