Tiếng Việt
Tiếng Việt Tiếng Anh

Hoàn thiện thể chế bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân trong xây dựng, thực hiện và giám sát chính sách, pháp luật hiện nay

Ngày đăng: 02/11/2026   10:38
Đọc bài viết
Mặc định Cỡ chữ
Tóm tắt: Hoàn thiện thể chế bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân trong xây dựng, thực hiện và giám sát chính sách, pháp luật có ý nghĩa quan trọng đối với việc phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước. Trên cơ sở phân tích những vấn đề cơ bản về hoàn thiện thể chế, đánh giá kết quả đạt được và nhận diện những hạn chế, bất cập trong việc bảo đảm, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện thể chế, gắn tính đồng bộ, thống nhất của các quy định pháp luật với hiệu quả tổ chức thực hiện, bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân được thực hiện thực chất, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới.

Từ khóa: Hoàn thiện thể chế; giám sát chính sách, pháp luật; quyền làm chủ của Nhân dân; thực hiện chính sách, pháp luật; xây dựng chính sách, pháp luật.

Abstract: Improving the institutional framework to ensure and promote the People’s right to mastery in the formulation, implementation, and oversight of policies and laws is of great significance for advancing socialist democracy and enhancing the effectiveness of state management. Based on an analysis of key issues concerning institutional improvement, an assessment of achievements, and an identification of limitations and shortcomings in ensuring and promoting the People’s right to mastery, this article proposes several solutions to further improve the institutional framework. These solutions aim to align the consistency and coherence of legal provisions with the effectiveness of their implementation, ensuring that the People’s right to mastery is exercised in a substantive and effective manner, in line with the requirements of building and improving the socialist rule-of-law state of Vietnam in the new era of development.

Keywords: Institutional improvement; oversight of policies and laws; the People’s right to mastery; implementation of policies and laws; formulation of policies and laws.

1. Đặt vấn đề

Trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm xây dựng, hoàn thiện thể chế nhằm cụ thể hóa quyền làm chủ của Nhân dân, tạo cơ sở chính trị, pháp lý để Nhân dân tham gia vào đời sống chính trị, xã hội; quản lý nhà nước, quản lý xã hội, trong đó có hoạt động xây dựng, thực hiện và giám sát chính sách, pháp luật. Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, hệ thống chính sách, pháp luật và các điều kiện bảo đảm thực hiện quyền làm chủ của Nhân dân vẫn còn một số hạn chế, bất cập; việc cụ thể hóa, thể chế hóa các chủ trương, chính sách và tổ chức thực hiện ở một số nơi chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Điều đó đặt ra yêu cầu cấp thiết phải tiếp tục hoàn thiện thể chế theo hướng đồng bộ, thống nhất, khả thi, gắn quyền tham gia của Nhân dân với trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền, bảo đảm quyền làm chủ được thực hiện thực chất, hiệu quả trong toàn bộ quá trình xây dựng, thực hiện và giám sát chính sách, pháp luật.

2. Một số vấn đề về hoàn thiện thể chế bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân trong xây dựng, thực hiện và giám sát chính sách, pháp luật

Trong hệ thống chính trị Việt Nam, quyền làm chủ của Nhân dân được xác lập và thực hiện thông qua cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”. Đảng giữ vai trò lãnh đạo Nhà nước và xã hội, lấy lợi ích của quốc gia, dân tộc và Nhân dân làm mục tiêu; Nhà nước thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng thành chính sách, pháp luật và tổ chức thực hiện; Nhân dân là chủ thể của quyền lực nhà nước, trực tiếp hoặc thông qua các hình thức đại diện thực hiện quyền làm chủ theo quy định của Hiến pháp và pháp luật. Mối quan hệ đó phải được cụ thể hóa bằng những cơ chế, quy định và điều kiện bảo đảm để Nhân dân thực hiện đầy đủ quyền làm chủ theo phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”(1). Vì vậy, hoàn thiện thể chế bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân không chỉ là yêu cầu của quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà còn là điều kiện quan trọng để nâng cao chất lượng xây dựng, thực hiện và hiệu quả giám sát chính sách, pháp luật.

Thể chế, xét từ phương diện chính trị và pháp lý, là hệ thống các nguyên tắc, quy định, cơ chế và thiết chế được xác lập nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội, xác định quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của các chủ thể và bảo đảm sự vận hành của đời sống chính trị - xã hội theo những mục tiêu nhất định. Đối với việc bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, thể chế không chỉ xác định phạm vi, nội dung và phương thức thực hiện quyền làm chủ mà còn quy định trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong việc tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm thực hiện các quyền đó. Chất lượng thể chế vì vậy không chỉ được đánh giá ở tính đầy đủ, thống nhất của các quy định mà còn ở tính khả thi, khả năng thực hiện và tạo điều kiện để Nhân dân thực sự tham gia vào quá trình quản lý nhà nước, quản lý xã hội.

Theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, chính sách là “tập hợp các giải pháp cụ thể của Nhà nước để giải quyết một hoặc một số vấn đề của thực tiễn nhằm đạt được mục tiêu nhất định, phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng”(2). Quy phạm pháp luật là “quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân, trong phạm vi cả nước hoặc trong đơn vị hành chính nhất định”(3). Quá trình xây dựng, thực hiện và giám sát chính sách, pháp luật phải bảo đảm sự tham gia của Nhân dân, bởi Nhân dân không chỉ là đối tượng chịu sự tác động mà còn là chủ thể tham gia xây dựng, tổ chức thực hiện và giám sát việc thực thi chính sách, pháp luật.

Từ cách tiếp cận trên, có thể hiểu, hoàn thiện thể chế bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân trong xây dựng, thực hiện và giám sát chính sách, pháp luật là quá trình rà soát, sửa đổi, bổ sung và đồng bộ hóa các nguyên tắc, quy định, cơ chế, thiết chế cùng những điều kiện bảo đảm nhằm tạo lập cơ sở chính trị, pháp lý và tổ chức để Nhân dân thực hiện đầy đủ, thực chất và hiệu quả quyền làm chủ trong toàn bộ quá trình xây dựng, tổ chức thực hiện và giám sát chính sách, pháp luật. Bản chất của quá trình này không phải là trao quyền làm chủ cho Nhân dân, bởi quyền lực nhà nước vốn đương nhiên thuộc về Nhân dân, mà là tiếp tục thể chế hóa, cụ thể hóa và bảo đảm các điều kiện để quyền làm chủ của Nhân dân được thực hiện trên thực tế. Theo đó, quyền tham gia của Nhân dân phải được xác định rõ về nội dung, phạm vi, hình thức và phương thức thực hiện; đồng thời gắn với trách nhiệm công khai thông tin, tiếp nhận, giải trình, phản hồi ý kiến và chịu sự giám sát của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền.

Hoàn thiện thể chế bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân trong xây dựng, thực hiện và giám sát chính sách, pháp luật cần tập trung vào hai nội dung cơ bản sau: Một là, xây dựng cơ sở chính trị, pháp lý đồng bộ, khả thi để Nhân dân thực hiện quyền tham gia xây dựng, thực hiện và giám sát chính sách, pháp luật; bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, tuân thủ Hiến pháp, pháp luật và phân định rõ thẩm quyền, trách nhiệm của các chủ thể. Hai là, bảo đảm các điều kiện về thông tin, phương thức tham gia và nguồn lực thực hiện để quyền làm chủ được thực thi thực chất. Theo đó, ở khâu xây dựng cần coi trọng cơ hội tham gia và trách nhiệm giải trình; ở khâu thực hiện cần chú trọng công khai, khả năng tiếp cận và sự phối hợp; ở khâu giám sát cần bảo đảm việc tiếp nhận kiến nghị, phản hồi và theo dõi kết quả xử lý.

3. Thực trạng thể chế bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân trong xây dựng, thực hiện và giám sát chính sách, pháp luật

Ngay từ quá trình chuẩn bị thành lập Đảng và lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc, quan điểm đề cao vai trò của quần chúng Nhân dân, dựa vào Nhân dân và phát huy sức mạnh của Nhân dân đã được xác lập trong đường lối cách mạng của Đảng. Trong Sách lược vắn tắt của Đảng, Đảng ta xác định chủ trương phải “thu phục cho được đại bộ phận dân cày và phải dựa vào hạng dân cày nghèo làm thổ địa cách mạng đánh trúc bọn đại địa chủ và phong kiến”(4).

Từ khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, quyền làm chủ của Nhân dân đã được xác lập về mặt hiến định. Hiến pháp năm 1946 khẳng định quyền lực nhà nước thuộc về toàn thể Nhân dân Việt Nam (Điều 1); quy định quyền bình đẳng của công dân trên các phương diện chính trị, kinh tế, văn hóa (Điều 6) và quyền bình đẳng trước pháp luật, quyền tham gia chính quyền, tham gia công cuộc kiến quốc của công dân (Điều 7).

Trên cơ sở đó, quyền làm chủ của Nhân dân tiếp tục được khẳng định, mở rộng và cụ thể hóa trong đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước qua các thời kỳ. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội khẳng định: “sự nghiệp cách mạng là của Nhân dân, vì Nhân dân và do Nhân dân”(5); đồng thời xác định phương hướng xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường và mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất.

Thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước từng bước xác lập và hoàn thiện cơ sở pháp lý bảo đảm, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân thông qua Hiến pháp và hệ thống pháp luật. Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) khẳng định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân”(6); Nhân dân làm chủ, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân; Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân. Đồng thời, Hiến pháp quy định: “Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng Nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước”(7).

Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân tiếp tục được xây dựng, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện. Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 64/2025/QH15 quy định về xây dựng, ban hành và tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật, xác định thẩm quyền, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong quá trình này. Đặc biệt, Luật quy định về phản biện xã hội, tham vấn và góp ý đối với chính sách, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật; xác định vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội trong hoạt động phản biện xã hội, tham gia góp ý kiến dự thảo chính sách, pháp luật (Điều 6). Đồng thời, Luật quy định trách nhiệm của cơ quan lập đề xuất chính sách, cơ quan chủ trì soạn thảo trong việc nghiên cứu, tiếp thu, giải trình và công khai kết quả tiếp thu, giải trình các ý kiến phản biện xã hội, tham vấn, góp ý đối với chính sách và dự thảo văn bản quy phạm pháp luật.

Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam số 75/2015/QH13 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) quy định quyền và trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong tham gia xây dựng pháp luật, đề nghị xây dựng và trình dự án luật, pháp lệnh; tham gia góp ý kiến đối với dự thảo văn bản quy phạm pháp luật; kiến nghị cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ văn bản pháp luật trái pháp luật. Đồng thời, Luật xác định trách nhiệm của cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo và các cơ quan, tổ chức có liên quan trong việc tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tham gia góp ý kiến, nghiên cứu tiếp thu và phản hồi kiến nghị (Điều 21).

Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 72/2025/QH15 quy định trách nhiệm của chính quyền địa phương trong phối hợp và phát huy vai trò của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội trong tuyên truyền, vận động Nhân dân tham gia xây dựng, củng cố chính quyền Nhân dân; tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật của Nhà nước; giám sát và phản biện xã hội đối với hoạt động của chính quyền địa phương (Điều 7).

Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở số 97/2025/QH15 quy định nội dung, phương thức thực hiện dân chủ ở cơ sở; quyền, nghĩa vụ của công dân và trách nhiệm của cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân trong bảo đảm thực hiện dân chủ ở cơ sở. Các quy định của Luật cụ thể hóa quyền được biết, được bàn, tham gia ý kiến, quyết định, kiểm tra và giám sát của Nhân dân đối với những vấn đề thuộc phạm vi thực hiện dân chủ ở cơ sở.

Luật Tố cáo số 25/2018/QH14 quy định về tố cáo và giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ và các hành vi vi phạm pháp luật khác về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực; đồng thời quy định về bảo vệ người tố cáo và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức trong công tác giải quyết tố cáo.

Luật Khiếu nại số 02/2011/QH13 quy định về khiếu nại và giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước; khiếu nại và giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật cán bộ, công chức; tiếp công dân, quản lý và giám sát công tác giải quyết khiếu nại.

Qua các quy định trên có thể thấy, thể chế bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân trong xây dựng, thực hiện và giám sát chính sách, pháp luật đã từng bước được xác lập, bổ sung và hoàn thiện. Hệ thống pháp luật ngày càng cụ thể hóa quyền tham gia của Nhân dân, vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội; đồng thời xác định trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong công khai thông tin, tiếp nhận, giải trình và giải quyết ý kiến, kiến nghị của Nhân dân. Những kết quả đó tạo cơ sở pháp lý quan trọng để phát huy quyền làm chủ của Nhân dân trong quá trình xây dựng, thực hiện và giám sát chính sách, pháp luật.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, thể chế bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân vẫn còn những hạn chế, bất cập, nhất là về tính đồng bộ của hệ thống quy định, mức độ cụ thể hóa các cơ chế thực hiện quyền làm chủ và điều kiện bảo đảm tổ chức thực hiện. Chất lượng, hiệu lực và hiệu quả của thể chế chịu sự tác động của nhiều nhân tố, trong đó trực tiếp là nhận thức, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền; chất lượng tổ chức và hoạt động của bộ máy; trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ trực tiếp tham mưu, xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật. Bên cạnh đó, bối cảnh tình hình, điều kiện kinh tế - xã hội và những yêu cầu mới từ thực tiễn phát triển đất nước cũng tác động đến quá trình xây dựng, hoàn thiện và thực hiện thể chế.

Điều này đã được Đảng ta chỉ rõ: “Thực hành dân chủ ở cơ sở còn hình thức, quyền làm chủ của Nhân dân chưa hoàn toàn được tôn trọng và phát huy, trong một số lĩnh vực còn bị vi phạm. Hệ thống pháp luật, cơ chế, quy chế, tổ chức và các điều kiện để thực thi dân chủ, quyền làm chủ của Nhân dân chưa đồng bộ”(8). Việc cụ thể hóa cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ” và phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” chưa đầy đủ, toàn diện. Đồng thời, việc “Thực hành dân chủ trong Đảng và trong xã hội còn nhiều hạn chế”(9).

Từ những kết quả và hạn chế trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tại Đại hội lần thứ XIV, Đảng ta xác định yêu cầu: “Đột phá mạnh mẽ về thể chế phát triển, nâng cao năng lực hoạch định và tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước để khơi thông, giải phóng và phát huy hiệu quả mọi nguồn lực”(10). Nghị quyết số 31-NQ/TW ngày 15/10/2026 Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới nhấn mạnh quan điểm chỉ đạo: “Mọi chủ trương, quyết sách và hoạt động của hệ thống chính trị phải hướng tới lợi ích quốc gia - dân tộc, cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc của Nhân dân; phát huy dân chủ và quyền làm chủ của Nhân dân. Lấy chất lượng cuộc sống, sự đồng thuận và niềm tin của Nhân dân làm thước đo quan trọng đối với uy tín của Đảng và hiệu quả công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng”. Đây là quan điểm chỉ đạo và định hướng quan trọng đối với việc tiếp tục hoàn thiện thể chế bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, gắn việc hoàn thiện các quy định với nâng cao hiệu lực, hiệu quả tổ chức thực hiện, bảo đảm quyền tham gia của Nhân dân trong xây dựng, thực hiện và giám sát chính sách, pháp luật.

4. Giải pháp tiếp tục hoàn thiện thể chế bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân trong xây dựng, thực hiện và giám sát chính sách, pháp luật

Một là, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các chủ thể trong bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân.

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, tổ chức quán triệt sâu sắc quan điểm, chủ trương của Đảng về phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của Nhân dân, nhất là “quan điểm “Dân là gốc”. Xây dựng Đảng phải vì Nhân dân, dựa vào Nhân dân và chịu sự giám sát của Nhân dân”(11); Nhân dân là chủ thể, là trung tâm của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Qua đó, tạo sự thống nhất về nhận thức và hành động trong toàn Đảng, hệ thống chính trị và Nhân dân; nâng cao trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan nhà nước và đội ngũ cán bộ, đảng viên trong xây dựng, thực hiện và giám sát chính sách, pháp luật. Đặc biệt, các chủ thể có thẩm quyền xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật phải quán triệt sâu sắc yêu cầu xuất phát từ nhu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; lấy việc tôn trọng, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, hạnh phúc và “sự hài lòng của Nhân dân làm thước đo hiệu quả lãnh đạo, cầm quyền”(12). Đồng thời, phải tăng cường kiểm soát quyền lực, kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tiêu cực, các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân được tôn trọng và thực hiện nghiêm túc.

Hai là, tăng cường rà soát, đánh giá chất lượng, hiệu lực và hiệu quả của thể chế bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân.

Các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật phải thường xuyên rà soát, đánh giá toàn diện các quy định liên quan đến việc bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân. Nội dung rà soát, đánh giá cần tập trung vào tính hợp pháp về thẩm quyền, trình tự, thủ tục ban hành; tính đầy đủ, thống nhất, kịp thời và khả thi của các quy định; mức độ bảo đảm nguyên tắc lãnh đạo của Đảng, yêu cầu của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, tính công khai, minh bạch và trách nhiệm tiếp nhận, giải trình, phản hồi ý kiến, kiến nghị của Nhân dân. Việc đánh giá không chỉ dừng lại ở nội dung các văn bản mà phải xem xét hiệu lực thực hiện và tác động thực tế của thể chế đối với quyền tham gia của Nhân dân trong xây dựng, thực hiện và giám sát chính sách, pháp luật. Trên cơ sở đó, xác định rõ những quy định còn phù hợp, những nội dung thiếu thống nhất, bất cập, không còn đáp ứng yêu cầu thực tiễn và các yếu tố tác động đến chất lượng, hiệu quả thực hiện thể chế, làm căn cứ cho việc sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện.

Ba là, tiếp tục hoàn thiện hệ thống quy định pháp luật về bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân.

Quán triệt yêu cầu “trách nhiệm không dừng ở ban hành văn bản”(13), các cơ quan có thẩm quyền cần kịp thời sửa đổi, bổ sung, thay thế những quy định không còn phù hợp; khắc phục tình trạng mâu thuẫn, chồng chéo, thiếu thống nhất trong hệ thống văn bản về bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân. Việc hoàn thiện các quy định phải bảo đảm sự thống nhất giữa chủ trương, đường lối của Đảng với chính sách, pháp luật của Nhà nước; phù hợp với yêu cầu thực tiễn, đồng thời xác định rõ quyền tham gia của Nhân dân và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức có liên quan. Qua đó, bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất, khả thi của hệ thống quy định, gắn trách nhiệm ban hành với trách nhiệm tổ chức thực hiện, phát huy thực chất quyền làm chủ của Nhân dân.

Bốn là, tăng cường kiểm tra, giám sát và tổng kết thực tiễn việc xây dựng, thực hiện thể chế bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân.

Cần phát huy trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, trước hết là các cấp ủy, tổ chức đảng trong lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức kiểm tra, giám sát việc tuân thủ các nguyên tắc, quy định về bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân. Đồng thời, tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội trong kiểm tra, giám sát việc xây dựng, thực hiện chính sách, pháp luật. Nội dung kiểm tra, giám sát phải tập trung vào trách nhiệm của các chủ thể có thẩm quyền, nhất là người đứng đầu; việc thực hiện các quy định về công khai, minh bạch, tiếp nhận, giải quyết ý kiến, kiến nghị của Nhân dân; hiệu quả giám sát, phản biện xã hội và kiểm soát quyền lực trong xây dựng, thực hiện chính sách, pháp luật. Đặc biệt, phải làm rõ nguyên nhân của những hạn chế, khuyết điểm, vi phạm trong quá trình cụ thể hóa và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật; xác định trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan, khắc phục tình trạng quy định đã được ban hành nhưng tổ chức thực hiện chưa nghiêm, hiệu quả giám sát, phản biện xã hội còn hạn chế. Cùng với đó, cần thường xuyên tổng kết thực tiễn, đánh giá kết quả kiểm tra, giám sát để kịp thời phát hiện những bất cập, kiến nghị sửa đổi, bổ sung và tiếp tục hoàn thiện thể chế, bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân được thực hiện thực chất, hiệu quả.

5. Kết luận

Hoàn thiện thể chế bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân là yêu cầu quan trọng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quá trình này phải gắn việc hoàn thiện các quy định với nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện, bảo đảm quyền tham gia và giám sát thực chất của Nhân dân. Quán triệt quan điểm: “Niềm tin của Nhân dân phải được bồi đắp từ việc lắng nghe, tiếp thu ý kiến đúng, giải quyết quyền lợi chính đáng và sửa chữa khuyết điểm của cán bộ, đảng viên”(14), hiệu quả hoàn thiện thể chế phải được kiểm chứng bằng kết quả thực hiện quyền làm chủ của Nhân dân, qua đó củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, góp phần phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, đáp ứng yêu cầu xây dựng và phát triển đất nước trong giai đoạn mới./.

------------------------------------

Ghi chú:

1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập II, Nxb CTQG-ST, Hà Nội, tr.238.

2, 3. Quốc hội (2025), Luật số 64/2025/QH15 ngày 19/02/2025 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Hà Nội.

4. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 3, Nxb CTQG-ST, Hà Nội, tr.3.

5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2007), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 50, Nxb CTQG-ST, Hà Nội, tr.211.

6. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2026), Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 15/10/2026 Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng trong kỷ nguyên mới, Hà Nội.

7. Văn phòng Quốc hội (2025), Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Văn bản hợp nhất số 52/VBHN-VPQH ngày 21/7/2025.

8. Văn phòng Quốc hội (2025), Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Văn bản hợp nhất số 52/VBHN-VPQH ngày 21/7/2025.

9.  Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập II, Nxb CTQG-ST, Hà Nội, tr.182-183.

10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập II, Nxb CTQG-ST, Hà Nội, tr.183.

11. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập II, Nxb CTQG-ST, Hà Nội, tr.387.

12. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2026), Nghị quyết số 31-NQ/TW ngày 15/10/2026 Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới, Hà Nội.

13. Toàn văn: Phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 4 của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn, ngày 08/10/2026.

14. Toàn văn phát biểu khai mạc Hội nghị Trung ương 4, khóa XIV của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn, ngày 06/10/2026.

---------------------------------------

Tài liệu tham khảo:

1. Bộ Chính trị (2026), Chỉ thị số 09-CT/TW ngày 20/7/2026 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với việc thực hiện dân chủ ở cơ sở trong giai đoạn mới, Hà Nội.

2. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2026), Nghị quyết số 31-NQ/TW ngày 15/10/2026 Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới, Hà Nội.

3. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2026), Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 15/10/2026 Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng trong kỷ nguyên mới, Hà Nội.

4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập II, Nxb CTQG-ST, Hà Nội.


PGS.TS Trần Thị Hương - Học viện Báo chí và Tuyên truyền

Bài viết cùng tác giả