Từ khóa: Chính sách người có công; xây dựng Đảng; trách nhiệm người đứng đầu; niềm tin của Nhân dân; thế trận lòng dân.
Abstract: Honouring people with meritorious services to the revolution continues the traditional values of “When drinking water, remember its source” and “repaying kindness”. It expresses gratitude to those who sacrificed and devoted themselves to the cause of the Fatherland’s independence and freedom. By improving and effectively implementing preferential policies, caring for their living standards, safeguarding their entitlements and honouring their contributions, the Party, the State and society as a whole help preserve humanistic traditions while fostering patriotism and a sense of responsibility to contribute among today’s generations. This article clarifies the relationship between the leadership responsibilities of Party organisations, the effectiveness of state management and the quality of policy implementation, and the strengthening of the people’s trust, the closer bond between the Party and the people, and the consolidation of the “people’s support base”.
Keywords:
Policies for people with meritorious services to the revolution; Party
building; responsibility of heads of agencies; the people’s trust; the people’s
support base.
Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời
(03/02/1930) đến nay, người có công với cách mạng luôn là đối tượng được Đảng
và Nhà nước đặc biệt quan tâm. Đặt trong yêu cầu phát triển đất nước ở giai đoạn
mới, tinh thần ấy càng được khẳng định rõ trong Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của
Đảng: “Phát huy vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của Nhân dân. Tăng cường củng
cố và phát huy hiệu quả sức mạnh của Nhân dân và khối đại đoàn kết dân tộc. Mọi
chủ trương, chính sách phải thực sự
xuất phát từ nguyện vọng, quyền, lợi ích chính đáng, hợp pháp và hạnh phúc của
Nhân dân” (Đảng Cộng sản Việt Nam, tập II, 2026). Từ
yêu cầu đó, thực thi chính sách ưu đãi người có công với Tổ quốc cần được nhìn
nhận không chỉ từ phương diện bảo đảm an sinh xã hội mà còn từ góc độ kiểm chứng
trách nhiệm lãnh đạo và năng lực phục vụ Nhân dân của hệ thống chính trị. Trách
nhiệm ấy được thể hiện không chỉ qua việc ban hành chủ trương, hoàn thiện chính
sách và bố trí nguồn lực, mà quan trọng hơn là kết quả bảo đảm quyền lợi chính
đáng của người thụ hưởng, khả năng giải quyết vướng mắc và khắc phục hạn chế
trong quá trình thực hiện. Chính kết quả thực tế đó góp phần củng cố niềm tin của
Nhân dân, tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân và bồi đắp
“thế trận lòng dân”.
1. Chính sách người có công từ quan điểm “dân là gốc” đến trách nhiệm chính trị của Đảng và Nhà nước
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành tình cảm, sự quan tâm đặc biệt đối với thương binh, gia đình liệt sĩ và những người có công với cách mạng. Người căn dặn: “Thương binh là những người đã hy sinh gia đình, hy sinh xương máu để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ đồng bào... Vì vậy Tổ quốc, đồng bào phải biết ơn, phải giúp đỡ những người con anh dũng ấy” (Hồ Chí Minh, tập 5, 2011). Lời căn dặn ấy thể hiện sự trân trọng đối với người đã cống hiến, hy sinh, đồng thời đặt ra trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội trong việc biến đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, “đền ơn đáp nghĩa” thành chính sách và hành động cụ thể.
Thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh và truyền thống tốt đẹp của dân tộc, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, đặc biệt trong thời kỳ đổi mới, Đảng và Nhà nước ta luôn xác định chăm lo người có công là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên của cả hệ thống chính trị. Từ Đại hội lần thứ VI, Đảng ta đã xác định yêu cầu “thực hiện tốt chính sách đối với thương binh, gia đình liệt sĩ, gia đình cán bộ, chiến sĩ chiến đấu ngoài mặt trận, gia đình có công với cách mạng...” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 1987). Trong các kỳ đại hội tiếp theo, chính sách đối với người có công tiếp tục được quan tâm, hoàn thiện và cụ thể hóa. Đặc biệt, Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII đã ban hành Nghị quyết số 42-NQ/TW ngày 24/11/2023 về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới. Tinh thần đó tiếp tục được thể hiện tại Đại hội lần thứ XIV với nhiệm vụ: “Hoàn thiện và thực hiện tốt luật pháp, chính sách đối với người có công trên cơ sở nguồn lực của Nhà nước và xã hội, bảo đảm người có công và gia đình có mức sống từ trung bình khá trở lên trong địa bàn cư trú” (Đảng Cộng sản Việt Nam, tập II, 2026). Những định hướng này cho thấy yêu cầu đối với chính sách người có công không dừng ở việc hoàn thiện quy định mà phải bảo đảm sự thống nhất giữa chủ trương của Đảng, thể chế của Nhà nước và kết quả tổ chức thực hiện. Trách nhiệm lãnh đạo vì thế phải được thể hiện bằng việc phân công rõ nhiệm vụ, kiểm tra tiến độ, kịp thời tháo gỡ vướng mắc và đánh giá kết quả thực tế mà người thụ hưởng nhận được.
Trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, tri ân người có công không thể chỉ dừng lại ở tình cảm hay phong trào mà phải được bảo đảm bằng pháp luật, chính sách, nguồn lực và tổ chức thực hiện. Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng được ban hành lần đầu năm 1994 và qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung là một minh chứng cho quá trình thể chế hóa ngày càng hoàn thiện. Gần đây, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 321/2026/NĐ-CP ngày 15/8/2026 quy định mức hưởng trợ cấp, phụ cấp và các chế độ ưu đãi người có công với cách mạng, có hiệu lực từ ngày 01/10/2026. Nghị định quy định các mức hưởng trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với người có công và thân nhân, đồng thời quy định chế độ bảo đảm đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện chính sách.
Cùng với hoàn thiện chính sách ưu đãi, công tác tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ tiếp tục được Đảng và Nhà nước quan tâm, đặc biệt với việc ban hành một chủ trương thể hiện sâu sắc trách nhiệm tri ân người có công với đất nước. Quyết định số 27/QĐ-BCĐQG ngày 22/3/2026 của Ban Chỉ đạo quốc gia về tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ đã ban hành kế hoạch tổ chức phát động “Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ”, hướng tới Kỷ niệm 80 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2027) đã được Đảng và Nhà nước tập trung mọi nguồn lực để triển khai và thực hiện trên toàn quốc. Việc triển khai chiến dịch cho thấy công tác tri ân được cụ thể hóa bằng những nhiệm vụ có mục tiêu, thời hạn và sự phối hợp của nhiều lực lượng.
Trên cơ sở chủ trương nhất quán của Đảng về chăm lo người có công với cách mạng, ngày 19/10/2026 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 2004/QĐ-TTg về Kế hoạch triển khai thực hiện Phong trào thi đua “Đẩy mạnh chăm lo người có công với cách mạng”, là bước cụ thể hóa trách nhiệm của Nhà nước trong tổ chức thực hiện chính sách tri ân, đồng thời thúc đẩy sự tham gia chủ động, thường xuyên của toàn xã hội. Ý nghĩa của Quyết định không chỉ nằm ở việc phát động một phong trào thi đua mà còn ở yêu cầu đưa việc chăm lo người có công trở thành nhiệm vụ gắn với trách nhiệm chính trị của từng cấp, từng ngành, từng cơ quan, đơn vị và mỗi cộng đồng dân cư. Qua đó, tinh thần tri ân được chuyển hóa thành hành động thiết thực; những tập thể, cá nhân có thành tích và những tấm gương người có công vượt khó, đóng góp cho xã hội được kịp thời ghi nhận, tôn vinh. Đây cũng là cách củng cố mối quan hệ gắn bó giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân, bồi đắp niềm tin xã hội bằng kết quả thực chất của chính sách và trách nhiệm phục vụ Nhân dân.
Thực hiện chính sách người có công vì thế cũng là nơi năng lực lãnh đạo, khả năng tổ chức thực hiện và trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền trước Nhân dân được kiểm chứng. Khi quyền lợi chính đáng của người dân được giải quyết đúng đối tượng, đúng chính sách và kịp thời, chủ trương của Đảng được chuyển thành kết quả cụ thể. Tuy nhiên, chủ trương đúng, chính sách nhân văn không đồng nghĩa với việc mọi quyền lợi của người dân đều được bảo đảm nếu khâu tổ chức thực hiện còn hạn chế, bất cập. Một chính sách có thể được ban hành đầy đủ nhưng việc thực hiện ở cơ sở có lúc còn chậm, việc giải quyết quyền lợi chính đáng có thể gặp vướng mắc về thủ tục, hồ sơ tồn đọng có thể kéo dài nếu thiếu sự đôn đốc, kiểm tra và xác định rõ trách nhiệm. Vì vậy, đánh giá hiệu quả chính sách người có công không chỉ căn cứ vào số lượng văn bản được ban hành hay nguồn lực đã bố trí mà quan trọng hơn là kết quả thực tế người dân được thụ hưởng. Điều này đặt ra yêu cầu làm rõ trách nhiệm lãnh đạo của cấp ủy, trách nhiệm quản lý của chính quyền và trách nhiệm công vụ của cán bộ, đảng viên trong việc đưa chủ trương của Đảng đến với Nhân dân như phát biểu chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Phiên bế mạc Hội nghị Trung ương lần thứ Tư, khóa XIV: “Đường lối của Đảng phải được thể chế hóa thành pháp luật, chính sách đúng tinh thần, thống nhất và khả thi. Trách nhiệm không dừng ở ban hành văn bản. Cơ quan chủ trì phải theo dõi thi hành, xử lý vướng mắc thuộc thẩm quyền, kiến nghị sửa quy định không còn phù hợp. Khi chính sách không đạt mục tiêu, phải xem xét cả chất lượng tham mưu, thiết kế chính sách và trách nhiệm thực hiện.” (Cục Thông tin và Truyền thông Chính phủ, 2026).
2. Bồi đắp niềm tin của Nhân dân là nền tảng xây dựng “thế trận lòng dân”
Trong tiến trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Nhân dân vừa là chủ thể sáng tạo lịch sử, vừa là nguồn sức mạnh quyết định sự tồn tại, phát triển của Đảng và chế độ. Đặc biệt, Văn kiện Đại hội XIV tiếp tục quán triệt quan điểm “dân là gốc”, khẳng định vị trí chủ thể, trung tâm của Nhân dân; yêu cầu thắt chặt mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân, dựa vào Nhân dân để xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, đồng thời lấy sự hài lòng, tín nhiệm của người dân và hiệu quả công việc làm tiêu chí đánh giá cán bộ. Quan điểm “dân là gốc” chỉ thực sự có ý nghĩa khi được cụ thể hóa trong phương thức lãnh đạo, quản lý và tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân. Đặt trong yêu cầu đó, thực hiện chính sách đối với người có công với cách mạng không chỉ là nhiệm vụ an sinh xã hội hay sự tiếp nối đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” mà còn là một phương diện thể hiện trách nhiệm chính trị của Đảng, Nhà nước trước Nhân dân. Hiệu quả thực hiện chính sách vì vậy vừa phản ánh chất lượng phục vụ người thụ hưởng, vừa góp phần củng cố niềm tin xã hội, tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân và tạo nền tảng xây dựng “thế trận lòng dân”.
Ở phương diện này, thực hiện chính sách người có công còn là một phép thử đối với năng lực lãnh đạo, quản lý và tổ chức thực hiện của cấp ủy, chính quyền ở cơ sở. Đối tượng thụ hưởng chính sách có thể đã cao tuổi, sức khỏe hạn chế; nhiều gia đình phải chờ đợi trong thời gian dài để được xác minh, công nhận hoặc giải quyết chế độ. Ngược lại, tình trạng chậm trễ, thiếu trách nhiệm hoặc đùn đẩy trong giải quyết quyền lợi, dù phát sinh ở một khâu cụ thể, vẫn có thể ảnh hưởng đến cách người dân đánh giá chất lượng phục vụ của cơ quan công quyền. Điều đó cho thấy, trong thực hiện chính sách tri ân, chất lượng phục vụ không phải yếu tố bên ngoài chính sách mà là một bộ phận quan trọng quyết định giá trị thực tế và sức thuyết phục xã hội của chính sách.
Trường hợp bà Nguyễn Thị Lệ ở tỉnh Tây Ninh là một minh chứng cụ thể. Ngày 18/7/2026, Sở Nội vụ tỉnh Tây Ninh quyết định công nhận bà Nguyễn Thị Lệ là vợ liệt sĩ Huỳnh Văn Quên, đồng thời giải quyết chế độ trợ cấp theo quy định. Sau gần 60 năm, bà được cấp giấy chứng nhận thân nhân liệt sĩ và hưởng chế độ trợ cấp hằng tháng từ ngày 01/8/2026 (Linh Anh, 2026). Qua thời gian dài, việc giải quyết chế độ cho bà Lệ cho thấy đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, “Đền ơn đáp nghĩa” chỉ thực sự được thể hiện trọn vẹn khi sự tri ân được chuyển hóa thành hành động cụ thể, khi những người đã chịu nhiều mất mát và thân nhân của họ được quan tâm, ghi nhận và bảo đảm quyền lợi chính đáng. Đây cũng là biểu hiện sinh động của trách nhiệm Nhà nước đối với người có công, đồng thời góp phần lan tỏa giá trị nhân văn của chính sách, củng cố niềm tin của Nhân dân vào sự quan tâm và trách nhiệm của Đảng, Nhà nước đối với những người đã hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc.
Nếu việc giải quyết chế độ cho thân nhân liệt sĩ thể hiện trách nhiệm đối với những người đã chịu mất mát, hy sinh trong chiến tranh thì hoạt động tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ còn cho thấy sự tiếp nối của trách nhiệm tri ân giữa các thế hệ. Ngày 27/9/2026, Bộ Tư lệnh Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức gặp mặt thân nhân cán bộ, chiến sĩ Đội K74 và các lực lượng thực hiện nhiệm vụ tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ; "trao giấy khen cho 5 tập thể và 84 cá nhân có thành tích xuất sắc đột xuất, đồng thời có 13 chiến sĩ Đội K74 được thăng quân hàm khi đang thực hiện nhiệm vụ (Anh Tú, 2026). Sự ghi nhận này không chỉ động viên những người trực tiếp làm nhiệm vụ mà còn thể hiện trách nhiệm của các thế hệ hôm nay đối với những người đã ngã xuống. Tri ân vì thế không chỉ hướng về quá khứ mà còn được thể hiện qua trách nhiệm hiện tại đối với những người đã ngã xuống và những người đang thực hiện sứ mệnh tìm kiếm, đưa đồng đội trở về với gia đình, quê hương.
Tiếp nối hành trình ấy, sáng 14/10/2026, tại Thành phố Hồ Chí Minh, lễ viếng, truy điệu và an táng 731 hài cốt liệt sĩ được tìm kiếm, quy tập tại Công viên Lê Thị Riêng được tổ chức. Những hoạt động ấy cho thấy tri ân không chỉ được thực hiện thông qua chế độ, chính sách mà còn bằng những hành động cụ thể, sự phối hợp trách nhiệm giữa các cơ quan, lực lượng và cộng đồng trong tìm kiếm, quy tập, tưởng niệm những người đã hy sinh. Tuy nhiên, để đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, “Đền ơn đáp nghĩa” trở thành nền tảng bền vững trong đời sống xã hội, điều quan trọng là phải chuyển hóa truyền thống, tình cảm và trách nhiệm thành chủ trương, chính sách và cơ chế tổ chức thực hiện đồng bộ, hiệu quả.
Tuy nhiên thực tế hiện nay vẫn còn những người từng tham gia chiến đấu, phục vụ chiến đấu trong các cuộc kháng chiến, nay đã tuổi cao, sức yếu nhưng việc xem xét, giải quyết chế độ còn gặp khó khăn do hồ sơ, giấy tờ bị thất lạc hoặc thiếu căn cứ xác minh. Sau nhiều thập niên, đơn vị công tác có thể đã giải thể, tài liệu lưu trữ không còn đầy đủ, những người từng cùng chiến đấu, công tác cũng không dễ tìm gặp. Với họ, mỗi lần đi lại bổ sung giấy tờ không chỉ là sự vất vả về sức khỏe, kinh tế mà còn gợi lại những năm tháng cống hiến và nỗi mong mỏi được ghi nhận chính đáng. Vì vậy, tri ân không thể chỉ dừng ở việc thực hiện đầy đủ chế độ đối với những hồ sơ đã hoàn tất mà còn phải thể hiện qua trách nhiệm kiên trì xác minh những trường hợp còn vướng mắc. Cơ quan chức năng cần chủ động rà soát, phối hợp tra cứu hồ sơ tại các đơn vị, địa phương và cơ quan lưu trữ; tiếp nhận, đối chiếu thông tin, xác minh nhân chứng theo quy định; hướng dẫn rõ ràng, tạo điều kiện thuận lợi để người cao tuổi không phải đi lại nhiều lần. Với trường hợp chưa đủ căn cứ giải quyết, cần giải thích cụ thể, tiếp tục hướng dẫn và thông tin về tiến độ xử lý, tránh để người dân chờ đợi kéo dài trong tâm trạng không biết hồ sơ của mình sẽ đi đến đâu. Việc xác minh phải khách quan, chặt chẽ, đúng đối tượng, đúng quy định, đồng thời không để những khó khăn về thủ tục làm lu mờ trách nhiệm tri ân. Khi những người đã cống hiến cho Tổ quốc được lắng nghe, được hướng dẫn tận tình và được xem xét bằng tinh thần trách nhiệm đến cùng, niềm tin của Nhân dân vào chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước sẽ được bồi đắp từ những việc làm cụ thể. Đó không chỉ là sự đền đáp nghĩa tình đối với người có công, mà còn là biểu hiện sinh động của đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” và trách nhiệm chính trị trong việc bảo đảm chính sách tri ân được thực hiện công bằng, minh bạch, không để những người đã hy sinh, cống hiến phải mang theo nỗi day dứt khi tuổi đời đã xế chiều.
Từ đây, cần làm rõ mối quan hệ giữa niềm tin của Nhân dân và “thế trận lòng dân”. Niềm tin chính trị, sự đồng thuận xã hội và “thế trận lòng dân” có quan hệ mật thiết nhưng không hoàn toàn đồng nhất. Sự đồng thuận xã hội thể hiện ở mức độ thống nhất về nhận thức, chia sẻ trách nhiệm và sẵn sàng phối hợp thực hiện những mục tiêu chung. Trong khi đó, “thế trận lòng dân” có nội hàm rộng hơn, gắn với nền tảng chính trị, tinh thần và xã hội được tạo dựng từ niềm tin, sự gắn bó, đồng thuận, đoàn kết và khả năng phát huy sức mạnh của Nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Theo cách tiếp cận này, niềm tin không tự động chuyển hóa thành “thế trận lòng dân” nhưng là một trong những điều kiện nền tảng để tăng cường sự đồng thuận, củng cố mối quan hệ giữa Đảng với Nhân dân và huy động sự tham gia của Nhân dân vào các nhiệm vụ chung. Vì vậy, xây dựng “thế trận lòng dân” không thể chỉ dựa vào tuyên truyền, vận động hay những lời khẳng định về sự gắn bó giữa Đảng với Nhân dân. Nền tảng ấy phải được bồi đắp từ thực tiễn lãnh đạo, quản lý và phục vụ Nhân dân; từ sự công bằng trong tiếp cận chính sách, tính minh bạch trong giải quyết công việc, trách nhiệm của cơ quan công quyền và khả năng để người dân tham gia phản ánh, giám sát những vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền lợi của mình. Khi người dân nhận thấy các chủ trương được thực hiện nhất quán, những đóng góp của các thế hệ đi trước được trân trọng, các quyền lợi hợp pháp, chính đáng được bảo đảm và những bất cập được xử lý có trách nhiệm, sự tin cậy và gắn bó xã hội có điều kiện được tăng cường. Ngược lại, sự thiếu công bằng, chậm trễ hoặc thiếu trách nhiệm trong thực thi chính sách có thể làm gia tăng khoảng cách giữa chủ trương và thực tiễn, ảnh hưởng đến sự đồng thuận và sức mạnh đoàn kết.
Đối với chính sách người có công, yêu cầu đó càng đặt ra rõ nét. Bên cạnh những kết quả tích cực, thực tiễn vẫn cho thấy có những trường hợp cần tiếp tục rà soát, những quyền lợi chưa được giải quyết kịp thời và những hạn chế trong công tác quản lý, kiểm tra, giám sát. Những vấn đề đó cần được xem xét khách quan, dựa trên căn cứ và kết luận có thẩm quyền, nhằm xác định nguyên nhân, khắc phục bất cập và phòng ngừa sai phạm tái diễn.
Điều cần nhìn thẳng là khoảng cách giữa chủ trương đúng và kết quả thực hiện không chỉ bắt nguồn từ khó khăn khách quan, mà còn có thể phản ánh hạn chế trong lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý và tổ chức thực hiện. Khi hồ sơ tồn đọng kéo dài mà chưa được rà soát đến cùng; khi quyền lợi của người có công bị giải quyết chậm hoặc chưa đúng mà cơ chế kiểm tra không phát hiện kịp thời; khi sai sót đã được chỉ ra nhưng việc khắc phục chưa tương xứng, thì vấn đề không còn đơn thuần là thủ tục hành chính. Đó còn là câu hỏi về trách nhiệm công vụ, hiệu quả kiểm tra, giám sát và năng lực tự chấn chỉnh của cơ quan, tổ chức có liên quan. Xây dựng, chỉnh đốn Đảng đòi hỏi phải nhìn nhận những hạn chế ấy trên tinh thần khách quan, cầu thị, không né tránh, không bao biện, cũng không quy kết khi chưa đủ căn cứ. Cần phân biệt nguyên nhân khách quan với những biểu hiện chủ quan như thiếu sâu sát, phối hợp thiếu chặt chẽ, chậm phát hiện hoặc chậm khắc phục sai sót; trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ và kết luận của cơ quan có thẩm quyền, làm rõ trách nhiệm của từng khâu, từng chủ thể và xem xét trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo khi có căn cứ cho thấy việc kiểm tra, giám sát chưa được thực hiện đầy đủ. Từ mối quan hệ giữa trách nhiệm lãnh đạo, hiệu quả thực thi chính sách và niềm tin của Nhân dân, yêu cầu đặt ra là phải cụ thể hóa quan điểm “dân là gốc” bằng những giải pháp thiết thực, gắn trách nhiệm của cấp ủy, người đứng đầu và đội ngũ cán bộ với kết quả giải quyết quyền lợi chính đáng của người có công.
Như vậy, thực thi chính sách người có công là khâu chuyển hóa chủ trương của Đảng và quy định của Nhà nước thành quyền lợi cụ thể của người dân. Chính ở khâu này, trách nhiệm lãnh đạo của cấp ủy, hiệu lực quản lý của chính quyền và tinh thần phục vụ của đội ngũ cán bộ được thể hiện qua kết quả thực tế. Vì thế, đánh giá chính sách không thể chỉ dừng ở tính đầy đủ của văn bản hay nguồn lực được bố trí, mà phải xem xét cả mức độ bảo đảm quyền lợi của người thụ hưởng, khả năng xử lý vướng mắc và trách nhiệm khắc phục những hạn chế phát sinh.
3. Giải pháp nâng cao năng lực lãnh đạo và trách nhiệm thực thi chính sách
Một là, cấp ủy phải lãnh đạo theo hiệu quả, không chỉ theo nhiệm vụ.
Cấp ủy, tổ chức đảng phải gắn lãnh đạo thực hiện chính sách người có công với kết quả giải quyết quyền lợi của người thụ hưởng. Việc ban hành kế hoạch, phân công nhiệm vụ hay hoàn thành quy trình mới là điều kiện cần; trách nhiệm lãnh đạo chỉ được thể hiện đầy đủ khi chính sách được thực hiện đúng đối tượng, đúng chế độ, đúng thời hạn và những vướng mắc thuộc thẩm quyền được giải quyết kịp thời. Vì vậy, cần đưa kết quả thực hiện chính sách vào nội dung kiểm tra, đánh giá trách nhiệm của tổ chức đảng, chính quyền và cán bộ có liên quan.
Cần khắc phục cách nhìn cho rằng đã ban hành kế hoạch, phân công nhiệm vụ hoặc hoàn thành quy trình đồng nghĩa với hoàn thành trách nhiệm. Một nhiệm vụ chỉ thực sự hoàn thành khi quyền lợi chính đáng của người dân được giải quyết đúng, đủ và kịp thời. Nếu người dân phải đi lại nhiều lần, hồ sơ vẫn tồn đọng hoặc chính sách chưa đến đúng đối tượng thì không thể lấy việc “đã triển khai” để thay thế cho kết quả thực tế. Xây dựng cơ chế theo dõi các hồ sơ tồn đọng, hồ sơ có vướng mắc kéo dài và trường hợp giải quyết chưa đúng hạn; xác định rõ cơ quan chịu trách nhiệm, thời hạn xử lý và kết quả phải đạt được. Với những vụ việc phức tạp, vượt thẩm quyền, cấp có trách nhiệm phải chủ động phối hợp, báo cáo và đề xuất phương án tháo gỡ, không để người dân tự tìm cách giải quyết giữa nhiều cơ quan.
Hai là, đổi mới cách thức tổ chức thực hiện, chuyển từ “người dân đi làm chính sách” sang “chính sách chủ động tìm đến người dân”.
Đổi mới phương thức thực hiện chính sách cần bắt đầu từ việc rà soát toàn bộ quy trình giải quyết hồ sơ, xác định những khâu trung gian không cần thiết và những yêu cầu giấy tờ có thể được thay thế bằng dữ liệu được cơ quan nhà nước quản lý hợp pháp. Việc ứng dụng công nghệ và kết nối dữ liệu phải hướng tới mục tiêu giảm gánh nặng thủ tục cho người dân, đồng thời bảo đảm an toàn thông tin, tính chính xác của dữ liệu và khả năng tiếp cận của người cao tuổi, người có hoàn cảnh khó khăn.
Đối với người có công, yêu cầu này càng cần được thực hiện nghiêm túc. Nhiều người đã cao tuổi, sức khỏe hạn chế; thân nhân có thể ở xa nơi giải quyết hồ sơ. Vì vậy, cần chuyển từ tư duy “quản lý hồ sơ” sang “giải quyết quyền lợi của người dân”. Nếu cán bộ chỉ quan tâm hồ sơ đã đủ giấy tờ hay chưa mà không quan tâm những khó khăn của người dân trong quá trình hoàn thiện hồ sơ thì thủ tục rất dễ trở thành rào cản. Những trường hợp thiếu giấy tờ do hoàn cảnh lịch sử đặc thù cần được hướng dẫn xử lý theo đúng quy định pháp luật, không tự ý đặt thêm điều kiện nhưng cũng không được bỏ qua yêu cầu xác minh, bảo đảm đúng đối tượng và ngăn ngừa trục lợi chính sách.
Đặc biệt, cần có giải pháp cụ thể đối với những trường hợp người có công bị thất lạc, mất mát hồ sơ sau khi giải ngũ, sau các cuộc kháng chiến hoặc trong những năm tháng chuyển giao, sắp xếp tổ chức sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Qua nhiều thập niên, đơn vị cũ có thể đã giải thể, sáp nhập; hồ sơ quân nhân, giấy tờ phục vụ chiến đấu, giấy xác nhận quá trình công tác hoặc tài liệu lưu trữ có thể không còn đầy đủ. Trong những trường hợp này, cần tránh cách làm thụ động, chỉ yêu cầu người dân tự tìm đủ giấy tờ mới tiếp nhận hoặc xem xét hồ sơ. Thay vào đó, cơ quan chức năng cần chủ động hướng dẫn, tiếp nhận thông tin ban đầu và phối hợp xác minh theo thẩm quyền, trên cơ sở các tài liệu, dữ liệu còn lưu giữ tại cơ quan quân sự, cơ quan lưu trữ, đơn vị cũ, chính quyền địa phương và các nguồn thông tin hợp pháp khác. Trước hết, cần tổ chức rà soát, thống kê và phân loại những trường hợp hồ sơ bị thất lạc, hồ sơ thiếu giấy tờ, hồ sơ chưa được giải quyết hoặc còn vướng mắc kéo dài. Việc phân loại cần làm rõ nguyên nhân thiếu hồ sơ, quá trình tham gia chiến đấu hoặc phục vụ chiến đấu, đơn vị công tác trước đây, địa bàn hoạt động và những thông tin có thể phục vụ xác minh. Trên cơ sở đó, xây dựng phương án xử lý phù hợp với từng nhóm trường hợp; xác định cơ quan đầu mối, cơ quan phối hợp và thời hạn phản hồi, tránh để người dân phải tự liên hệ nhiều nơi mà không biết cơ quan nào chịu trách nhiệm giải quyết.
Đối với người từng tham gia kháng chiến, chiến đấu bảo vệ Tổ quốc hoặc thực hiện nhiệm vụ sau ngày giải phóng miền Nam, cần tăng cường phối hợp giữa cơ quan nội vụ, cơ quan quân sự, cơ quan lưu trữ và chính quyền địa phương để tra cứu hồ sơ theo đúng thẩm quyền. Khi giấy tờ gốc không còn, cơ quan chức năng cần hướng dẫn người dân cung cấp những thông tin, tài liệu hiện có; xem xét việc đối chiếu hồ sơ lưu trữ, xác minh nhân chứng và các nguồn chứng cứ khác nếu pháp luật quy định hoặc cho phép áp dụng. Việc xác minh phải bảo đảm khách quan, chặt chẽ, đúng trình tự, thủ tục; không mặc nhiên bác bỏ trường hợp chỉ vì thất lạc giấy tờ, nhưng cũng không suy đoán hoặc công nhận chế độ khi chưa đủ căn cứ pháp lý. Cùng với đó, cần thiết lập đầu mối tiếp nhận phản ánh về hồ sơ người có công bị thất lạc hoặc chưa được giải quyết; công khai thông tin liên hệ, quy trình tiếp nhận và hướng dẫn thủ tục để người dân dễ tiếp cận. Có thể lồng ghép nội dung rà soát này vào các đợt rà soát chính sách người có công tại địa phương, hoạt động tiếp xúc, đối thoại với Nhân dân và các chương trình phối hợp với tổ chức chính trị - xã hội. Đối với người cao tuổi, người sức khỏe yếu hoặc gặp khó khăn trong đi lại, cần tăng cường hướng dẫn trực tiếp, hỗ trợ hoàn thiện hồ sơ trong phạm vi quy định và hạn chế yêu cầu cung cấp lại thông tin mà cơ quan nhà nước đã có thể tra cứu hợp pháp.
Để tránh tình trạng hồ sơ được tiếp nhận nhưng tiếp tục kéo dài, cần theo dõi tiến độ xử lý theo từng trường hợp; thông báo rõ kết quả xác minh, nội dung còn thiếu và lý do chưa đủ điều kiện giải quyết. Những vụ việc vượt thẩm quyền phải được chuyển hoặc báo cáo cơ quan có thẩm quyền, đồng thời thông tin cho người dân biết tình trạng xử lý. Kết quả rà soát cần được tổng hợp để nhận diện những vướng mắc có tính hệ thống, làm căn cứ kiến nghị hoàn thiện quy trình, tăng cường phối hợp và nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách. Đây là cách chuyển từ giải quyết từng hồ sơ riêng lẻ sang chủ động tháo gỡ những điểm nghẽn ảnh hưởng đến quyền lợi của nhiều người có công.
Ba là, nâng cao trách nhiệm công vụ và trách nhiệm người đứng đầu.
Chính sách được thực hiện thông qua con người, vì vậy chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức trực tiếp thực thi có ý nghĩa quyết định đối với hiệu quả chính sách. Một văn bản tốt có thể bị giảm giá trị nếu người thực hiện không hiểu chính sách, thiếu kỹ năng, né tránh trách nhiệm hoặc có thái độ thiếu chuẩn mực. Quy trình là cần thiết để bảo đảm tính pháp lý nhưng không thể trở thành lý do để đẩy phần khó về phía người dân.
Kiên quyết khắc phục tâm lý né tránh, đùn đẩy, sợ trách nhiệm hoặc coi việc hướng dẫn người dân là công việc ngoài nhiệm vụ. Cán bộ thực thi chính sách phải hiểu rằng mỗi hồ sơ người có công không chỉ là một tập giấy tờ, mà phía sau đó có thể là một cuộc đời đã trải qua chiến tranh, một gia đình đã mất đi người thân và một sự hy sinh không khoản vật chất nào có thể bù đắp đầy đủ. Vì vậy, bên cạnh yêu cầu đúng pháp luật, cán bộ, đảng viên cần có sự thấu hiểu và tinh thần phục vụ. Khi hồ sơ chưa đủ điều kiện, phải nói rõ lý do; khi cần bổ sung giấy tờ, phải hướng dẫn cụ thể; khi thuộc trách nhiệm của cơ quan mình thì phải chủ động giải quyết.
Trách nhiệm người đứng đầu phải được thể hiện bằng khả năng tổ chức công việc, phát hiện vấn đề, chỉ đạo tháo gỡ và chịu trách nhiệm về những hạn chế thuộc phạm vi quản lý. Đối với vụ việc tồn đọng kéo dài, cần làm rõ nguyên nhân do quy định chưa phù hợp, do phối hợp chưa hiệu quả, do hạn chế về năng lực hay do hành vi thiếu trách nhiệm của cá nhân, tập thể. Trên cơ sở đó, có biện pháp khắc phục và xử lý phù hợp, tránh quy trách nhiệm chung chung khiến không ai chịu trách nhiệm cụ thể, hoặc quy kết khi chưa đủ căn cứ. Đồng thời, phải gắn trách nhiệm giải trình với cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, chủ động giải quyết công việc vì lợi ích chung trong khuôn khổ pháp luật. Phân biệt rõ sai sót do hạn chế năng lực, rủi ro khách quan với hành vi cố ý làm trái, vụ lợi, né tránh hoặc buông lỏng trách nhiệm sẽ góp phần tạo môi trường công vụ nghiêm minh, khuyến khích tinh thần chủ động và ngăn ngừa tình trạng sợ trách nhiệm.
Để trách nhiệm người đứng đầu không dừng ở yêu cầu mang tính nguyên tắc, cần gắn trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo với kết quả xử lý các vụ việc thuộc phạm vi quản lý. Đối với hồ sơ tồn đọng, hồ sơ chậm giải quyết hoặc có phản ánh về quyền lợi chưa được bảo đảm, phải xác định rõ đầu mối chịu trách nhiệm, thời hạn xử lý, cơ quan phối hợp và kết quả cần đạt được. Những trường hợp kéo dài bất thường cần được rà soát nguyên nhân, báo cáo cấp có thẩm quyền và có biện pháp tháo gỡ cụ thể. Khi đã có kết luận về sai sót, phải theo dõi việc thực hiện yêu cầu khắc phục; trường hợp chậm khắc phục hoặc không thực hiện đầy đủ phải được xem xét trách nhiệm theo quy định. Đánh giá người đứng đầu không thể chỉ căn cứ vào số lượng văn bản đã ban hành, số cuộc họp đã tổ chức hay tỷ lệ hoàn thành nhiệm vụ trên báo cáo, mà cần xem xét cả kết quả giải quyết quyền lợi chính đáng của người dân, chất lượng phối hợp và khả năng xử lý những vụ việc phức tạp, tồn đọng. Trách nhiệm phải được xác định đúng người, đúng việc, đúng thẩm quyền; xử lý nghiêm hành vi thiếu trách nhiệm nhưng đồng thời bảo vệ cán bộ chủ động, tận tâm, làm đúng pháp luật vì lợi ích chung.
Đối với hồ sơ người có công bị thất lạc, người đứng đầu cơ quan, đơn vị cần chỉ đạo xác định rõ đầu mối tiếp nhận, trách nhiệm phối hợp xác minh và thời hạn xử lý; định kỳ kiểm tra các trường hợp tồn đọng, nhất là những hồ sơ đã được người dân phản ánh nhiều lần. Nếu vướng mắc phát sinh do phối hợp chưa hiệu quả, cần chủ động điều phối giữa các cơ quan; nếu do hướng dẫn không đầy đủ hoặc chậm trễ trong thực thi công vụ, phải kịp thời chấn chỉnh và xem xét trách nhiệm theo quy định. Trách nhiệm của người đứng đầu không chỉ nằm ở việc giải quyết những hồ sơ thuộc thẩm quyền trực tiếp, mà còn ở khả năng tổ chức phối hợp để tháo gỡ những vụ việc phức tạp, không để người có công phải tự mình xoay xở giữa nhiều cơ quan.
Hạn chế tối đa tình trạng người có công phải đi nhiều nơi chỉ để hoàn thiện một thủ tục; không để gia đình liệt sĩ phải chờ đợi quá lâu để được giải quyết quyền lợi chính đáng; đồng thời kịp thời chấn chỉnh những trường hợp thiếu trách nhiệm trong thực thi công vụ. Thực hiện chính sách người có công trong giai đoạn mới phải gắn với cải cách hành chính, chuyển đổi số, công khai, minh bạch, nâng cao trách nhiệm công vụ và tăng cường kiểm tra, giám sát. Ở góc độ này, mỗi cán bộ, công chức thực thi chính sách chính là một “điểm chạm” giữa Nhà nước và người dân. Một hành vi ứng xử đúng mực, một hồ sơ được giải quyết có trách nhiệm, một trường hợp khó khăn được hướng dẫn tận tình đều có thể góp phần củng cố niềm tin; ngược lại, sự quan liêu, né tránh hoặc đùn đẩy trách nhiệm có thể làm suy giảm niềm tin ấy.
Bốn là, tăng cường kiểm tra, giám sát gắn trách nhiệm với thực hiện chính sách tri ân và lấy phản hồi của Nhân dân làm kênh kiểm chứng.
Một chủ trương đúng chỉ thực sự đi vào cuộc sống khi được tổ chức thực hiện nghiêm túc và được kiểm chứng bằng kết quả cụ thể. Vì vậy, kiểm tra, giám sát không chỉ nhằm phát hiện sai phạm để xử lý mà còn là phương thức để cấp ủy, tổ chức đảng nhận diện những điểm nghẽn trong lãnh đạo, chỉ đạo; kịp thời chấn chỉnh hạn chế trong tổ chức thực hiện và làm rõ trách nhiệm của tập thể, cá nhân có liên quan.
Đối với chính sách liên quan trực tiếp đến quyền lợi của người có công, kiểm tra, giám sát phải gắn với trách nhiệm giải trình và việc khắc phục sau kiểm tra. Cần làm rõ sai sót xảy ra ở khâu nào, nguyên nhân do đâu, trách nhiệm thuộc về ai và biện pháp ngăn ngừa tái diễn. Đây là cách để kiểm tra, giám sát trở thành một bộ phận của quá trình nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng, thay vì chỉ là hoạt động xử lý hậu quả sau khi vấn đề đã phát sinh.
Thực tiễn thực hiện chính sách người có công cho thấy, ở đâu công tác kiểm tra, rà soát chưa được tiến hành thường xuyên, ở đó sai sót có thể kéo dài, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người dân. Điển hình như tại tỉnh Thanh Hóa, qua rà soát, cơ quan chức năng xác định việc chi sai chế độ người có công có “2.116 đối tượng, với tổng số tiền phải thu hồi là hơn 258 tỉ đồng; tổng số tiền đã thu hồi nộp ngân sách Nhà nước là hơn 1,1 tỉ đồng, số tiền còn phải thu hồi là hơn 257 tỉ đồng” (Quách Du, 2026). Những sai sót trong thực hiện chính sách người có công, khi đã được cơ quan có thẩm quyền xác định, không chỉ đặt ra yêu cầu khắc phục hậu quả mà còn đòi hỏi xem xét hiệu quả của cơ chế quản lý, kiểm tra và giám sát. Vấn đề không dừng ở việc thu hồi khoản chi chưa đúng quy định mà còn ở khả năng nhận diện nguyên nhân, làm rõ trách nhiệm theo từng khâu và ngăn ngừa sai sót tái diễn. Nếu việc kiểm tra chỉ được tăng cường sau khi sai phạm đã phát sinh, trong khi những dấu hiệu bất cập chưa được phát hiện kịp thời, thì hiệu quả phòng ngừa và năng lực tự chấn chỉnh của hệ thống quản lý cần tiếp tục được xem xét.
Quy mô khoản tiền phải thu hồi đặt ra những câu hỏi cần được trả lời bằng kết quả kiểm tra, xác minh cụ thể: Một khoản chi sai chế độ với quy mô lớn không thể chỉ được nhìn nhận như một con số trong báo cáo rà soát. Đằng sau đó là yêu cầu phải làm rõ chất lượng thẩm định hồ sơ, tính chặt chẽ của quy trình xét duyệt, hiệu quả kiểm tra trước và sau chi trả, cũng như trách nhiệm của các chủ thể liên quan theo từng khâu. Nếu cơ chế kiểm soát đã có nhưng sai sót vẫn phát sinh và kéo dài, cần xác định nguyên nhân vì sao các biện pháp phòng ngừa chưa phát huy hiệu quả như yêu cầu. Nếu sai sót chỉ được phát hiện sau một thời gian dài, cũng cần xem xét việc kiểm tra, giám sát đã kịp thời, đầy đủ hay chưa. Những vấn đề này phải được trả lời bằng hồ sơ, kết quả xác minh và kết luận của cơ quan có thẩm quyền, không bằng suy đoán hoặc những nhận định chung chung. Yêu cầu đặt ra không chỉ là thu hồi khoản chi sai quy định, mà còn phải làm rõ trách nhiệm, khắc phục lỗ hổng quản lý và bảo đảm sai sót tương tự không tiếp tục tái diễn.
Từ góc độ xây dựng Đảng, yêu cầu đặt ra là phải gắn công tác kiểm tra, giám sát với trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện chính sách. Cấp ủy, tổ chức đảng và cơ quan quản lý có liên quan cần căn cứ chức năng, thẩm quyền và kết luận của cơ quan có trách nhiệm để xác định rõ những khâu cần chấn chỉnh, những hạn chế cần khắc phục và biện pháp phòng ngừa phù hợp. Kiểm tra, giám sát chỉ phát huy đầy đủ ý nghĩa khi kết quả kiểm tra dẫn đến hành động khắc phục cụ thể, trách nhiệm được làm rõ và những bất cập trong cơ chế thực hiện được xử lý. Qua đó, kỷ luật, kỷ cương được tăng cường, quyền lợi chính đáng của người có công được bảo vệ và niềm tin của Nhân dân được củng cố trên cơ sở kết quả thực tế.
Bên cạnh đó, kiểm tra, giám sát là khâu quan trọng bảo đảm chính sách tri ân người có công được thực hiện đúng đối tượng, đúng quy định và phát huy hiệu quả trong thực tiễn. Ví dụ gần nhất “Thanh tra Chính phủ chỉ rõ nhiều hạn chế, vi phạm trong việc thực hiện chính sách hỗ trợ người có công với cách mạng cải thiện nhà ở tại tỉnh Vĩnh Phúc (nay thuộc tỉnh Phú Thọ) giai đoạn 2008 - 2019” (HT, 2026) cho thấy, bên cạnh kết quả hỗ trợ hàng nghìn hộ gia đình, vẫn còn những hạn chế trong ban hành quy định, xác minh đối tượng, kiểm tra, giám sát và xử lý các trường hợp chưa đúng quy định. Thực tế đó cho thấy yêu cầu tăng cường kiểm tra, giám sát trong toàn bộ quá trình thực hiện chính sách, từ xác định đối tượng, xét duyệt đến hỗ trợ và xử lý những trường hợp chưa đúng quy định. Qua đó, cần làm rõ nguyên nhân, trách nhiệm của các chủ thể liên quan theo kết luận của cơ quan có thẩm quyền, đồng thời khắc phục hạn chế và phòng ngừa sai sót tái diễn. Việc rà soát, khắc phục hạn chế, thu hồi khoản hỗ trợ không đúng quy định và xem xét trách nhiệm của tổ chức, cá nhân liên quan cần được thực hiện nghiêm túc, khách quan, đúng pháp luật. Quan trọng hơn, cần hoàn thiện quy trình, tiêu chí xét duyệt, nâng cao năng lực cán bộ và duy trì cơ chế kiểm tra thường xuyên để ngăn ngừa sai sót tái diễn. Kiểm tra, giám sát phải đi đến cùng trách nhiệm và kết quả khắc phục. Không thể coi việc phát hiện sai sót là đã hoàn thành nhiệm vụ nếu quyền lợi bị ảnh hưởng chưa được giải quyết, nguyên nhân chưa được làm rõ và biện pháp phòng ngừa chưa được thực hiện. Với những hạn chế kéo dài, cần căn cứ chức năng, thẩm quyền và kết luận của cơ quan có trách nhiệm để xem xét trách nhiệm của từng khâu, từng chủ thể; đồng thời kiểm tra việc thực hiện các yêu cầu khắc phục sau kiểm tra.
Cùng với kiểm tra, giám sát nội bộ, phản hồi của Nhân dân phải được coi là một kênh quan trọng để kiểm chứng kết quả lãnh đạo và tổ chức thực hiện chính sách. Người dân trực tiếp thụ hưởng chính sách nên có thể nhận biết rõ thủ tục có thuận lợi hay không, quyền lợi có được giải quyết đầy đủ hay không, cán bộ có hướng dẫn tận tình hay không và những vướng mắc phát sinh ở đâu. Nhân dân không chỉ là đối tượng thụ hưởng mà còn là chủ thể tham gia giám sát quá trình thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng. Phản hồi của người dân, nhất là người có công và thân nhân là kênh thông tin quan trọng giúp cơ quan chức năng nhận diện những bất cập trong quy trình xét duyệt, xác định đối tượng, giải quyết chế độ và tổ chức thực hiện tại cơ sở. Những ý kiến, kiến nghị, phản ánh về việc chậm giải quyết hồ sơ, quyền lợi chưa được bảo đảm hoặc dấu hiệu thực hiện chưa đúng quy định cần được tiếp nhận, xác minh và xử lý kịp thời, khách quan, đúng pháp luật.
Để phát huy vai trò này, cần thực hiện công khai, minh bạch các tiêu chí, điều kiện, quy trình và kết quả giải quyết chính sách; duy trì các kênh tiếp nhận phản ánh thuận tiện, bảo đảm việc trả lời, giải quyết kiến nghị có thời hạn và rõ trách nhiệm. Đồng thời, cần tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, cộng đồng dân cư và người có công tham gia giám sát phù hợp với chức năng, thẩm quyền; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người phản ánh, kiến nghị. Quan trọng hơn, phản hồi của Nhân dân phải được xem là căn cứ để rà soát, điều chỉnh cách thức tổ chức thực hiện, chứ không chỉ dừng ở việc tiếp nhận thông tin.
Khi tiếng nói của người dân được lắng nghe, phản ánh được giải quyết thỏa đáng và sai sót được khắc phục, hiệu quả giám sát sẽ được nâng cao, góp phần phòng ngừa vi phạm, bảo vệ quyền lợi chính đáng của người có công. Qua đó, chính sách tri ân không chỉ được thực hiện đúng quy định mà còn củng cố niềm tin của Nhân dân, tăng cường mối quan hệ gắn bó giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân và bồi đắp “thế trận lòng dân”.
Tri ân người có công vì thế không chỉ là sự tiếp nối đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” mà còn là yêu cầu cụ thể đối với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước và chất lượng phục vụ Nhân dân. Một chủ trương đúng phải được bảo đảm bằng tổ chức thực hiện nghiêm; sai sót được phát hiện phải dẫn đến hành động sửa chữa; quyền lợi chính đáng bị ảnh hưởng phải được xem xét, giải quyết theo quy định. Không thể coi một vụ việc đã kết thúc chỉ vì đã ban hành văn bản chỉ đạo hoặc tổ chức kiểm điểm, trong khi quyền lợi của người dân chưa được giải quyết hoặc nguyên nhân dẫn đến sai sót vẫn còn. Vì vậy, khi cấp ủy sâu sát, người đứng đầu chủ động chịu trách nhiệm, cán bộ thực thi tận tâm và cơ chế kiểm tra, giám sát gắn với khắc phục hạn chế, phòng ngừa sai phạm tái diễn, hiệu quả lãnh đạo, quản lý sẽ được đo bằng kết quả thực tế và quyền lợi chính đáng của người dân được bảo đảm. Đó chính là cách đưa yêu cầu xây dựng, chỉnh đốn Đảng vào thực tiễn thực thi chính sách tri ân, củng cố niềm tin của Nhân dân, tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân và bồi đắp “thế trận lòng dân” trong giai đoạn phát triển mới./.
----------------------------------------
Tài liệu tham khảo:
1. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập II, Nxb CTQG-ST, H. 2026, tr. 237-238, 275.
2. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb CTQG-ST, H.2011, tr.204.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, H.1987, tr.102.
4. Cục Thông tin và Truyền thông Chính phủ, Phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm bế mạc Hội nghị Trung ương khóa XIV, https://baochinhphu.vn/phat-bieu-cua-tong-bi-thu-chu-tich-nuoc-to-lam-be-mac-hoi-nghi-trung-uong-4-102261008162000991.htm.
5. Linh Anh, Công nhận bà Nguyễn Thị Lệ là vợ liệt sĩ Huỳnh Văn Quên, https://baochinhphu.vn/cong-nhan-ba-nguyen-thi-le-la-vo-liet-si-huynh-van-quen-102260718173313125.htm.
6. Anh Tú, 13 chiến sĩ Đội K74 thăng quân hàm khi làm nhiệm vụ tìm kiếm hài cốt liệt sĩ, https://laodong.vn/thoi-su/13-chien-si-doi-k74-thang-quan-ham-khi-lam-nhiem-vu-tim-kiem-hai-cot-liet-si-1773527.ldo.
7. Quách Du, Khó thu hồi hơn 257 tỉ đồng tiền chi sai chế độ cho người có công, https://laodong.vn/y-kien-ban-doc/kho-thu-hoi-hon-257-ti-dong-tien-chi-sai-che-do-cho-nguoi-co-cong-1465917.ldo.
8. HT, Thanh tra Chính phủ chỉ rõ nhiều tồn tại trong thực hiện chính sách hỗ trợ nhà ở cho người có công tại Vĩnh Phúc (cũ), ngày 25/9/2026, https://thanhtra.com.vn/ket-luan-thanh-tra-E17BD7A25/thanh-tra-chinh-phu-chi-ro-nhieu-ton-tai-trong-thuc-hien-chinh-sach-ho-tro-nha-o-cho-nguoi-co-cong-tai-vinh-phuc-cu-1bf3d7451.html.
ThS. Đào Thị Hạnh
Tạp chí Tổ chức nhà nước và Lao động, Bộ Nội vụ
ThS. Hồ Xuân Tam
Tổng Công ty Hàng không Việt Nam
.
Tin tức cùng chuyên mục
Bài viết cùng tác giả