![]()
Cụ Huỳnh Thúc Kháng sinh năm 1876, lúc nhỏ tên là Huỳnh Hanh, tự Giới Sanh, hiệu Minh Viên, sinh tháng 10/1876 (Tự Đức 19) tại làng Thạnh Bình, tổng Tiên Giang Thượng, huyện Hà Đông (nay là huyện Tiên Phước), tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng (nay là thành phố Đà Nẵng) trong một gia đình nông hào, gốc Nho học. Năm 1900, Cụ đậu Giải nguyên (đỗ đầu kỳ thi Hương), năm 1904 đậu Tiến sĩ (đỗ đầu kỳ thi Đình), trở thành một trong “tứ hổ” Trung Kỳ nổi tiếng thời bấy giờ (cùng với Cụ Phan Bội Châu, Cụ Phan Châu Trinh và Cụ Trần Quý Cáp). Thời gian ở kinh đô Huế, qua người bạn thâm giao là Cụ Phan Châu Trinh lúc ấy đang làm quan ở Bộ Lễ, Cụ Huỳnh Thúc Kháng có dịp tiếp xúc với các nho sĩ tân học có tư tưởng cách mạng như Cụ Phan Bội Châu, Cụ Đào Nguyên Phổ… được đọc Tân Thư và hấp thụ tư tưởng văn minh dân quyền. Vốn không ham quan tước, lại chịu ảnh hưởng tây học nên sau khi thi đỗ đại khoa, Cụ Huỳnh Thúc Kháng không ra làm quan mà trở về làng ẩn cư. Chính phủ bù nhìn Nam triều và thực dân Pháp, nhất là toàn quyền Đông Dương lúc bấy giờ là Pie Mari Ăngtoan Pátxkiê (Pierre Marie Antoine Pasquier) nhiều lần tìm cách mua chuộc lôi kéo Cụ ra cộng tác với họ nhưng đã bị Cụ Huỳnh Thúc Kháng thẳng thắn cự tuyệt1.
Năm 1940, phát xít Nhật đặt chân đến Việt Nam, thực dân Pháp đầu hàng. Để thành lập một chính quyền tay sai bản xứ phục vụ cho mưu đồ Đại Đông Á, biết Cụ Huỳnh Thúc Kháng là người có uy tín lớn trong nhân dân, phát xít Nhật nhiều lần tìm cách mời cộng tác, lấy danh nghĩa Kỳ ngoại hầu Cường Để viết thư mời Cụ ra làm việc với Nhật nhưng trước sau Cụ vẫn một mực cự tuyệt. Năm 1943, phát xít Nhật thay chân Pháp, Vua Bảo Đại lại mời ra thành lập Nội các nhưng Cụ Huỳnh Thúc Kháng chẳng những từ chối mà còn viết thư thẳng thắn khuyên Vua Bảo Đại thoái vị giao quyền cho nhân dân. Tiếp đó, những chiêu bài “Việt Nam độc lập” mà phát xít Nhật dựng lên đã bao lần không đánh lừa được nhãn quan chính trị lão luyện của Cụ Huỳnh Thúc Kháng.
Đến mùa thu năm 1945, Nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng và Lãnh tụ Hồ Chí Minh đã làm nên cuộc Cách mạng Tháng Tám thành công, khi đó Cụ Huỳnh Thúc Kháng mới nhìn thấy độc lập tự do thật sự, Cụ mới sung sướng thật sự. Trong ngày giỗ lần thứ 5 Cụ Phan Bội Châu, cụ Huỳnh nói: “Ất Dậu trước (1885) đến Ất Dậu này (1945) thật khác xa. Trước là kinh thành thất thủ, là mất nước, nay là cách mạng, là giải phóng. Cái hoài bão của hai cụ đến đây rõ là được thực hiện. Cụ Sào Nam thì dân tộc chủ nghĩa cụ, Tây Hồ thì dân chủ chủ nghĩa. Đời tôi đến đây thấy được cái kết quả mà bình sinh hai cụ mong ước, như thế là được rồi”. Hào hứng trước vận hội mới của dân tộc, khát khao đóng góp phần tâm lực cuối cùng cho quê hương đất nước, lại được Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện mời tham gia Chính phủ liên hợp kháng chiến nên tuy đã vào tuổi “cổ lai hy”, Cụ Huỳnh Thúc Kháng vẫn nhiệt tình nhận giữ chức Bộ trưởng Bộ Nội vụ2.
Cụ Huỳnh Thúc Kháng còn là người sáng lập và giữ chức Hội trưởng Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam (tức Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ngày nay). Tháng 6/1946, trước khi lên đường sang Pháp với tư cách Thượng khách, sau khi thống nhất trong Hội đồng Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 82/SL cử Cụ Huỳnh Thúc Kháng giữ quyền Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tức đảm nhận trọng trách nguyên thủ quốc gia, đại diện Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cả về đối nội và đối ngoại. Trong thời gian này, Cụ Huỳnh Thúc Kháng đã có những đóng góp quan trọng trong việc điều hành bộ máy nhà nước còn mới mẻ, đồng thời xử lý đúng đắn, sáng suốt mọi vấn đề đối nội và đối ngoại.
Khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ cuối năm 1946, Chính phủ cử Cụ Huỳnh Thúc Kháng đi kinh lý miền Trung. Với tư cách Hội trưởng Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam (Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hiện nay), hưởng ứng “Lời kêu gọi toàn quốc bùng nổ kháng chiến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Cụ Huỳnh Thúc Kháng phát đi bức thư “Kính cáo đồng bào phụ lão kháng chiến thư” kêu gọi toàn dân đoàn kết chặt chẽ thành một khối quyết sống chết với kẻ thù. Trên đường công tác đến tỉnh Quảng Ngãi, Cụ bị ốm nặng. Tuổi cao sức yếu, biết mình không qua khỏi, Cụ gửi điện vĩnh biệt Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Tôi bệnh nặng chắc không qua khỏi. Bốn mươi năm ôm ấp độc lập và dân chủ, nay nước đã độc lập, chế độ dân chủ đã thực hiện, thế là tôi chết hả. Chỉ tiếc không được gặp Cụ lần cuối cùng. Chúc Cụ sống lâu để dìu dắt quốc dân trên đường vinh quang hạnh phúc. Chào vĩnh quyết”3, rồi từ trần ngày 21/4/1947 trên đường đi công tác với cương vị, trọng trách Bộ trưởng Bộ Nội vụ và Hội trưởng Hội Liên hiệp quốc dân, hưởng thọ 71 tuổi.
Rất thương tiếc và đau buồn trước sự ra đi của Cụ Huỳnh Thúc Kháng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Vị chiến sĩ lão tiền bối Huỳnh Thúc Kháng, Bộ trưởng Bộ Nội vụ và Hội trưởng Hội Liên hiệp quốc dân vừa tạ thế. Trước sự đau xót đó, Chính phủ ta đã ra lệnh làm Quốc tang. Nhân dịp này, tôi có vài lời báo cáo cùng đồng bào. Cụ Huỳnh là một người học hành rất rộng, chí khí rất bền, đạo đức rất cao. Vì lòng yêu nước, mà trước đây cụ bị bọn thực dân làm tội, đầy ra Côn Đảo. Mười mấy năm trường, gian nan cực khổ. Nhưng lòng son dạ sắt, yêu nước thương nòi của cụ Huỳnh, chẳng những không sờn lại thêm kiên quyết. Cụ Huỳnh là người mà giàu sang không làm xiêu lòng, nghèo khổ không làm nản chí, oai vũ không làm sờn gan. Cả đời cụ Huỳnh không cầu danh vị, không cầu lợi lộc, không thèm làm giàu, không thèm làm quan. Cả đời cụ Huỳnh chỉ phấn đấu cho dân được tự do, nước được độc lập. Đến nay nước Việt Nam dân chủ cộng hòa thành lập, Chính phủ ta mời cụ ra. Tuy đã hơn 7l tuổi, nhưng cụ vẫn hăng hái nhận lời. Cụ nói: “Trong lúc phục hưng dân tộc, xây dựng nước nhà thì bất kỳ già trẻ, trai, gái, ai cũng phải ra sức phụng sự Tổ quốc”. Nay chẳng may cụ Huỳnh sớm tạ thế, trước khi được thấy kháng chiến thành công. Cụ Huỳnh tuy tạ thế nhưng cái chí vì nước, vì nòi của cụ vẫn luôn luôn sống mạnh mẽ trong lòng 20 triệu đồng bào chúng ta”4. Sau đó, Lễ tang Cụ Huỳnh Thúc Kháng được tổ chức trọng thể theo nghi thức quốc tang - là lễ quốc tang đầu tiên của Nhà nước ta. Phần mộ Cụ đặt trên núi Thiên Ấn thuộc tỉnh Quảng Ngãi. Nhiều địa phương trên cả nước đã trân trọng đặt tên đường phố, công trình, trường học… mang tên Cụ Huỳnh Thúc Kháng để bày tỏ lòng thành kính trân trọng công lao, đóng góp to lớn của Cụ đối với quê hương, đất nước và dân tộc Việt Nam.
Những cống hiến nổi bật của Cụ Huỳnh Thúc Kháng trong sự nghiệp xây dựng chính quyền cách mạng Việt Nam thể hiện qua các dấu mốc lịch sử chính sau đây:
Từ ngày 02/3/1946 đến ngày 21/4/1947, Cụ Huỳnh Thúc Kháng đảm nhiệm chức vụ Bộ trưởng Bộ Nội vụ - một bộ có vị trí vô cùng quan trọng trong bối cảnh “thù trong, giặc ngoài” (theo Chỉ thị Kháng chiến kiến quốc ban hành ngày 25/11/1945 của Đảng Cộng sản Đông Dương xác định có 04 nhiệm vụ chủ yếu trọng tâm lúc này là củng cố và giữ vững chính quyền; chống thực dân Pháp xâm lược; bài trừ nội phản; cải thiện đời sống Nhân dân thì cả 04 nhiệm vụ đó đều liên quan trực tiếp đến chức năng của Bộ Nội vụ). Trên cương vị người đứng đầu Bộ Nội vụ, Bộ trưởng Huỳnh Thúc Kháng bắt tay ngay vào việc kiện toàn nhân sự và tổ chức bộ máy của Bộ Nội vụ. Ở thời điểm đó, lực lượng công an, thông tin tuyên truyền và công tác dân tộc đều nằm trong Bộ Nội vụ nên công việc của Bộ rất nặng nề. Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Nội vụ Huỳnh Thúc Kháng, chức vụ Đổng lý Văn phòng Bộ Nội vụ đã được giao cho Cụ Phạm Khắc Hòe, một người tốt nghiệp Trường Cao đẳng Pháp luật và hành chính Hà Nội - một nhân sĩ yêu nước, luôn hết lòng vì nước, vì dân.
Ngày 18/4/1946, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Huỳnh Thúc Kháng ký Nghị định số 1231/NĐ về việc tổ chức bộ máy của Công an vụ. Ngày 03/5/1946, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Huỳnh Thúc Kháng đã đề nghị Chính phủ ra Sắc lệnh số 58/SL quy định về tổ chức và chức năng của Bộ Nội vụ, theo đó cơ cấu tổ chức của Bộ Nội vụ gồm có một Văn phòng với sự đứng đầu của Đổng lý Văn phòng và 05 nha chuyên trách (Nha Công an, Nha Công chức và Kế toán, Nha Pháp chính, Nha Thông tin, Nha Dân tộc thiểu số). Ngày 13/5/1946, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Huỳnh Thúc Kháng ký ban hành Nghị định số 145/NĐ về tổ chức hệ thống thông tin tuyên truyền trong toàn quốc. Sau đó, ông Hoàng Minh Giám được bổ nhiệm chức vụ Thứ trưởng Bộ Nội vụ, ông Nguyễn Đức Dương giữ chức Giám đốc Công an Vụ, ông Vũ Quý Mão giữ chức Giám đốc Nha Pháp chế và Hành chính, ông Nguyễn Tấn Gi Trọng giữ chức Giám đốc Nha Thông tin - Tuyên truyền Trung ương…
Trong những tháng đầu tiên của chính quyền cách mạng non trẻ, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Huỳnh Thúc Kháng đã góp phần quan trọng trong việc tham mưu cho Chính phủ ban hành nhiều văn bản pháp luật quan trọng về đảm bảo quyền tự do cá nhân. Bộ trưởng Bộ Nội vụ Huỳnh Thúc Kháng trực tiếp ký ban hành nhiều nghị định, thông tư, hướng dẫn để hoàn thiện cơ cấu tổ chức và hoạt động của chính quyền cách mạng, chế độ công chức, công vụ, bảo đảm an ninh trật tự trị an (Chính phủ đã ban hành sắc lệnh về tổ chức bộ máy các bộ phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của từng bộ, như tổ chức Bộ Quốc phòng theo Sắc lệnh số 34/SL ngày 25/3/1946; tổ chức Bộ Xã hội theo Sắc lệnh số 36/SL ngày 27/3/1946; tổ chức Bộ Ngoại giao theo Sắc lệnh số 47/SL ngày 07/4/1946; tổ chức Bộ Giao thông Công chính theo Sắc lệnh số 50/SL ngày 13/4/1946; tổ chức Bộ Nội vụ theo Sắc lệnh số 58/SL ngày 03/5/1946; tổ chức Bộ Quốc dân Kinh tế theo Sắc lệnh số 61/SL ngày 06/5/1946; tổ chức Bộ Quốc gia Giáo dục theo sắc lệnh số 119/SL ngày 09/7/1946; tổ chức Bộ Lao động theo Sắc lệnh số 226/SL ngày 28/11/1946)… Đây là những văn bản có ý nghĩa rất quan trọng nhằm đảm bảo tính hợp pháp và chính danh của chính quyền cách mạng Việt Nam khi đó.
Với tư cách thành viên Chính phủ và trong hoàn cảnh “thù trong, giặc ngoài”, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Huỳnh Thúc Kháng đã sát cánh cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh trong nhiều công việc khó khăn, phức tạp của chính quyền cách mạng. Về công tác ngoại giao, sau khi Hiệp ước Trung - Pháp được ký kết (28/02/1946) mà theo đó, quân Pháp sẽ ra Bắc để thay thế quân Tưởng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng quyết định ký Hiệp định Sơ bộ với Pháp để tránh việc cùng lúc phải đối đầu với nhiều kẻ thù. Sáng ngày 06/3/1946, Hội đồng Chính phủ đã họp phiên đặc biệt do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì. Dự phiên họp có Bộ trưởng Bộ Nội vụ Huỳnh Thúc Kháng và các vị Bộ trưởng, thành viên Chính phủ, Cố vấn tối cao Vĩnh Thụy. Sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh báo cáo về tình hình đàm phán và nội dung thỏa thiệp sẽ ký kết giữa Việt Nam và Pháp, Hội nghị đã thảo luận và nhất trí quyết định ký Hiệp định Sơ bộ theo các điều kiện đã thỏa thuận và cử đại diện của Chính phủ ký hiệp định với đại diện của Chính phủ Pháp. Chiều ngày 06/3/1946, lễ ký Hiệp định Sơ bộ đã được tiến hành tại số nhà 38 phố Lý Thái Tổ5, ngay sau đó, hai đảng phản động là Việt Nam Quốc dân đảng (Việt Quốc) và Việt Nam Cách mạng đồng minh hội (Việt Cách) ra sức tung tin là Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Hiệp định Sơ bộ để “bán nước, cầu vinh”.
Trước tình hình rất căng thẳng, phức tạp, nguy hiểm đó, với vai trò và uy tín của bậc “đạo đức danh vọng mà toàn quốc dân ai cũng biết”, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Huỳnh Thúc Kháng đã đứng ra giải thích và cam kết: “Hội đồng Chính phủ không bán nước... Tôi xin thông báo vắn tắt với anh em, đó chẳng qua là một nước cờ của Hồ Chủ tịch với cả Pháp và Tưởng Giới Thạch. Hồ Chủ tịch là một tay cao cờ. Tôi chắc chắn và anh em cứ đinh ninh rồi đây thế nào mình cũng thắng thế”6. Chuẩn bị đàm phán với Pháp, ngày 22/5/1946, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Huỳnh Thúc Kháng được đề cử vào Ủy ban nghiên cứu đặc biệt các vấn đề sẽ đàm phán ở Paris để thống nhất nội dung cho Hội đàm tại Phôngtenlơblô (Fontainnebleau). Ngày 14/6/1946, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Huỳnh Thúc Kháng đã cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh tiễn phái đoàn của Chính phủ ta đi dự Hội nghị trù bị Đà Lạt. Đến ngày 27/5/1946, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Huỳnh Thúc Kháng được Hội đồng Chính phủ phân công đặc trách công tác kiều bào, việc giảm thuế cho những tỉnh khó khăn và thu thuế từ hàng hóa của Pháp.
Về tổ chức chính quyền địa phương, trong những năm đầu giành được độc lập, do chiến sự lan rộng và thực dân Pháp mở rộng phạm vi chiếm đóng, nên việc xây dựng, tổ chức chính quyền địa phương gặp nhiều khó khăn. Cuối năm 1946, khi cuộc kháng chiến toàn quốc đang bùng nổ trên phạm vi cả nước, việc bầu cử một số cấp không có điều kiện thực hiện thuận lợi. Ngày 28/12/1946, với sự tham mưu của Bộ trưởng Bộ Nội vụ Huỳnh Thúc Kháng, Chính phủ đã ban Sắc lệnh số 03/SL tạm hoãn bầu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh và xã. Khi chiến tranh mở rộng ra nhiều địa bàn, Chính phủ chủ trương xây dựng chính quyền theo điều kiện phù hợp (đến ngày 25/3/1948, Chủ tịch Chính phủ ra Sắc lệnh số 150/SL quy định về tổ chức, quyền hạn và cách làm việc của Hội đồng nhân dân trong vùng địch kiểm soát hoặc bị uy hiếp). Do chiến tranh làm chia cắt đất nước và các địa phương nên Chính phủ quy định quyền hạn của chính quyền các cấp cho phù hợp với tình hình giao thông cách trở, nhất là ở vùng, khu giao thông liên lạc với Chính phủ trung ương khó khăn. Chính phủ chỉ đạo các cấp chính quyền phải nâng cao tinh thần trách nhiệm, đảm nhận nhiệm vụ thay mặt Chính phủ lãnh đạo nhân dân tiến hành kháng chiến chống Pháp trong phạm vi địa phương mình, đồng thời phối hợp với các địa phương khác để tiến hành cuộc chiến đấu có hiệu quả nhất. Đây là nhiệm vụ quan trọng, chi phối mọi hoạt động của các ủy ban kháng chiến hành chính, trong suốt thời kỳ kháng chiến.
Từ ngày 31/5/1946 đến ngày 20/10/1946, Cụ Huỳnh Thúc Kháng đảm nhận trọng trách quyền Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa theo Sắc lệnh số 82/SL do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký (trong thời gian Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Pháp với tư cách thượng khách của Chính phủ Pháp). Ngày 31/5/1946, trước khi cùng Phái đoàn Việt Nam sang Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói với Bộ trưởng Bộ Nội vụ, quyền Chủ tịch nước Huỳnh Thúc Kháng: “Tôi vì nhiệm vụ quốc dân giao phó phải đi xa ít lâu, ở nhà trăm sự khó khăn nhờ cậy ở Cụ cùng với anh em giải quyết cho. Mong Cụ “dĩ bất biến ứng vạn biến” (lấy cái không thay đổi để đối phó với muôn sự thay đổi)”7. Đáng lưu ý là trong thời gian này, Cụ vẫn đảm nhận chức Bộ trưởng Bộ Nội vụ, tức cùng lúc đảm nhận hai trọng trách lớn lao nhất, nặng nề nhất về mặt nhà nước (quyền Chủ tịch nước) và đứng đầu cơ quan tham mưu về bộ máy chính quyền, an ninh, trật tự, chăm lo đời sống nhân dân (Bộ trưởng Bộ Nội vụ). Trong thời gian vừa đảm nhận nhiệm vụ Bộ trưởng Bộ Nội vụ, vừa giữ trọng trách quyền Chủ tịch nước, Cụ Huỳnh Thúc Kháng đã ký ban hành 160 sắc lệnh (từ Sắc lệnh số 92/SL đến Sắc lệnh số 251/SL) và quyết định nhiều vấn đề quan trọng của đất nước khi chủ trì các phiên họp của Hội đồng Chính phủ trong thời gian Chủ tịch Hồ Chí Minh đi thăm Pháp với tư cách thượng khách của Chính phủ Pháp.
Lịch sử Chính phủ Việt Nam giai đoạn này ghi nhận: năm 1946, trước khi lên đường sang thăm Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giao quyền Chủ tịch nước cho cụ Huỳnh Thúc Kháng. Khi đó, Cụ Huỳnh Thúc Kháng tuổi đã cao và là người ngoài Đảng. Cụ là một trí thức nổi tiếng, từng làm ở Viện Dân biểu Trung Kỳ. Nhiều người từng hoạt động với Chủ tịch Hồ Chí Minh và là đồng chí thân tín của Người tỏ ra băn khoăn trước quyết định này. Nhưng Người đã tin và quyết định giao chức quyền Chủ tịch nước cho cụ Huỳnh Thúc Kháng. Được Chủ tịch Hồ Chí Minh tin tưởng, Cụ Huỳnh Thúc Kháng đã làm trọn trọng trách vẻ vang của mình. Cụ đã cùng Chính phủ giữ vững an ninh chính trị, đập tan mưu đồ đảo chính, chống phá chính quyền cách mạng của lực lượng phản động8.
Đóng góp vô cùng quan trọng, thể hiện nhãn quan chính trị sắc sảo và phương châm “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” của Cụ Huỳnh Thúc Kháng giai đoạn này là trực tiếp chỉ đạo lực lượng Công an đập tan âm mưu đảo chính của Việt Quốc (Việt Nam Quốc dân đảng) tại số 7 phố Ôn Như Hầu (nay là phố Nguyễn Gia Thiều). Sau khi nghe đồng chí Lê Giản, Tổng Giám đốc Nha Công an Trung ương và đồng chí Võ Nguyên Giáp, Chủ tịch Kháng chiến Ủy viên hội báo cáo về việc sáng ngày 12/7/1946, Quốc dân đảng sẽ phân tán tài liệu, các trụ sở khác rút vào bí mật, chuẩn bị đảo chính, quyền Chủ tịch nước Huỳnh Thúc Kháng đã ra lệnh cho lực lượng Công an tiến công truy quét lực lượng Quốc dân đảng phản động.
Thực hiện chỉ đạo này, sáng sớm ngày 12/7/1946, Nha Công an Trung ương và Sở Công an Bắc bộ đã điều động gần 200 trinh sát, công an xung phong và 1 trung đội tự vệ, phối hợp đồng loạt khám xét các trụ sở của Quốc Dân đảng ở Hà Nội. Tại số 7 phố Ôn Như Hầu, đối tượng Phan Kích Nam lấy danh nghĩa là đại biểu Quốc hội đã gây khó khăn cho ta, nhưng cuối cùng vẫn bị Công an mưu trí bắt sống cùng đồng bọn. Rất nhiều các loại tài liệu phản động, dụng cụ làm bạc giả, dụng cụ tra tấn, thuốc mê đã được thu giữ. Một số trụ sở của Việt Nam Quốc dân đảng phản động như số 42 Hale, Hàng Đẫy, Đỗ Hữu Vỵ, số 80 Quán Thánh..., tổng cộng 41 địa điểm là trụ sở công khai và bí mật của Quốc dân đảng phản động đều bị lực lượng phản gián phối hợp các lực lượng khác bao vây khám xét, bắt gần 300 tên, đập tan hoàn toàn âm mưu định đảo chính của Việt Nam Quốc dân đảng phản động.
Đồng loạt sau đó, công an các địa phương, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Nha Công an Trung ương đã tổ chức trấn áp lực lượng Việt Nam Quốc dân đảng phản động trên toàn quốc và từ Hà Nội chạy về. Được sự đồng ý của quyền Chủ tịch nước Huỳnh Thúc Kháng, Công an Vụ còn xóa sổ toàn bộ quân đội của Việt Quốc, Việt Cách từ Vĩnh Yên cho đến Yên Bái, Lào Cai. Song song với việc trấn áp, lực lượng an ninh đã tổ chức triển lãm những bằng chứng tội ác của lực lượng Việt Nam Quốc dân đảng phản động ngay tại số 7 phố Ôn Như Hầu. Hàng vạn đồng bào Hà Nội đã tới xem trong nhiều ngày để thấy rõ tội ác dã man và bộ mặt giả dối của Việt Nam Quốc dân đảng phản động. Việc phá thành công vụ án tại số 7 phố Ôn Như Hầu không những làm thất bại âm mưu đảo chính vào ngày 14/7/1946 của thực dân Pháp câu kết với lực lượng Việt Nam Quốc dân đảng phản động, mà qua đó chính quyền cách mạng còn tiến hành truy quét, trấn áp lực lượng phản động này tại Hà Nội và các địa phương khác, làm tan rã lực lượng phản động lúc bấy giờ, bảo vệ vững chắc chính quyền cách mạng non trẻ.
Đánh giá về ý nghĩa của việc phá thành công vụ án số 7 phố Ôn Như Hầu, đồng chí Trường Chinh, nguyên Tổng Bí thư của Đảng đã viết: “Những vụ khám bắt trên đây có một tác dụng vô cùng quan trọng, nó lột mặt bọn phản động bên trong, tay sai của bọn phản động bên ngoài... Nó lôi ra ánh sáng dư luận một bọn giả danh quốc gia dân tộc... Mấy cuộc khám bắt vừa đây cắm một cái mốc trên con đường thống nhất dân tộc và biểu lộ sức mạnh, uy tín của chính quyền nhân dân”9. Việc cụ Huỳnh Thúc Kháng - người vốn dung hòa và đi theo chủ nghĩa cải lương, nay đã kiên quyết dùng bạo lực cách mạng để trấn áp các hành vi phản loạn đã thể hiện rõ sự thay đổi lớn trong phương pháp hành động của con người công bình, chính trực, sẵn sàng làm tất cả để bảo vệ nền độc lập dân tộc, hòa bình và hạnh phúc cho Nhân dân.
Trân trọng ghi nhận công lao to lớn của quyền Chủ tịch nước Huỳnh Thúc Kháng, trở về nước sau thời gian đi thăm Pháp (từ ngày 31/5/1946 đến ngày 20/10/1946), khi nói về việc chính quyền cách mạng được giữ vững, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh nguyên nhân đầu tiên là “sự lãnh đạo sáng suốt của cụ Huỳnh quyền Chủ tịch”. Tháng 11/1946, khi đại diện của lực lượng Việt Quốc, Việt Cách rút đi, Hồ Chủ tịch đứng ra thành lập Chính phủ mới và một lần nữa, Người lại đề nghị Cụ Huỳnh Thúc Kháng tiếp tục giữ chức Bộ trưởng Bộ Nội vụ. Tấm lòng nhiệt thành với dân, với nước đã thúc đẩy Cụ Huỳnh Thúc Kháng - một người ở lứa tuổi “thất thập cổ lai hy”, đồng ý tiếp tục gánh vác việc nước.
Cũng trong giai đoạn giữ quyền Chủ tịch nước, Cụ Huỳnh Thúc Kháng còn có những đóng góp quan trọng về mặt đối ngoại. Bên cạnh các hoạt động với tư cách nguyên thủ quốc gia, thay mặt Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về đối ngoại, ngày 07/7/1946, quyền Chủ tịch nước Huỳnh Thúc Kháng đã gửi thư giới thiệu đại diện Chính phủ Việt Nam với Chính phủ Thái Lan, và đến tháng 8/1947, cơ quan đại diện của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở Thái Lan đã chính thức hoạt động. Cơ quan ngoại giao của Chính phủ Việt Nam tại Băng Cốc đã làm nhiệm vụ liên hệ với các chính phủ, các cơ quan đại diện nước ngoài, với Việt kiều ở Nam Kỳ, Mỹ, Tân Đảo, Tân Thế giới, v.v.. Các sở thông tin của Việt Nam ở Thái Lan đã phát hành các bản tin tiếng Việt, tiếng Thái, tiếng Anh. Băng Cốc là đầu mối quốc tế chủ yếu để Chính phủ Việt Nam mở rộng hoạt động đối ngoại lúc bấy giờ10. Có thể khẳng định, đây là đóng góp rất quan trọng của quyền Chủ tịch nước Huỳnh Thúc Kháng trong lịch sử nền ngoại giao cách mạng Việt Nam, phá vỡ thế bao vây, bưng bít thông tin về Chính phủ và chính quyền cách mạng Việt Nam với thế giới khi đó.
Cũng vào cuối năm 1946, Cụ Huỳnh Thúc Kháng - Bộ trưởng Bộ Nội vụ thay mặt Chính phủ vào kinh lý các tỉnh miền Trung để truyền đạt chủ trương kháng chiến cứu nước của Chính phủ, những lời dặn dò của Chủ tịch Hồ Chí Minh và động viên đồng bào, chiến sĩ đoàn kết chặt chẽ để đánh đuổi thực dân Pháp. Đi đến đâu, Cụ Huỳnh Thúc Kháng cũng dành những lời tốt đẹp nhất để nói về Chủ tịch Hồ Chí Minh và kêu gọi Nhân dân triệt để tin tưởng, thi hành mệnh lệnh của Chính phủ. Khi Cụ từ trần trên đường đi công tác trên cương vị Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bày tỏ vô cùng thương tiếc và gửi thư cho quốc dân đồng bào để nói rõ công trạng của Cụ. Người đã dành những lời tốt đẹp nhất để nói về con người “giàu sang không làm xiêu lòng, nghèo khổ không làm nản chí, oai vũ không làm sờn gan. Cả đời cụ Huỳnh không cầu danh vị, không cầu lợi lộc, không thèm làm giàu, không thèm làm quan. Cả đời cụ Huỳnh chỉ phấn đấu cho dân được tự do, nước được độc lập”.
Thứ nhất, xây dựng bộ máy chính quyền bảo đảm sự đoàn kết thống nhất trong tập thể và đề cao vai trò gương mẫu đoàn kết của người đứng đầu. Nói gương mẫu ở đây chính là đề cập đến đạo đức của cán bộ, đảng viên, từ đạo đức xã hội đến đạo đức cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng vị trí trung tâm của tình đoàn kết trong Chính phủ. Với nhãn quan sắc bén và sự mẫn cảm chính trị của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tin tưởng một cách chân thành và giao những nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của sự nghiệp cách mạng cho các thành viên trong Chính phủ. Tại phiên họp ngày 31/10/1946 của Kỳ họp thứ hai Quốc hội khóa I, sau khi được Quốc hội giao trách nhiệm thành lập Chính phủ mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc lời tuyên bố trước Quốc hội: “Chính phủ sau đây phải là một Chính phủ toàn dân đoàn kết và tập hợp nhân tài không đảng phái”. Khi giới thiệu về nhân sự đảm nhận Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành những lời trân trọng nhất để nói về tấm gương đạo đức cao cả của Cụ Huỳnh Thúc Kháng: "một người đạo đức danh vọng mà toàn thể quốc dân ai cũng biết: cụ Huỳnh Thúc Kháng". Thực tế khi đó cho thấy, trong vai trò và trọng trách người đứng đầu Chính phủ, cùng với Cụ Huỳnh Thúc Kháng, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn mời các vị tiêu biểu, mẫu mực về đạo đức như Cụ Nguyễn Văn Tố, Cụ Phan Kế Toại... tham gia giữ các trọng trách trong Chính phủ.
Thứ hai, xây dựng bộ máy chính quyền bảo đảm thực tài, kết hợp hài hòa các thế hệ cán bộ. Bằng nhãn quan chính trị, bản lĩnh cách mạng cùng với trí tuệ của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn những người có đức, tài làm thành viên Chính phủ. Sau khi cải tổ Ủy ban Khởi nghĩa thành Chính phủ lâm thời, nhiều nhân sĩ và những người là thành viên của chính quyền cũ, hoặc các nhà trí thức, thậm chí có người từng làm quan trong triều đình phong kiến đã được mời tham gia chính quyền cách mạng, từ những nhà Nho yêu nước như Cụ Bùi Bằng Đoàn, Cụ Nguyễn Văn Tố, Cụ Huỳnh Thúc Kháng, Cụ Phan Kế Toại, Cụ Vi Văn Định…; hay những trí thức trẻ tuổi thuộc các đảng phái khác như luật gia Phan Anh, luật gia Vũ Đình Hòe, giáo sư Nguyễn Văn Huyên, nhà khoa học Nguyễn Xiển. Một ví dụ điển hình là việc Đảng và Chính phủ bố trí nhân sự Lãnh đạo Bộ Nội vụ từ tháng 8/1947 đến 30/4/1963 (giai đoạn Cụ Phan Kế Toại giữ trọng trách Bộ trưởng Bộ Nội vụ). Lãnh đạo Bộ Nội vụ khi đó do Cụ Phan Kế Toại - nguyên Khâm sai đại thần triều Nguyễn, một nhà Nho học tiêu biểu, uy tín giữ trọng trách Bộ trưởng để điều hành chung; đồng chí Phạm Văn Bạch - tiến sĩ luật học tốt nghiệp tại Trường Đại học Lyon (Pháp) với luận án “Hiến pháp Xô viết và thực tiễn Xô viết - giải pháp đúng đắn cho vấn đề dân tộc và giai cấp” làm Thứ trưởng và đồng chí Lê Văn Lương (Nguyễn Công Miều), nguyên Trưởng ban Ban Tổ chức Trung ương làm Thứ trưởng. Đây là bài học quý mà ngày nay chúng ta cần nghiên cứu, vận dụng.
Thứ ba, xây dựng bộ máy chính quyền liêm khiết. Cuộc Tổng khởi nghĩa thành công năm 1945 đã thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhà nước của dân, do dân, vì dân. Đa số thành viên trong bộ máy nhà nước từ trung ương đến địa phương khi đó là những người từng đi tiên phong trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, làm nên Cách mạng Tháng 8 năm 1945 lịch sử. Đặc điểm nhân sự này cùng với bản chất của nhà nước cách mạng là những yếu tố khách quan tạo nên bản chất liêm chính của bộ máy nhà nước Việt Nam từ trung ương đến địa phương. Với bộ máy nhà nước liêm chính sẽ tạo nên những yếu tố nội sinh bảo đảm kháng chiến và kiến quốc thành công.
Ngay sau ngày giành được chính quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh đức tính của đội ngũ cán bộ phải cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Cần, kiệm, liêm, chính là đặc tính của chế độ mới và trong đó người đi đầu thể hiện đức tính này là các cán bộ - công bộc của dân và thể hiện liên tục trong suốt 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong các cuộc kháng chiến trường kỳ, Chính phủ luôn phát huy hết vai trò tổ chức, quản lý xã hội của mình. Đó là Chính phủ liêm chính và một bộ máy nhà nước chưa từng có trong lịch sử dân tộc. Để kiện toàn, chấn chỉnh và xây dựng bộ máy nhà nước vững mạnh thì yêu cầu luôn luôn củng cố, xây dựng Chính phủ và chính quyền liêm chính là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên. Bộ máy Chính phủ và chính quyền các cấp thực sự có liêm chính thì mới giữ được niềm tin của Nhân dân, lực lượng quyết định thành công sự nghiệp cách mạng, của cuộc kháng chiến.
Trong điều kiện chiến tranh khốc liệt, trong điều kiện khó khăn của thời kỳ đầu xây dựng Nhà nước cách mạng, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh thực sự là Chính phủ liêm chính, chí công vô tư, mà tấm gương tiêu biểu nhất, mẫu mực nhất chính là Chủ tịch Hồ Chí Minh và các bậc đạo đức danh vọng như Cụ Huỳnh Thúc Kháng - Bộ trưởng Bộ Nội vụ, quyền Chủ tịch nước. Đây là một trong những lý do căn bản đưa công cuộc kháng chiến, kiến quốc của Nhân dân Việt Nam đi đến thắng lợi hoàn toàn. Tạo dựng được Chính phủ, chính quyền liêm chính là thành quả đấu tranh xây dựng của cách mạng Việt Nam, trong đó sức mạnh của chế độ là ở Nhân dân. Chính phủ, chính quyền liêm khiết, liêm chính mới tạo được niềm tin cho Nhân dân. Xây dựng được bộ máy nhà nước liêm chính, giữ vững kỷ cương phép nước là một trong những điều kiện tiên quyết để hoàn thành mục tiêu dân giàu, nước mạnh trong mọi giai đoạn lịch sử cách mạng của đất nước Việt Nam tươi đẹp./.
Tài liệu tham khảo:
1 . https://danang.gov.vn/vi/w/huynh-thuc-khang-1876-1947-i.
2 . https://danang.gov.vn/vi/w/huynh-thuc-khang-1876-1947-i.
3 . https://truongchinhtri.quangngai.gov.vn/i5249-hoc-tap-va-lam-theo-tam-guong-dao-duc-ho-chi-minh-ki-6---bac-ho-voi-cu-huinh-thuc-khang.aspx.
4. https://truongchinhtri.quangngai.gov.vn/i5249-hoc-tap-va-lam-theo-tam-guong-dao-duc-ho-chi-minh-ki-6---bac-ho-voi-cu-huinh-thuc-khang.aspx.
5. Lịch sử Chính phủ, tập 1, Nxb CTQGST, H.2026, tr 88.
6. Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử, tập 3, Nxb CTQG-ST, H.2016, tr.171
7. Võ Nguyên Giáp, Những năm tháng không thể nào quên, Nxb Quân đội nhân dân, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân. H,1970, tr.248.
8. Lịch sử Chính phủ, tập 1, Nxb CTQGST, H.2026, tr 269.
9. https://cand.vn/chien-cong-pha-vu-an-nha-so-7-pho-on-nhu-hau-bai-1-post803822.html.
10. Lịch sử Chính phủ, tập 1, Nxb CTQGST, H.2026, tr 168.
TS Trần Nghị, Tổng Biên tập Tạp chí Tổ chức nhà nước và Lao động, Bộ Nội vụ
Tin tức cùng chuyên mục
Bài viết cùng tác giả