Tiếng Việt
Tiếng Việt Tiếng Anh

Phát huy nội lực phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số ở Thái Nguyên: Từ chính sách đến thực tiễn cơ sở

Ngày đăng: 30/09/2026   12:24
Đọc bài viết
Mặc định Cỡ chữ
Với 82/92 xã, phường thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, Thái Nguyên xác định phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi là nhiệm vụ quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. Từ đầu tư hạ tầng, hỗ trợ sinh kế đến chăm sóc sức khỏe, phổ biến pháp luật và phát huy vai trò người có uy tín, các chính sách đang từng bước tạo chuyển biến ở cơ sở. Thực tiễn tại xã Dân Tiến cho thấy hiệu quả của việc cụ thể hóa chính sách, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đổi mới phương thức tổ chức thực hiện trong giai đoạn 2026-2030.


Những công trình hạ tầng được đầu tư qua Chương trình phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số góp phần từng bước hoàn thiện diện mạo nông thôn miền núi ở xã Dân Tiến, tỉnh Thái Nguyên.

Ưu tiên nguồn lực cho vùng còn khó khăn

Sau sắp xếp đơn vị hành chính năm 2025, tỉnh Thái Nguyên có 92 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 77 xã và 15 phường. Trong đó, 82 xã, phường thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, với 36 xã khu vực III đặc biệt khó khăn. Việc mở rộng không gian quản trị sau sắp xếp đặt ra yêu cầu tổ chức lại nguồn lực và phương thức thực hiện chính sách, nhất là tại những địa bàn miền núi có địa hình rộng, dân cư phân tán và điều kiện phát triển còn hạn chế.

Trong thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, theo số liệu được tỉnh tổng hợp, tổng nguồn vốn chuyển sang năm 2026 là 326,4 tỷ đồng; đến ngày 21/5/2026 đã giải ngân 26,33 tỷ đồng. Nguồn lực này được định hướng tập trung vào những lĩnh vực có tác động trực tiếp đến đời sống người dân như kết cấu hạ tầng, sản xuất, sinh kế, giáo dục, y tế và các dịch vụ xã hội thiết yếu.

Cùng với nguồn vốn của Chương trình, Thái Nguyên đang triển khai nhiều chính sách an sinh xã hội và hỗ trợ nhà ở cho các nhóm đối tượng còn khó khăn. Tỉnh thực hiện hỗ trợ xóa nhà tạm, nhà dột nát cho 136 trường hợp là con đẻ người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học; đồng thời triển khai Đề án xây dựng 560 căn nhà từ nguồn hỗ trợ của Bộ Công an, với tổng kinh phí 44,8 tỷ đồng.

Đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số, những chính sách này có ý nghĩa vượt ra ngoài việc hỗ trợ trực tiếp một khoản kinh phí hay một công trình. Khi điều kiện nhà ở được cải thiện, hạ tầng giao thông, điện, nước, trường học, cơ sở y tế được đầu tư, người dân có thêm điều kiện ổn định cuộc sống, tổ chức sản xuất và tiếp cận tốt hơn các dịch vụ xã hội cơ bản.

Hiệu quả của chính sách cũng được thể hiện ở cách thức tổ chức thực hiện. Công tác dân tộc trên địa bàn tỉnh được triển khai gắn với tuyên truyền, vận động, phát huy vai trò của người có uy tín và tăng cường sự tham gia của cộng đồng. Các chính sách hỗ trợ được yêu cầu thực hiện công khai, đúng đối tượng; việc kiểm tra, giám sát được chú trọng nhằm hạn chế tình trạng đầu tư dàn trải và bảo đảm nguồn lực đến đúng địa chỉ.

Dân Tiến: Một địa bàn miền núi trong không gian phát triển mới

Xã Dân Tiến là một trường hợp tiêu biểu cho quá trình tổ chức thực hiện chính sách dân tộc trong điều kiện đơn vị hành chính được sắp xếp lại. Dân Tiến  được thành lập trên cơ sở sáp nhập toàn bộ diện tích tự nhiên và quy mô dân số của các xã Bình Long, Phương Giao và Dân Tiến (huyện Võ Nhai cũ), với diện tích tự nhiên 14.428,15 ha, dân số 19.414 người, với 4.391 hộ, phân bố tại 36 xóm. Trên địa bàn có 6 dân tộc chủ yếu gồm Kinh, Tày, Nùng, Dao, Mông và Cao Lan (Sán Chay).

Quy mô mới của Dân Tiến tạo ra không gian phát triển lớn hơn nhưng đồng thời cũng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với công tác quản lý, điều hành. Địa bàn rộng, dân cư phân bố tại nhiều xóm, tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số cao khiến việc rà soát đối tượng, xác định nhu cầu và tổ chức triển khai từng chính sách cần được thực hiện sát cơ sở.

Theo Báo cáo của UBND xã Dân Tiến, năm 2025, địa phương đã chủ động kiện toàn bộ máy chỉ đạo và xây dựng các kế hoạch thực hiện Chương trình. UBND xã thành lập Ban Chỉ đạo các Chương trình mục tiêu quốc gia; ban hành kế hoạch thực hiện Chương trình phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. HĐND xã cũng ban hành nghị quyết phân bổ vốn sự nghiệp thực hiện Chương trình trên địa bàn.

Điểm đáng chú ý là các nhiệm vụ không được triển khai theo một hướng đơn lẻ. Xã xây dựng kế hoạch thực hiện từ hỗ trợ đất sản xuất, chuyển đổi nghề; phát triển giáo dục; nâng cao chất lượng dân số; giảm thiểu tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống; đến truyền thông, phổ biến giáo dục pháp luật và phát huy vai trò người có uy tín.

Cách tiếp cận này phù hợp với yêu cầu phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số theo hướng đa chiều. Giảm nghèo không chỉ là hỗ trợ thu nhập mà phải đồng thời giải quyết những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thoát nghèo bền vững như đất sản xuất, việc làm, sức khỏe, giáo dục, kiến thức pháp luật và năng lực tiếp cận các cơ hội phát triển.

Một trong những kết quả rõ nét tại Dân Tiến là việc triển khai các nội dung chăm sóc sức khỏe. Năm 2025, xã được giao 66 triệu đồng vốn sự nghiệp cho Dự án 7 về chăm sóc sức khỏe nhân dân, nâng cao thể trạng, tầm vóc người dân tộc thiểu số và phòng, chống suy dinh dưỡng trẻ em. Địa phương đã giải ngân 65,99 triệu đồng, đạt 99,98% kế hoạch.

Trong khuôn khổ chương trình, UBND xã phối hợp Trung tâm Y tế Võ Nhai tổ chức khám sức khỏe, sàng lọc một số bệnh thường gặp ở người cao tuổi cho 210 người, đạt 100% kế hoạch.

Một nội dung khác được Dân Tiến chú trọng là giảm thiểu tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống. Với 103,5 triệu đồng vốn sự nghiệp, xã đã giải ngân 100% kế hoạch. Địa phương tổ chức hội nghị truyền thông cho 420 đại biểu là người có uy tín trong cộng đồng, bí thư chi bộ, trưởng xóm, Ban Công tác Mặt trận và đại diện các tổ chức, đoàn thể.

Việc lựa chọn người có uy tín, cán bộ cơ sở và những người có ảnh hưởng trong cộng đồng làm lực lượng nòng cốt tuyên truyền cho thấy chính sách đã được cụ thể hóa theo đặc điểm xã hội của địa bàn. Thay vì chỉ truyền tải thông tin theo phương thức hành chính, nội dung chính sách được đưa vào mạng lưới cộng đồng, nơi tiếng nói của người có uy tín có thể tác động trực tiếp đến nhận thức và hành vi của người dân.

Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cũng được triển khai với quy mô tương đối rộng. Xã tổ chức 3 hội nghị với 360 đại biểu là người có uy tín, bí thư, phó bí thư chi bộ, trưởng xóm, Ban Công tác Mặt trận và đại diện các tổ chức chính trị - xã hội, người dân tiêu biểu tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Đồng thời, 7.600 tờ gấp tuyên truyền về Chương trình được biên soạn, in ấn và cấp phát đến các xóm.

Tạo nền tảng cho giai đoạn 2026-2030

Theo Nghị quyết số 11-NQ/TU ngày 26/6/2026 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Thái Nguyên, việc thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026-2030, trong đó có chương trình phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi được xác định là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, với sự tham gia của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Cấp ủy lãnh đạo, định hướng; chính quyền quản lý, điều hành; Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội tuyên truyền, vận động, giám sát.

Tinh thần xuyên suốt là lấy người dân làm chủ thể, Nhà nước giữ vai trò định hướng và hỗ trợ; doanh nghiệp, hợp tác xã trở thành động lực phát triển kinh tế. Cùng với hỗ trợ sản xuất, tỉnh định hướng cơ cấu lại nông nghiệp theo hướng xanh, tuần hoàn; thúc đẩy chuyển đổi số trong chuỗi giá trị; phát triển sản phẩm chủ lực, OCOP gắn với xây dựng thương hiệu, mở rộng thị trường và phát triển du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng.

Theo đó, Thái Nguyên đặt ra những mục tiêu cao hơn đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Tỉnh phấn đấu đến năm 2030 có 95% số xã đạt chuẩn nông thôn mới; khoảng 10% số xã đạt chuẩn nông thôn mới hiện đại; tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân trên 1,5 điểm phần trăm mỗi năm; tỷ lệ hộ nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giảm xuống dưới 10%, cơ bản không còn xã, thôn đặc biệt khó khăn.

Để hiện thực hóa các mục tiêu đó, tỉnh đang từng bước hoàn thiện cơ chế phân bổ nguồn lực. HĐND tỉnh đã ban hành Nghị quyết số 22/2026/NQ-HĐND ngày 9/6/2026 quy định nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ ngân sách nhà nước thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026-2030.

Tiếp đó, Nghị quyết số 305/NQ-HĐND ngày 17/7/2026 phân bổ kế hoạch đầu tư công trung hạn đợt 1 và dự kiến chi thường xuyên giai đoạn 2026-2030. Tổng nguồn vốn thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026-2035, giai đoạn I 2026-2030 được xác định là hơn 7.941 tỷ đồng, cùng 500.000 tấn xi măng; trong đó ngân sách Trung ương hơn 3.403 tỷ đồng và ngân sách địa phương hơn 4.538 tỷ đồng.

Nguồn lực lớn hơn đồng nghĩa với yêu cầu cao hơn về quản trị và hiệu quả sử dụng vốn. Thái Nguyên xác định tăng cường kiểm tra, giám sát, kết hợp giám sát của cấp ủy, tổ chức Đảng với giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và Nhân dân. Kết quả thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia được xác định là một trong những căn cứ đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của cấp ủy, chính quyền và người đứng đầu.

Từ những kết quả đạt được và những vấn đề đặt ra trong thực tiễn, Thái Nguyên đang chuyển sang giai đoạn phát triển với yêu cầu cao hơn: không chỉ giảm nghèo mà phải tạo sinh kế bền vững; không chỉ hoàn thành công trình mà phải nâng cao hiệu quả sử dụng; không chỉ đưa chính sách đến người dân mà phải tạo điều kiện để người dân tham gia và trở thành chủ thể của quá trình phát triển./.

Thu Vân

Bài viết cùng tác giả