Tiếng Việt
Tiếng Việt Tiếng Anh

Đến năm 2031, hoàn thiện hệ sinh thái đào tạo, bồi dưỡng trên môi trường số dùng chung trong Tòa án nhân dân

Ngày đăng: 12/10/2026   18:24
Đọc bài viết
Mặc định Cỡ chữ
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã ký ban hành Chỉ thị số 01/CT-CA ngày 05/10/2026 về đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng trong Tòa án nhân dân gắn với chuyển đổi số giai đoạn 2026 - 2031 (Chỉ thị). Theo đó, đặt mục tiêu đến năm 2031, hoàn thiện hệ sinh thái đào tạo, bồi dưỡng trên môi trường số dùng chung trong Tòa án nhân dân.

Học viện Tòa án tổ chức Lễ khai giảng khóa đào tạo thẩm tra viên cao cấp và khóa đào tạo nghiệp vụ xét xử cho đội ngũ cán bộ Tòa án (tháng 8/2026). Ảnh minh họa

Chỉ thị đặt mục tiêu đến hết năm 2026: Bảo đảm 100% cán bộ, công chức, viên chức có hiểu biết về chuyển đổi số, kiến thức và kỹ năng số, sử dụng tốt các nền tảng, dịch vụ số phục vụ công việc theo yêu cầu của ngành Tòa án trong tình hình mới. Rà soát nhu cầu, nội dung, chương trình, học liệu và phương pháp đào tạo, bồi dưỡng; xác định kiến thức, kỹ năng cần bồi dưỡng phù hợp với vị trí việc làm, chức danh, chức vụ và yêu cầu thực hiện nhiệm vụ. Ưu tiên rà soát, tổ chức đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức giữ chức danh tư pháp, kịp thời cập nhật, nắm vững các quy định pháp luật mới, các lĩnh vực khó, phức tạp, chuyên môn đặc thù và những nhiệm vụ mới phát sinh.

Từ năm 2027 đến năm 2030: Bảo đảm 100% cán bộ, công chức, viên chức hoàn thành bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng số theo chương trình, học liệu được cập nhật; sử dụng tốt các nền tảng, công cụ và dịch vụ số, đáp ứng yêu cầu của vị trí việc làm. Duy trì việc cập nhật thường xuyên kiến thức pháp luật, chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng nghề nghiệp, kỹ năng số và phương pháp làm việc mới; phát triển các chương trình đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu theo vị trí việc làm, chức danh và lĩnh vực công tác, nhất là đối với các loại vụ án, vụ việc khó, phức tạp, lĩnh vực đòi hỏi kiến thức chuyên ngành và những vấn đề mới phát sinh trong thực tiễn xét xử.

Tăng cường sử dụng kết quả tổng kết thực tiễn xét xử, công tác giám đốc, kiểm tra, các bản án, quyết định bị hủy, sửa, những vụ án, vụ việc kéo dài, phức tạp và các tình huống điển hình làm nguồn tài liệu phục vụ đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn và rút kinh nghiệm; chú trọng các vấn đề phát sinh trong giải quyết tranh chấp dân sự, vụ án hành chính và việc bảo đảm thi hành bản án, quyết định của Tòa án. Tổ chức bồi dưỡng chuyên sâu về hòa giải, đối thoại tại Tòa án; giải quyết các vụ án hành chính, tranh chấp kinh doanh, thương mại, nhất là tranh chấp có yếu tố nước ngoài và những lĩnh vực khó, phức tạp, mới phát sinh.

Đến năm 2031: Hoàn thiện hệ sinh thái đào tạo, bồi dưỡng trên môi trường số dùng chung trong Tòa án nhân dân; hình thành cơ sở dữ liệu đào tạo, kho học liệu số và hồ sơ học tập điện tử của cán bộ, công chức, viên chức; kết quả đào tạo, bồi dưỡng do Tòa án nhân dân tổ chức được quản lý, theo dõi và cập nhật trên môi trường số. Các chương trình bồi dưỡng trọng điểm theo vị trí việc làm, chức danh tư pháp, chức vụ lãnh đạo, quản lý và các lĩnh vực chuyên môn chuyên sâu được rà soát, cập nhật thường xuyên, từng bước số hóa phù hợp; triển khai đánh giá kết quả học tập và hiệu quả vận dụng kiến thức, kỹ năng vào thực tiễn công tác đối với các chương trình phù hợp.

Từng bước khai thác dữ liệu đào tạo, kết quả học tập, thực tiễn xét xử và yêu cầu thực hiện nhiệm vụ làm nguồn thông tin phục vụ xác định nhu cầu, xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng và bố trí nguồn lực đào tạo hằng năm; bảo đảm công tác đào tạo, bồi dưỡng được cập nhật thường xuyên, kịp thời đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của Tòa án nhân dân.

Để hiện thực hóa các mục tiêu trên, Chỉ thị đưa ra các nhóm nhiệm vụ, giải pháp sau:

Thứ nhất, nâng cao nhận thức, trách nhiệm về công tác đào tạo, bồi dưỡng

Người đứng đầu các đơn vị, Tòa án các cấp phải xác định đào tạo, bồi dưỡng là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên, gắn trực tiếp với xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và nâng cao chất lượng thực hiện nhiệm vụ của Tòa án nhân dân; trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo, tạo điều kiện và chịu trách nhiệm về chất lượng, hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng tại đơn vị.

Tổ chức quán triệt và thực hiện nghiêm các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và quy định của Tòa án nhân dân tối cao về đào tạo, bồi dưỡng; gắn công tác đào tạo, bồi dưỡng với yêu cầu cải cách tư pháp, xây dựng đội ngũ, chuyển đổi số, xây dựng Tòa án điện tử và nâng cao chất lượng thực hiện nhiệm vụ. Việc xác định nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng phải bám sát vị trí việc làm, chức danh, chức vụ và yêu cầu thực tiễn của đơn vị; kịp thời xác định những kiến thức, kỹ năng còn hạn chế hoặc cần cập nhật để tổ chức đào tạo, bồi dưỡng đúng đối tượng, đúng nội dung, thiết thực và hiệu quả. Mỗi cán bộ, công chức, viên chức, nhất là công chức giữ chức danh tư pháp, phải xác định học tập, tự học và tự bồi dưỡng là trách nhiệm thường xuyên trong quá trình công tác; chủ động cập nhật kiến thức pháp luật, chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng nghề nghiệp, kỹ năng số và phương pháp làm việc mới, đáp ứng yêu cầu của vị trí việc làm và sự thay đổi của thực tiễn.

Thứ hai, xây dựng môi trường học tập thường xuyên trong hệ thống Tòa án nhân dân

Xây dựng môi trường học tập thường xuyên, liên tục trong toàn hệ thống Tòa án nhân dân; khuyến khích và tạo điều kiện để cán bộ, công chức, viên chức chủ động tự học, tự nghiên cứu, cập nhật kiến thức pháp luật, chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng nghề nghiệp, kỹ năng số và phương pháp làm việc mới; kịp thời cập nhật các quy định mới của pháp luật và những vấn đề phát sinh từ thực tiễn công tác, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao.

Phát triển văn hóa học tập, tự học và học tập suốt đời; đa dạng hóa các hình thức học tập thông qua đào tạo, bồi dưỡng tập trung, trực tuyến, tự học có hướng dẫn, sinh hoạt chuyên môn, trao đổi nghiệp vụ, nghiên cứu tình huống thực tiễn, rút kinh nghiệm từ hoạt động xét xử, chia sẻ kinh nghiệm và học tập tại nơi làm việc. Tạo điều kiện để cán bộ, công chức, viên chức khai thác hiệu quả học liệu, cơ sở dữ liệu, tài liệu chuyên môn và các nguồn tri thức dùng chung của Tòa án nhân dân. Từng bước xây dựng cơ chế theo dõi, ghi nhận kết quả học tập, bồi dưỡng và tự học của cán bộ, công chức, viên chức; chú trọng khả năng vận dụng kiến thức, kỹ năng đã được đào tạo, bồi dưỡng vào thực tiễn công tác. Kết quả học tập, bồi dưỡng và việc vận dụng sau đào tạo được sử dụng làm một trong những nguồn thông tin phục vụ xác định nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng và công tác quản lý, sử dụng cán bộ, công chức, viên chức theo quy định.

Thứ ba, đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp đào tạo, bồi dưỡng

Nội dung, chương trình đào tạo, bồi dưỡng phải bám sát yêu cầu của vị trí việc làm, chức danh, chức vụ và thực tiễn hoạt động xét xử, giải quyết các loại vụ án, vụ việc; bảo đảm thiết thực, gắn lý luận với thực tiễn, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, chuyển đổi số và xây dựng Tòa án điện tử.

Tập trung bồi dưỡng kiến thức pháp luật, chuyên môn, nghiệp vụ xét xử và các kỹ năng cần thiết cho từng nhóm đối tượng; chú trọng phát triển tư duy pháp lý, kỹ năng nghiên cứu hồ sơ, phân tích, đánh giá chứng cứ, điều hành phiên tòa, xây dựng bản án, quyết định và giải quyết các vụ án, vụ việc khó, phức tạp, có yếu tố nước ngoài. Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu theo lĩnh vực xét xử; đối với những lĩnh vực đòi hỏi kiến thức liên ngành, công chức giữ chức danh tư pháp phải được trang bị kiến thức chuyên ngành cần thiết để thực hiện tốt nhiệm vụ được giao. Chú trọng các nội dung về kinh tế, tài chính, ngân hàng, kế toán, quản trị doanh nghiệp phục vụ giải quyết các vụ việc kinh doanh, thương mại, thực hiện thủ tục phục hồi, phá sản, sở hữu trí tuệ; các vấn đề chuyên sâu trong lĩnh vực dân sự, lao động, hành chính, nhất là chứng cứ, giám định, định giá; đồng thời tăng cường kiến thức, kỹ năng về tư pháp người chưa thành niên, trong đó có việc xem xét, áp dụng các biện pháp xử lý chuyển hướng theo quy định của pháp luật, các biện pháp giải quyết tranh chấp thay thế, ngoài Tòa án. Kịp thời cập nhật nội dung đào tạo, bồi dưỡng khi có quy định pháp luật mới, nhiệm vụ mới hoặc yêu cầu mới phát sinh từ thực tiễn.

Đổi mới chương trình, phương pháp đào tạo, bồi dưỡng theo hướng lấy người học làm trung tâm, tăng cường thực hành; chú trọng học qua tình huống, hồ sơ vụ án, vụ việc, phiên tòa giả định, mô phỏng tình huống nghề nghiệp, thảo luận, phản biện và chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn. Tăng cường sử dụng các vụ án, vụ việc khó, phức tạp, kéo dài, bản án, quyết định bị hủy, sửa và những sai sót, vướng mắc được phát hiện qua công tác giám đốc, kiểm tra, tổng kết thực tiễn xét xử làm tình huống đào tạo, tập huấn, rút kinh nghiệm. Kết hợp linh hoạt đào tạo trực tiếp, trực tuyến, đào tạo kết hợp, tự học có hướng dẫn và học tập tại nơi làm việc. Đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá kết quả học tập theo hướng chú trọng khả năng phân tích, xử lý tình huống và vận dụng kiến thức, kỹ năng vào thực tiễn. Tích hợp nội dung về bản lĩnh chính trị, đạo đức tư pháp, liêm chính, trách nhiệm nghề nghiệp, văn hóa ứng xử và học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh vào các chương trình đào tạo, bồi dưỡng; gắn với yêu cầu thực hiện chức trách, nhiệm vụ của từng nhóm cán bộ, công chức, viên chức, bảo đảm thiết thực, dễ hiểu và dễ vận dụng.

Thứ tư, đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong công tác đào tạo, bồi dưỡng

Đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong công tác đào tạo, bồi dưỡng; phát triển các hình thức đào tạo trực tuyến, đào tạo kết hợp, tự học có hướng dẫn và các phương thức học tập hiện đại, tạo điều kiện để cán bộ, công chức, viên chức học tập, cập nhật kiến thức, kỹ năng thường xuyên, thuận tiện, phù hợp với yêu cầu của vị trí việc làm. Xây dựng, hoàn thiện nền tảng đào tạo, bồi dưỡng trên môi trường số dùng chung trong toàn hệ thống Tòa án nhân dân; từng bước hình thành cơ sở dữ liệu đào tạo, hồ sơ học tập điện tử và hệ thống quản lý. Phát triển kho học liệu số dùng chung, tích hợp có chọn lọc các tài liệu chuyên môn, án lệ, giải đáp nghiệp vụ, tình huống xét xử điển hình, kết quả nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn và kinh nghiệm nghề nghiệp được phép khai thác; tăng cường kết nối, chia sẻ và khai thác dữ liệu phục vụ đào tạo, bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực.

Nghiên cứu, ứng dụng có kiểm soát trí tuệ nhân tạo và công nghệ số trong xây dựng học liệu, hỗ trợ giảng dạy, tự học, tra cứu, kiểm tra, đánh giá và quản lý đào tạo; từng bước khai thác dữ liệu để xác định nhu cầu và cập nhật nội dung đào tạo, bồi dưỡng phù hợp với vị trí việc làm, chức danh và yêu cầu thực tiễn công tác. Việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo phải có cơ chế kiểm tra, kiểm soát, chỉ đóng vai trò hỗ trợ, không thay thế vai trò, trách nhiệm của con người trong công tác chuyên môn, nghiệp vụ.

Thường xuyên cập nhật, bồi dưỡng và đánh giá kiến thức, kỹ năng số của cán bộ, công chức, viên chức; bảo đảm sử dụng tốt các nền tảng, công cụ và dịch vụ số phục vụ công việc, đáp ứng yêu cầu của vị trí việc làm và quá trình xây dựng Tòa án điện tử. Có giải pháp hỗ trợ phù hợp đối với cán bộ, công chức, viên chức còn hạn chế về kỹ năng số và các đơn vị có điều kiện hạ tầng công nghệ còn khó khăn, bảo đảm cơ hội tiếp cận đào tạo, bồi dưỡng trong toàn hệ thống. Việc xây dựng, quản lý, kết nối và khai thác nền tảng đào tạo, cơ sở dữ liệu, học liệu số và các công cụ trí tuệ nhân tạo phải tuân thủ nghiêm các quy định về bảo vệ bí mật nhà nước, bảo vệ dữ liệu, an toàn thông tin và an ninh mạng.

Thứ năm, đẩy mạnh đào tạo chuyên sâu và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao

Tập trung đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức giữ chức danh tư pháp và các vị trí chuyên môn có vai trò then chốt theo hướng chuyên sâu, chuyên nghiệp; từng bước hình thành đội ngũ có chuyên môn sâu theo lĩnh vực công tác, phù hợp với tính chất, mức độ phức tạp và yêu cầu thực tiễn của từng loại vụ án, vụ việc. Chú trọng nâng cao tư duy pháp lý, năng lực thực tiễn, kỹ năng nghề nghiệp, kiến thức chuyên ngành cần thiết, năng lực số, ngoại ngữ và khả năng giải quyết các vụ việc khó, phức tạp.

Xác định các lĩnh vực cần ưu tiên phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trên cơ sở thực tiễn xét xử, yêu cầu thực hiện các quy định mới của pháp luật, nhiệm vụ mới phát sinh và định hướng phát triển của Tòa án nhân dân; chú trọng các lĩnh vực chuyên sâu, phức tạp, có yếu tố nước ngoài và những lĩnh vực đòi hỏi kiến thức liên ngành. Chủ động lựa chọn cán bộ, công chức, viên chức có năng lực, kinh nghiệm thực tiễn và tiềm năng phát triển để đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu; từng bước hình thành đội ngũ chuyên gia, nhân lực nòng cốt trong các lĩnh vực chuyên môn quan trọng.

Gắn đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu với bố trí, phân công và sử dụng cán bộ phù hợp với chuyên môn được đào tạo; phát huy kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm của người được đào tạo trong thực hiện nhiệm vụ, nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, hướng dẫn nghiệp vụ và đào tạo, bồi dưỡng tại đơn vị; tăng cường chia sẻ, chuyển giao và lan tỏa tri thức trong toàn hệ thống Tòa án nhân dân.

Thứ sáu, phát triển Học viện Tòa án, đội ngũ giảng viên và gắn kết nghiên cứu khoa học với yêu cầu thực tiễn

Tiếp tục xây dựng Học viện Tòa án trở thành cơ sở đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu của hệ thống Tòa án nhân dân; phát triển theo hướng hiện đại, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng và nghiên cứu khoa học; tăng cường gắn kết giữa đào tạo với tổng kết thực tiễn xét xử, nghiên cứu những vấn đề mới, khó, phức tạp và yêu cầu thực hiện các quy định mới của pháp luật để kịp thời cập nhật nội dung, chương trình và học liệu đào tạo, bồi dưỡng.

Tập trung xây dựng, phát triển đội ngũ giảng viên cơ hữu có trình độ chuyên môn sâu, phẩm chất nghề nghiệp, kỹ năng sư phạm và năng lực thực tiễn; phát triển đội ngũ giảng viên kiêm nhiệm, giảng viên thỉnh giảng là các chuyên gia, nhà khoa học, Thẩm phán, Thẩm tra viên và công chức có nhiều kinh nghiệm thực tiễn, nhất là những người có chuyên môn sâu, kinh nghiệm giải quyết các vụ án, vụ việc khó, phức tạp và trong các lĩnh vực chuyên môn đặc thù, góp phần nâng cao tính thực tiễn và chất lượng đào tạo, bồi dưỡng.

Thứ bảy, mở rộng hợp tác, hội nhập quốc tế trong đào tạo, bồi dưỡng

Chủ động mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác với các cơ sở đào tạo, cơ quan tư pháp, tổ chức quốc tế và các đối tác có uy tín trong nước và nước ngoài nhằm trao đổi kinh nghiệm, tiếp thu có chọn lọc tri thức, kỹ năng, phương pháp và mô hình đào tạo tiên tiến phù hợp với thực tiễn của Ngành; ưu tiên hợp tác trong các lĩnh vực xét xử chuyên sâu, giải quyết vụ việc có yếu tố nước ngoài và những vấn đề mới, phức tạp đặt ra trong thực tiễn tư pháp.

Đẩy mạnh công tác cử cán bộ, công chức, viên chức, giảng viên tham gia các chương trình đào tạo, bồi dưỡng, nghiên cứu, khảo sát, trao đổi kinh nghiệm ở nước ngoài; đồng thời tăng cường hợp tác nghiên cứu, chia sẻ kinh nghiệm phục vụ công tác đào tạo, bồi dưỡng của Tòa án nhân dân. Tiếp tục nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm và chuẩn mực quốc tế phù hợp về đào tạo tư pháp, phát triển nguồn nhân lực, chuyển đổi số và xây dựng Tòa án điện tử để vận dụng phù hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam, yêu cầu cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế trong tình hình mới./.

Thảo Phương

Bài viết cùng tác giả