Cao Bằng phát triển kinh tế - xã hội
vùng đồng bào dân tộc gắn với bảo tồn các giá trị văn hóa.
Những chuyển biến rõ nét
Cao Bằng là tỉnh miền núi, biên giới, địa hình chia cắt, dân cư phân bố không tập trung; đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) chiếm 96,93% dân số. Những đặc điểm về địa lý, dân cư vừa tạo nên sự đa dạng về văn hóa, vừa đặt ra không ít thách thức đối với phát triển kinh tế - xã hội, nhất là tại các xã, thôn, bản vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới.
Trong bối cảnh đó, với sự vào cuộc của cấp ủy, chính quyền các cấp và sự tham gia của người dân, việc thực hiện các chính sách, chương trình phát triển vùng đồng bào DTTS và miền núi đã đạt nhiều kết quả đáng ghi nhận. Đặc biệt, Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi giai đoạn 2021 - 2025 đã góp phần tháo gỡ những khó khăn về hạ tầng, sinh kế và tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản.
Theo báo cáo của UBND tỉnh Cao Bằng, số hộ nghèo đa chiều DTTS giảm từ 51.616 hộ năm 2023 xuống còn 41.681 hộ năm 2025, giảm 9.931 hộ. Tỷ lệ hộ nghèo đa chiều DTTS giảm từ 41,35% xuống còn 33%, tương ứng giảm 8,35 điểm phần trăm. Riêng tỷ lệ hộ nghèo DTTS giảm từ 25,61% năm 2023 xuống 16,47% năm 2025. Đến ngày 30/6/2026, tỷ lệ giảm nghèo trong đồng bào DTTS bình quân giai đoạn đạt 4%/năm, bằng mức kế hoạch tỉnh đề ra.
Cùng với giảm nghèo, quy mô kinh tế địa phương từng bước được cải thiện. GRDP bình quân đầu người tăng từ 38,71 triệu đồng năm 2022 lên 49,62 triệu đồng năm 2025, tăng khoảng 28,2% sau ba năm. Tốc độ tăng GRDP cũng có xu hướng tích cực, từ 4,46% năm 2022 lên 7,22% năm 2025. Đây là cơ sở quan trọng để Cao Bằng tiếp tục tạo nguồn lực cho đầu tư phát triển và cải thiện đời sống người dân.
Chuyển từ hỗ trợ sinh kế sang phát triển sản xuất
Thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững, Cao Bằng từng bước chuyển trọng tâm từ hỗ trợ trực tiếp sang tạo điều kiện để người dân phát triển sản xuất hàng hóa, hình thành vùng nguyên liệu và tham gia liên kết thị trường.
Đến cuối năm 2025, tỉnh đã triển khai 891 dự án hỗ trợ sản xuất cộng đồng và 88 dự án liên kết theo chuỗi giá trị, thu hút hơn 46.530 hộ dân tham gia. Việc liên kết người dân với hợp tác xã, doanh nghiệp và thị trường giúp các nguồn lực hỗ trợ phát huy hiệu quả tốt hơn, đồng thời tạo điều kiện nâng cao năng suất, giá trị sản phẩm và thu nhập.
Chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP) cũng trở thành một hướng đi quan trọng trong phát triển kinh tế nông thôn. Đến tháng 6/2026, toàn tỉnh có 188 sản phẩm OCOP, trong đó có 10 sản phẩm 4 sao và 178 sản phẩm 3 sao, với 123 chủ thể tham gia. Các sản phẩm thuộc nhiều nhóm như thực phẩm, đồ uống, thủ công mỹ nghệ, du lịch cộng đồng và du lịch sinh thái.
Đáng chú ý, phát triển OCOP ngày càng gắn với bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa. Việc giới thiệu sản phẩm tại các lễ hội truyền thống không chỉ góp phần quảng bá hàng hóa mà còn giới thiệu văn hóa, cảnh quan và con người Cao Bằng, mở ra khả năng kết nối giữa sản xuất nông nghiệp, sản phẩm địa phương và du lịch cộng đồng.
Hạ tầng và dịch vụ xã hội từng bước được cải thiện
Hạ tầng thiết yếu tiếp tục được tỉnh ưu tiên đầu tư. Đến ngày 30/6/2026, 93,8% số xã có đường ô tô đến trung tâm được rải nhựa hoặc bê tông; 70% số thôn có đường ô tô đến trung tâm được cứng hóa. 100% trạm y tế được xây dựng kiên cố; 94% đồng bào DTTS được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh và 93% hộ sử dụng điện lưới quốc gia và các nguồn điện phù hợp.
Hệ thống thiết chế văn hóa cơ sở cũng có bước phát triển. Khoảng 97% số thôn có nhà sinh hoạt cộng đồng, vượt mục tiêu tối thiểu 80%. Đây không chỉ là nơi tổ chức các hoạt động cộng đồng mà còn góp phần duy trì bản sắc văn hóa các dân tộc, tạo nền tảng phát triển du lịch cộng đồng.
Trong giáo dục, tỷ lệ trẻ 5 tuổi đến trường đạt 99,8%; học sinh tiểu học trong độ tuổi đến trường đạt 99,6%; học sinh THCS đạt 95,1%. Tỷ lệ người từ 15 tuổi trở lên đọc thông, viết thạo tiếng phổ thông đạt 90,2%. Trong lĩnh vực y tế, tỷ lệ đồng bào DTTS tham gia bảo hiểm y tế đạt 98%; tỷ lệ phụ nữ mang thai được khám định kỳ ít nhất 4 lần đạt 82,9%; tỷ lệ phụ nữ sinh con tại cơ sở y tế hoặc có sự hỗ trợ của nhân viên y tế đạt 87,5%.
Đào tạo nghề cũng có chuyển biến tích cực. Đến giữa năm 2026, tỷ lệ lao động trong độ tuổi được đào tạo nghề phù hợp với nhu cầu và điều kiện vùng DTTS, miền núi đạt 50,9%, vượt ngưỡng mục tiêu 50%. Đây là tiền đề quan trọng để chuyển dịch cơ cấu lao động, mở rộng cơ hội việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân.
Nhìn thẳng vào những điểm nghẽn
Bên cạnh kết quả đạt được, quá trình phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi Cao Bằng vẫn còn những hạn chế cần tập trung giải quyết.
Một số chỉ tiêu về hạ tầng chưa đạt mục tiêu đề ra. Tỷ lệ hộ sử dụng điện đạt 93%, đồng bào DTTS sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh đạt 94%; tỷ lệ đồng bào được xem truyền hình đạt 95% và nghe phát thanh đạt 98%. Trong giáo dục, tỷ lệ học sinh THPT đến trường mới đạt 57,3%; tỷ lệ tham gia bảo hiểm y tế của đồng bào DTTS đạt 98%, chưa đạt mục tiêu 100%.
Đáng chú ý, một số nội dung trực tiếp liên quan đến điều kiện sống của hộ nghèo như đất ở, đất sản xuất, chuyển đổi nghề, nước sinh hoạt phân tán, công trình nước sinh hoạt tập trung và sắp xếp, ổn định dân cư vẫn đạt thấp so với yêu cầu. Trong khi đó, thiên tai tiếp tục là yếu tố gây sức ép lớn đối với đời sống và sản xuất.
Những tháng đầu năm 2026, mưa lớn, dông lốc, sét, mưa đá đã làm hàng nghìn nhà dân bị tốc mái, hơn 1.400 ha sản xuất nông nghiệp bị thiệt hại hoặc ảnh hưởng, nhiều điểm trường và công trình công cộng bị hư hỏng. Các đợt mưa lớn trong tháng 5 tiếp tục gây ngập lụt, với tổng thiệt hại ước tính khoảng 80 tỷ đồng tại thời điểm báo cáo.
Tiến độ giải ngân nguồn lực cũng là vấn đề cần được quan tâm. Đối với nguồn vốn ngân sách Trung ương năm 2025 được kéo dài sang năm 2026, đến ngày 31/5/2026 mới giải ngân 96,959 tỷ đồng trong tổng số 491,871 tỷ đồng, đạt 19,7% kế hoạch; trong đó vốn đầu tư đạt 43,1%, vốn sự nghiệp đạt 11,2%.
Nguyên nhân là do nguồn vốn chuyển nguồn lớn, vốn nhỏ lẻ, dàn trải; việc rà soát, điều chỉnh nguồn vốn ở một số chủ đầu tư chưa sát thực tế; tâm lý e ngại trách nhiệm, chờ hướng dẫn cấp trên. Quá trình chuyển tiếp khi sắp xếp tổ chức bộ máy và vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp cũng tạo thêm những yêu cầu mới. Năng lực của một bộ phận cán bộ cấp xã, nhất là trong lĩnh vực tài chính, đầu tư và quản lý dự án, còn cần được nâng cao.
Tập trung nguồn lực cho giai đoạn 2026 - 2030
Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, Cao Bằng đặt mục tiêu tiếp tục nâng cao thu nhập, giảm nghèo bền vững vùng đồng bào DTTS và miền núi. Theo mục tiêu tỉnh xây dựng, GRDP bình quân đầu người dự kiến tăng từ 49,62 triệu đồng lên 112 triệu đồng vào năm 2030; tỷ lệ hộ nghèo đa chiều vùng đồng bào DTTS và miền núi giảm xuống dưới 10%; phấn đấu 100% xã và 100% thôn vùng DTTS và miền núi thoát khỏi tình trạng đặc biệt khó khăn.
Để đạt mục tiêu này, yêu cầu đặt ra trước hết là tiếp tục đổi mới phương thức tổ chức thực hiện, nâng cao trách nhiệm của chính quyền cơ sở, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với kiểm tra, giám sát. Việc Cao Bằng ban hành Nghị quyết số 02/2026/NQ-HĐND ngày 13/5/2026 về phân cấp cho HĐND cấp xã quyết định phân bổ, điều chỉnh kế hoạch đầu tư công trung hạn, hằng năm thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026 - 2030 là cơ sở để phát huy tính chủ động của cơ sở.
Cùng với đó, cần ưu tiên nguồn lực cho những công trình thiết yếu còn thiếu, nhất là điện, nước, giao thông và hạ tầng số. Theo nhu cầu được xác định, Cao Bằng cần đầu tư 455 công trình nước sinh hoạt với kinh phí khoảng 731,931 tỷ đồng và 282 công trình điện với kinh phí khoảng 572,512 tỷ đồng. Việc đầu tư mới cần đi đôi với duy tu, bảo dưỡng, nâng cao hiệu quả khai thác công trình sau đầu tư.
Trong phát triển sinh kế, cần tiếp tục chuyển mạnh sang mô hình sản xuất theo chuỗi giá trị, lựa chọn sản phẩm dựa trên lợi thế từng địa bàn và nhu cầu thị trường. Các sản phẩm có thế mạnh như dược liệu, hạt dẻ, bò Mông, miến dong và các sản phẩm nông nghiệp đặc hữu cần được tổ chức lại theo hướng hình thành vùng nguyên liệu ổn định, ứng dụng khoa học - kỹ thuật, nâng cao năng lực chế biến và xây dựng thương hiệu. Với OCOP, trọng tâm không chỉ là tăng số lượng mà cần chú trọng chất lượng, giá trị gia tăng và khả năng tiêu thụ.
Một nhiệm vụ quan trọng khác là giải quyết các vấn đề dân sinh còn tồn tại, nhất là đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt và bố trí dân cư. Cùng với hỗ trợ hộ đủ điều kiện, cần tăng cường chuyển đổi nghề đối với những hộ không còn quỹ đất sản xuất; đồng thời chủ động sắp xếp dân cư tại những khu vực có nguy cơ cao về lũ quét, sạt lở.
Đặc biệt, phát triển nguồn nhân lực phải được coi là giải pháp nền tảng. Tỷ lệ học sinh THPT đến trường còn thấp cho thấy cần có giải pháp mạnh hơn để duy trì học sinh sau THCS, nhất là tại vùng sâu, vùng xa. Đào tạo nghề cần gắn với nhu cầu thị trường, du lịch, dịch vụ, chế biến nông sản và những lĩnh vực có khả năng tạo việc làm, nâng cao thu nhập tại địa phương.
Phát triển kinh tế - xã hội cũng cần gắn với bảo tồn văn hóa và củng cố quốc phòng, an ninh khu vực biên giới. Với lợi thế về văn hóa các dân tộc, cảnh quan và hệ thống sản phẩm đặc trưng, Cao Bằng có nhiều điều kiện để phát triển du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái gắn với OCOP và các lễ hội truyền thống.
Nhìn tổng thể, những kết quả đạt được thời gian qua đã tạo nền tảng quan trọng để Cao Bằng bước vào giai đoạn phát triển mới. Tuy nhiên, để các chính sách thực sự chuyển hóa thành thu nhập, sinh kế và chất lượng sống, tỉnh cần tiếp tục tập trung nguồn lực vào những điểm nghẽn, nâng cao năng lực thực thi ở cơ sở, tăng hiệu quả quản lý và giải ngân vốn, đồng thời phát huy mạnh hơn vai trò chủ thể của người dân.
Với cách tiếp cận lấy người dân làm trung tâm, đầu tư có trọng tâm, phát triển sinh kế gắn với lợi thế địa phương và thị trường, vùng đồng bào DTTS và miền núi Cao Bằng có thêm cơ sở để thu hẹp khoảng cách phát triển, giảm nghèo bền vững và từng bước nâng cao chất lượng cuộc sống trong giai đoạn 2026 - 2030./.
Thu Trang
Tin tức cùng chuyên mục
Bài viết cùng tác giả