Từ khóa: Dân tộc thiểu số, miền núi; thị trường lao động, việc làm; xu hướng.
Abstract: In recent years, alongside advances in science and technology and the leadership and direction of the Communist Party of Vietnam and the State, the coordinated implementation of socio-economic development policies for ethnic minority and mountainous areas has yielded positive results. Infrastructure has gradually improved, poverty rates have declined, and the quality of education, healthcare, and living standards among ethnic minority communities has continued to rise. However, these areas remain less developed than the national average, with substantial gaps in income, human resource quality, access to the labor market, and employment opportunities. As Vietnam enters a new stage of development characterized by the pursuit of rapid, sustainable, and inclusive growth, existing structural limitations and changes in the labor market underscore the need for further, substantial reforms to employment policies linked to human resource development, thereby contributing to socio-economic progress in ethnic minority and mountainous areas.
Keywords: Ethnic minorities; mountainous areas; labor market; employment; trends.
Đặt vấn đề
Vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (DTTS&MN) vẫn là khu vực có trình độ phát triển thấp hơn mặt bằng chung của cả nước với tỷ lệ nghèo còn cao. Tại Quyết định số 806/QĐ-BNNMT ngày 11/3/2026 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường công bố kết quả hộ nghèo năm 2025 theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2022 - 2025, tỷ lệ nghèo đa chiều toàn quốc còn khoảng 2,95% nhưng tỷ lệ này của nhóm DTTS là 18,55% cao gấp hơn 6 lần(1). Trong vùng đồng bào DTTS&MN, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động còn chậm, các động lực tăng trưởng và chủ thể tạo việc làm còn hạn chế; sản xuất chủ yếu dựa vào kinh tế hộ quy mô nhỏ, lao động trong nông nghiệp và khu vực phi chính thức còn chiếm tỷ trọng lớn, khả năng tham gia chuỗi giá trị và thị trường còn thấp. Chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu phát triển, tỷ lệ lao động qua đào tạo còn thấp, kỹ năng nghề và kỹ năng số còn hạn chế, trong khi đào tạo chưa gắn chặt với nhu cầu của thị trường lao động (TTLĐ). Hệ thống thông tin TTLĐ và dịch vụ việc làm (DVVL) ở nhiều địa bàn vùng sâu, vùng xa còn chưa phát triển đồng bộ, làm hạn chế khả năng kết nối giữa người lao động và doanh nghiệp.
Thiếu cơ hội việc làm bền vững tại địa phương là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng di cư lao động của một bộ phận người dân, nhất là lao động trẻ. Bên cạnh những tác động tích cực về thu nhập, thì di cư và dịch chuyển lao động cũng làm phát sinh nhiều thách thức như thiếu hụt nguồn nhân lực tại chỗ, gia tăng rủi ro việc làm không bền vững và ảnh hưởng đến sự phát triển lâu dài của cộng đồng. Đồng thời, biến đổi khí hậu, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và yêu cầu nâng cao năng suất lao động đang làm thay đổi mạnh mẽ cơ cấu việc làm và đặt ra những yêu cầu mới về kỹ năng. Điều này đòi hỏi vùng đồng bào DTTS&MN phải chủ động thích ứng, nâng cao năng lực và phát huy lợi thế để đáp ứng yêu cầu phát triển trong bối cảnh mới.
Để có bức tranh toàn cảnh TTLĐ và việc làm trong vùng đồng bào DTTS&MN ở Việt Nam trong tương lai, cần có những nhận định bối cảnh phát triển và xu hướng của TTLĐ sẽ diễn ra.
Đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững, bao trùm và tự cường, phấn đấu đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và tạo nền tảng để đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã xác định mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2026 - 2030 đạt từ 10%/năm trở lên, GDP bình quân đầu người đạt khoảng 8.500 USD vào năm 2030; tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo đạt khoảng 28% GDP, kinh tế số đạt khoảng 30% GDP, tốc độ tăng năng suất lao động bình quân khoảng 8,5%/năm, tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ đạt 35 - 40%, tỷ lệ lao động trong nông nghiệp giảm xuống dưới 20%, tỷ lệ đô thị hóa đạt trên 50%(2). Mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao, phát triển kinh tế số, nâng cao năng suất lao động, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và giảm tỷ trọng lao động nông nghiệp sẽ làm thay đổi mạnh mẽ cơ cấu việc làm và yêu cầu đối với nguồn nhân lực. Cùng với đó, Việt Nam đang bước vào giai đoạn chuyển đổi nhân khẩu học với quá trình già hóa dân số diễn ra nhanh và lợi thế về quy mô lao động dần thu hẹp(3). Đồng thời, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, tự động hóa, chuyển đổi xanh và hội nhập kinh tế quốc tế đang làm thay đổi phương thức sản xuất, cơ cấu việc làm và yêu cầu về kỹ năng của người lao động(4). Nền kinh tế sẽ ngày càng dựa nhiều hơn vào năng suất, đổi mới sáng tạo, khu vực kinh tế tư nhân và khả năng tham gia chuỗi giá trị trong nước và toàn cầu.
2. Một số xu hướng phát triển nguồn nhân lực, việc làm và thị trường lao động vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi
Thời gian tới, TTLĐ Việt Nam sẽ tiếp tục phát triển theo hướng hiện đại, linh hoạt và hội nhập; nhu cầu đối với lao động có kỹ năng nghề, kỹ năng số và khả năng thích ứng ngày càng tăng, trong khi học tập suốt đời, đào tạo lại và nâng cao kỹ năng trở thành yêu cầu thường xuyên(5). Những xu hướng này vừa mở ra cơ hội, vừa đặt ra thách thức đối với vùng đồng bào DTTS&MN, đòi hỏi phải phát huy tiềm năng của địa phương, phát triển các chủ thể tạo việc làm, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và tăng cường kết nối lao động nhằm thu hẹp khoảng cách phát triển và bảo đảm phát triển bao trùm.
Xu hướng phát triển nguồn nhân lực. Đối với vùng đồng bào DTTS&MN, với gần 87% lực lượng lao động DTTS hiện dưới 55 tuổi, nguồn cung lao động trong trung hạn vẫn tương đối dồi dào, song lợi thế về quy mô lao động sẽ giảm dần, đặt ra yêu cầu chuyển mạnh từ khai thác lợi thế về số lượng sang nâng cao chất lượng, năng suất và hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực.
Mặc dù chất lượng nguồn nhân lực từng bước được cải thiện nhưng khoảng cách về trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề và kỹ năng số so với mặt bằng chung của cả nước vẫn còn lớn, đặc biệt trong vùng đồng bào DTTS&MN thì khoảng cách này được thể hiện rõ rệt, đặc biệt trong bối cảnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và hội nhập quốc tế thì yêu cầu về đào tạo lại, nâng cao kỹ năng cho người lao động vùng DTTS&MN cần được quan tâm. Xu hướng dịch chuyển lao động sẽ tiếp tục gia tăng cùng với phát triển hạ tầng, đô thị hóa và liên kết vùng.
Xu hướng việc làm. Trong bối cảnh cả nước đặt mục tiêu giảm tỷ lệ lao động nông nghiệp xuống dưới 20% vào năm 2030, áp lực chuyển dịch lao động khỏi nông nghiệp truyền thống và mở rộng việc làm trong công nghiệp, dịch vụ tại vùng đồng bào DTTS&MN sẽ ngày càng lớn. Đến năm 2035, việc làm và sinh kế vùng đồng bào DTTS&MN sẽ tiếp tục chuyển dịch theo hướng giảm dần tỷ trọng lao động trong nông nghiệp truyền thống, tăng việc làm phi nông nghiệp và đa dạng hóa sinh kế. Nông nghiệp vẫn giữ vai trò quan trọng nhưng sẽ chuyển mạnh sang sản xuất hàng hóa, ứng dụng khoa học, công nghệ, phát triển nông nghiệp sinh thái và liên kết theo chuỗi giá trị, qua đó tạo thêm việc làm trong chế biến, bảo quản, thương mại và các dịch vụ hỗ trợ sản xuất.
Xu hướng đa dạng hóa sinh kế sẽ diễn ra rõ nét hơn, kết hợp giữa nông nghiệp với dịch vụ, du lịch, ngành nghề truyền thống, kinh tế rừng và các hoạt động kinh doanh trên nền tảng số. Những xu hướng này mở ra nhiều cơ hội tạo việc làm bền vững, đồng thời đặt ra yêu cầu phát triển các chủ thể tạo việc làm, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tăng cường liên kết chuỗi giá trị và mở rộng khả năng tiếp cận thị trường để khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế của vùng đồng bào DTTS&MN. Khu vực dịch vụ và các ngành kinh tế dựa trên lợi thế địa phương sẽ ngày càng trở thành động lực tạo việc làm. Du lịch, thương mại, logistics, chế biến nông, lâm sản, dược liệu, kinh tế rừng, năng lượng tái tạo, kinh tế số và thương mại điện tử sẽ mở rộng cơ hội việc làm, giải quyết việc làm tại chỗ, góp phần phát triển kinh tế cho người dân.
Xu hướng thị trường lao động. Trong giai đoạn 2026 - 2035, TTLĐ vùng đồng bào DTTS&MN sẽ phát triển theo hướng ngày càng mở, hiện đại và gắn kết chặt chẽ hơn với TTLĐ quốc gia. Các dự báo về dân số và lao động cho thấy quá trình đô thị hóa, dịch chuyển dân cư và phân bố lại lao động giữa các vùng sẽ tiếp tục trong giai đoạn tới. Nhu cầu lao động tại các trung tâm kinh tế, khu công nghiệp và khu vực dịch vụ tiếp tục mở rộng, trong khi chênh lệch về cơ hội việc làm và thu nhập giữa các địa bàn vẫn là động lực thúc đẩy dịch chuyển lao động.
Xu hướng dịch chuyển lao động sẽ tiếp tục gia tăng và đa dạng hơn về hình thức, từ lao động dài hạn, thời vụ đến lao động theo chuỗi giá trị và trên nền tảng số. Hệ thống thông tin TTLĐ và DVVL sẽ tiếp tục được hiện đại hóa trên cơ sở ứng dụng công nghệ số, tăng cường chia sẻ dữ liệu và kết nối giữa cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp, cơ sở giáo dục và các tổ chức DVVL. Việc nâng cao chất lượng thông tin, dự báo cung - cầu lao động và mở rộng khả năng tiếp cận DVVL sẽ góp phần thu hẹp khoảng cách tiếp cận TTLĐ giữa vùng đồng bào DTTS&MN với các khu vực phát triển.
Những xu hướng này đòi hỏi TTLĐ vùng đồng bào DTTS&MN phải được phát triển theo hướng hiện đại, minh bạch, linh hoạt và kết nối hiệu quả với TTLĐ quốc gia, tạo điều kiện để người lao động tiếp cận cơ hội việc làm bền vững và các doanh nghiệp tiếp cận nguồn nhân lực phù hợp.
2. Một số vấn đề đặt ra hiện nay
Thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta dành nhiều sự quan tâm đối với hàng loạt chương trình chính sách được triển khai, điều kiện kinh tế - xã hội của vùng đồng bào DTTS&MN đã có nhiều chuyển biến tích cực. Kết cấu hạ tầng từng bước được cải thiện, tỷ lệ hộ nghèo giảm, chất lượng giáo dục, y tế và đời sống của đồng bào được nâng lên. Tuy nhiên, đây vẫn là khu vực có trình độ phát triển thấp hơn mặt bằng chung của cả nước; khoảng cách về thu nhập, chất lượng nguồn nhân lực, khả năng tiếp cận TTLĐ và cơ hội việc làm vẫn còn khá lớn. Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu tăng trưởng nhanh thì những hạn chế nội tại cùng với các xu hướng mới của TTLĐ cũng đặt ra nhiều vấn đề cần được quan tâm, tháo gỡ.
Thứ nhất, khả năng tạo việc làm tại chỗ của nhiều địa phương vùng đồng bào DTTS&MN còn hạn chế. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm, hoạt động sản xuất vẫn chủ yếu dựa vào nông, lâm nghiệp và kinh tế hộ. Năm 2024, mặc dù có khoảng 7,15 triệu người DTTS từ 15 tuổi trở lên có việc làm(6), cơ cấu việc làm vẫn tập trung chủ yếu trong nông, lâm nghiệp và thủy sản, chiếm 62,84%; công nghiệp và xây dựng chiếm 19,07% và dịch vụ chỉ chiếm 17,94%. Trong khi đó, cơ cấu lao động tương ứng của cả nước là 26,25%, 33,49% và 40,15%, cho thấy quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động ở vùng đồng bào DTTS&MN còn chậm(7).
Số lượng doanh nghiệp, hợp tác xã và các cơ sở sản xuất, kinh doanh còn ít; năng lực quản trị, khả năng tiếp cận vốn, công nghệ và thị trường còn hạn chế, chưa hình thành được nhiều chủ thể có khả năng tạo việc làm quy mô lớn và ổn định. Kinh tế hộ vẫn là khu vực tạo việc làm quan trọng, với khoảng 3,18 triệu hộ DTTS có hoạt động sản xuất, kinh doanh, trong khi phần lớn hoạt động còn có quy mô nhỏ, năng suất và khả năng tích lũy, đầu tư hạn chế. Các mô hình khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo và các ngành nghề mới phát triển còn chậm, dẫn đến khả năng hấp thụ lao động tại địa phương chưa cao. Điều này khiến nhiều lao động, đặc biệt là thanh niên, phải di chuyển đến các đô thị, khu công nghiệp hoặc các địa phương khác để tìm kiếm việc làm.
Sinh kế của người dân vùng đồng bào DTTS&MN vẫn phụ thuộc nhiều vào nông nghiệp quy mô nhỏ và các hoạt động kinh tế dễ bị tác động bởi thiên tai, biến đổi khí hậu, dịch bệnh và biến động của thị trường. Điều này làm gia tăng tính thiếu ổn định của việc làm và thu nhập, đồng thời đặt ra yêu cầu đa dạng hóa sinh kế, phát triển các mô hình tạo việc làm có khả năng chống chịu cao hơn, góp phần nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống của người dân.
Thứ hai, khu vực dịch vụ tại vùng đồng bào DTTS&MN vẫn phát triển chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế của từng địa phương. Năm 2024, khu vực dịch vụ chỉ chiếm khoảng 17,9% việc làm của lao động DTTS, thấp đáng kể so với mức 40,15% của cả nước. Trong khoảng 3,18 triệu hộ DTTS có hoạt động sản xuất, kinh doanh, tỷ lệ hộ hoạt động dịch vụ du lịch và nghề thủ công truyền thống chỉ chiếm tương ứng 0,19% và 0,33%(8). Nhiều loại hình dịch vụ có khả năng tạo nhiều việc làm như thương mại, logistics, du lịch, dịch vụ phục vụ sản xuất, dịch vụ số, tài chính và các dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã còn phát triển chậm, quy mô nhỏ, thiếu tính liên kết với sản xuất và chuỗi giá trị.
Thứ ba, vùng đồng bào DTTS&MN có nguồn nhân lực lớn và cơ cấu tuổi tương đối thuận lợi nhưng chất lượng nguồn nhân lực của vùng còn thấp so với yêu cầu phát triển. Năm 2024, dân số của 53 DTTS đạt trên 14,55 triệu người, trong đó khoảng 7,5 triệu người từ 15 tuổi trở lên tham gia lực lượng lao động; gần 87% lực lượng lao động dưới 55 tuổi. Đây là nguồn nhân lực quan trọng cho phát triển kinh tế tại chỗ cũng như đáp ứng nhu cầu nhân lực của các ngành, địa phương và trung tâm kinh tế trong cả nước. Tuy nhiên, chất lượng nguồn nhân lực vẫn là một trong những điểm nghẽn khi tỷ lệ người DTTS có việc làm đã qua đào tạo mới đạt khoảng 14,6%; trong đó khu vực thành thị đạt 30,2% nhưng khu vực nông thôn chỉ đạt 12,1%, trong khi gần 85% lực lượng lao động DTTS sinh sống ở khu vực nông thôn(9). Ngoài ra, kỹ năng nghề, kỹ năng số và khả năng thích ứng với sự thay đổi của TTLĐ còn hạn chế. Điều kiện tiếp cận đào tạo, thông tin TTLĐ, định hướng nghề nghiệp và tư vấn việc làm giữa các địa phương còn chênh lệch; cơ hội tham gia các chương trình đào tạo, đào tạo lại và nâng cao kỹ năng chưa đồng đều.
Thứ tư, hệ thống thông tin TTLĐ và dịch vụ việc làm (DVVL) tại vùng đồng bào DTTS&MN còn nhiều hạn chế, chưa thực hiện tốt vai trò kết nối giữa người lao động với doanh nghiệp và các cơ hội việc làm. Việc thu thập, cập nhật và chia sẻ thông tin về cung - cầu lao động và nhu cầu kỹ năng giữa các địa phương còn thiếu đồng bộ; dữ liệu chưa đầy đủ, chưa được chuẩn hóa và chưa đáp ứng yêu cầu dự báo ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Năng lực phân tích, dự báo xu hướng TTLĐ còn hạn chế, dẫn đến việc xây dựng kế hoạch đào tạo, định hướng nghề nghiệp và phát triển nguồn nhân lực chưa thực sự bám sát nhu cầu của nền kinh tế và doanh nghiệp. Mạng lưới cung cấp DVVL tại nhiều địa phương vùng đồng bào DTTS&MN còn mỏng, phạm vi bao phủ chưa rộng; hoạt động tư vấn nghề nghiệp, giới thiệu việc làm, kết nối cung - cầu lao động và hỗ trợ người lao động tiếp cận các cơ hội việc làm trong và ngoài địa phương chưa thường xuyên, chưa đa dạng về hình thức. Việc ứng dụng công nghệ số trong cung cấp DVVL, xây dựng cơ sở dữ liệu lao động và kết nối thông tin với các cơ sở dữ liệu quốc gia còn chậm, làm giảm khả năng tiếp cận thông tin của người lao động, đặc biệt là thanh niên, phụ nữ và các nhóm yếu thế ở vùng sâu, vùng xa. Sự phối hợp giữa các địa phương, doanh nghiệp, cơ sở giáo dục nghề nghiệp và các đơn vị cung cấp DVVL trong chia sẻ thông tin và kết nối tuyển dụng chưa chặt chẽ.
Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển các ngành có giá trị gia tăng cao đang làm thay đổi mạnh mẽ nhu cầu sử dụng lao động. Chuyển đổi số và phát triển kinh tế số mở ra nhiều mô hình việc làm mới, đồng thời đòi hỏi người lao động phải có kỹ năng nghề, kỹ năng số và khả năng thích ứng cao hơn. Chuyển đổi xanh và yêu cầu phát triển bền vững thúc đẩy nhu cầu lao động trong các ngành kinh tế xanh, nông nghiệp sinh thái, kinh tế tuần hoàn và du lịch bền vững, nhưng cũng đặt ra yêu cầu đào tạo lại và chuyển đổi nghề đối với một bộ phận lao động.
Xu hướng già hóa dân số tại một số địa phương, quá trình đô thị hóa và di cư lao động tiếp tục tác động đến cơ cấu dân số và phân bố lao động giữa các vùng. Trong khi một bộ phận lao động trẻ rời địa phương để tìm kiếm việc làm tại các đô thị và khu công nghiệp, nhiều doanh nghiệp trong nước và quốc tế lại đang đối mặt với tình trạng thiếu hụt lao động có kỹ năng. Điều này vừa tạo cơ hội mở rộng việc làm cho lao động vùng đồng bào DTTS&MN, vừa đặt ra yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tăng cường kết nối TTLĐ và phát triển các dịch vụ hỗ trợ việc làm theo hướng hiện đại, linh hoạt và hiệu quả hơn.
Những vấn đề nêu trên cho thấy việc làm bền vững cho vùng đồng bào DTTS&MN không chỉ phụ thuộc vào chính sách hỗ trợ việc làm mà cần được tiếp cận trong mối liên kết giữa phát triển nguồn nhân lực, phát triển kinh tế địa phương, phát triển TTLĐ và nâng cao năng lực của các chủ thể tạo việc làm. Đây là cơ sở thực tiễn quan trọng để xây dựng Đề án “Tạo việc làm, phát triển dịch vụ, kết nối lao động bền vững trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đến năm 2035”, nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.
3. Nhiệm vụ và giải pháp thời gian tới
Thứ nhất, phát huy năng lực của nền kinh tế địa phương để tạo việc làm tại chỗ.
Trên cơ sở kết quả rà soát, lựa chọn và phát triển các mô hình tạo việc làm phù hợp với đặc thù từng vùng, khu vực và địa bàn, gắn với các ngành, lĩnh vực, sản phẩm, dịch vụ và chuỗi giá trị có lợi thế, có khả năng tạo nhiều việc làm và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động. Mỗi mô hình cần xác định rõ chủ thể thực hiện, đối tượng lao động, nhu cầu đào tạo và kỹ năng, khả năng tạo và duy trì việc làm, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức tham gia và nguồn lực thực hiện; ưu tiên sử dụng, lồng ghép các chương trình, chính sách và nguồn lực hiện có.
Thúc đẩy phát triển các ngành, lĩnh vực có khả năng tạo nhiều việc làm, nhất là nông nghiệp hàng hóa; kinh tế rừng gắn với bảo vệ rừng, dược liệu, lâm sản ngoài gỗ, dịch vụ môi trường rừng và các cơ hội kinh tế từ thị trường carbon; bảo tồn và phát triển làng nghề, nghề thủ công truyền thống gắn với OCOP, du lịch và tạo việc làm; phát triển các mô hình sản xuất phù hợp với điều kiện từng vùng. Phát huy vai trò chủ thể, nguồn lực, giá trị văn hóa và sản phẩm chủ lực, đặc trưng của đồng bào DTTS; gắn sản xuất với chế biến, thương mại, tiêu thụ sản phẩm và phát triển chuỗi giá trị nhằm nâng cao giá trị gia tăng và mở rộng việc làm tại chỗ.
Phát triển các ngành dịch vụ dựa trên tiềm năng, lợi thế và nhu cầu phát triển của địa phương, ưu tiên các ngành, dịch vụ; tập trung vào du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái, du lịch văn hóa, du lịch nông nghiệp, du lịch trải nghiệm, thương mại, logistics, kinh tế cửa khẩu, dịch vụ cửa khẩu, thương mại điện tử, dịch vụ số và các dịch vụ hỗ trợ sản xuất, chế biến, bảo quản, tiêu thụ sản phẩm.
Lồng ghép mục tiêu, chỉ tiêu tạo việc làm trong kế hoạch và các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; gắn kết quả tạo việc làm với phát triển các ngành, lĩnh vực, sản phẩm và dịch vụ tại vùng đồng bào DTTS&MN.
Thứ hai, phát huy vai trò hạt nhân tạo việc làm của doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ kinh doanh.
Rà soát, xác định doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ kinh doanh có tiềm năng phát triển, mở rộng sản xuất, kinh doanh, tham gia chuỗi giá trị và tạo nhiều việc làm bền vững cho lao động địa phương để hỗ trợ từ các chương trình, chính sách và nguồn lực hiện có; ưu tiên các chủ thể phát triển sản xuất, kinh doanh lâu dài tại địa phương có khả năng duy trì, mở rộng việc làm, hoạt động trong các ngành, lĩnh vực có lợi thế, sử dụng nhiều lao động địa phương, nhất là lao động người DTTS; hỗ trợ, khuyến khích hợp tác xã, doanh nghiệp do người DTTS làm chủ, tham gia quản lý hoặc sử dụng nhiều lao động DTTS.
Chính quyền các cấp căn cứ chức năng, nhiệm vụ và phát huy vai trò để ban hành các chính sách phù hợp và tháo gỡ vướng mắc theo thẩm quyền trong quá trình thực hiện. Tăng cường hỗ trợ nâng cao năng lực quản trị, ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, phát triển sản phẩm, thị trường và tham gia chuỗi giá trị cho doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ kinh doanh. Huy động sự tham gia của doanh nghiệp đầu mối, hiệp hội doanh nghiệp, hiệp hội ngành nghề, cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu, tổ chức khoa học và công nghệ, các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp và tổ chức hỗ trợ phát triển trong đào tạo, tư vấn, chuyển giao công nghệ, kết nối thị trường và chuỗi giá trị.
Thứ ba, khuyến khích khởi nghiệp, khởi sự kinh doanh và đổi mới sáng tạo.
Khuyến khích khởi sự kinh doanh, tự tạo việc làm và phát triển các mô hình sản xuất kinh doanh trên cơ sở khai thác tiềm năng, lợi thế, nguồn lực tại chỗ, tri thức truyền thống và bản sắc văn hóa của đồng bào DTTS; chú trọng phát triển các sản phẩm, ngành nghề truyền thống, dịch vụ và mô hình kinh doanh có khả năng tạo việc làm, nâng cao thu nhập tại địa phương. Hỗ trợ hình thành và phát triển các ý tưởng, phương án sản xuất, kinh doanh, nhất là của thanh niên, phụ nữ và người DTTS, thông qua đào tạo kỹ năng khởi sự kinh doanh, quản trị, tư vấn, hướng dẫn xây dựng phương án sản xuất, kinh doanh và kết nối thị trường. Tăng cường kết nối các cá nhân, dự án khởi nghiệp qua các chương trình của các cá nhân tiêu biểu, doanh nghiệp; kết nối các cơ sở nghiên cứu, chuyển giao công nghệ và xây dựng thương hiệu, thương mại hoá sản phẩm.
Thứ tư, tăng cường liên kết chuỗi giá trị và chuyển giao công nghệ.
Phát triển các chuỗi giá trị trong nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ trên cơ sở lợi thế của từng địa phương, tăng cường liên kết giữa Nhà nước, người dân, doanh nghiệp, hợp tác xã và các cơ sở nghiên cứu, đào tạo trong tổ chức sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm và phát triển thị trường.
Tăng cường nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao khoa học, công nghệ phù hợp với nhu cầu và điều kiện sản xuất của từng địa bàn. Huy động viện nghiên cứu, cơ sở đào tạo, tổ chức khoa học và công nghệ, doanh nghiệp và chuyên gia tham gia chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, công nghệ sơ chế, chế biến sâu, bảo quản, đóng gói, quy trình sản xuất xanh, sạch; hỗ trợ các chủ thể đáp ứng tiêu chuẩn, quy chuẩn, chứng nhận chất lượng và yêu cầu của thị trường.
Thứ năm, phát triển thị trường và kết nối tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa.
Tăng cường kết nối cung - cầu, xúc tiến thương mại và phát triển thị trường cho các sản phẩm, dịch vụ có tiềm năng, lợi thế của vùng đồng bào DTTS&MN; hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh và các chủ thể kinh tế kết nối với doanh nghiệp đầu mối, hệ thống phân phối, thị trường trong nước, thương mại biên giới và thị trường xuất khẩu; tạo điều kiện tham gia hội chợ, triển lãm phù hợp.
Thúc đẩy ứng dụng thương mại điện tử, nền tảng số và công nghệ số trong quảng bá, kết nối và tiêu thụ sản phẩm; hỗ trợ nâng cao năng lực và kỹ thuật về xây dựng, quản trị dữ liệu sản phẩm và gian hàng số, tiếp thị số và giao dịch trực tuyến; phát huy vai trò của các cơ quan chuyên môn, doanh nghiệp công nghệ, sàn thương mại điện tử, hiệp hội và các tổ chức hỗ trợ trong kết nối và phát triển thị trường.
Thứ sáu, lồng ghép, phối hợp triển khai các chương trình, đề án và chính sách có liên quan.
Lồng ghép, phối hợp triển khai các nhiệm vụ của Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 - 2035, Kế hoạch triển khai thực hiện Thông báo số 123-TB/VPTW theo Quyết định số 1538/QĐ-TTg ngày 12/8/2026 của Thủ tướng Chính phủ và các chương trình, đề án, chính sách có liên quan nhằm sử dụng hiệu quả nguồn lực, tăng cường tính bổ trợ và tránh chồng chéo, trùng lặp.
Một là, tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển nguồn nhân lực gắn với việc làm.
Rà soát, hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển nguồn nhân lực vùng đồng bào DTTS&MN theo hướng gắn đào tạo với nhu cầu của TTLĐ, định hướng phát triển kinh tế và tạo việc làm tại địa phương; tăng cường phối hợp giữa cơ quan quản lý, cơ sở giáo dục đào tạo, giáo dục nghề nghiệp, doanh nghiệp, HTX và các chủ thể sử dụng lao động.
Hai là, tổ chức đào tạo nghề theo nhu cầu, gắn với việc làm và các ngành, lĩnh vực có tiềm năng.
Trên cơ sở các ngành, lĩnh vực, sản phẩm, dịch vụ, mô hình kinh tế và nhu cầu nhân lực được xác định tại từng địa bàn, rà soát nhu cầu học nghề, việc làm và phát triển sản xuất, kinh doanh của người lao động, nhu cầu tuyển dụng và kỹ năng của doanh nghiệp, HTX và các chủ thể sử dụng lao động; cấp xã trực tiếp rà soát, tổng hợp nhu cầu trên địa bàn, làm cơ sở xác định đối tượng, ngành nghề, nội dung, hình thức và quy mô đào tạo theo từng giai đoạn. Tăng cường sự tham gia của doanh nghiệp, hợp tác xã trong xác định nhu cầu, đặt hàng, tổ chức đào tạo, thực hành và đánh giá kết quả đào tạo.
Ưu tiên đào tạo gắn với các ngành, lĩnh vực, sản phẩm và chuỗi giá trị có khả năng tạo việc làm tại địa phương; chú trọng đào tạo nghề nông nghiệp gắn với vùng nguyên liệu, sản phẩm chủ lực, hợp tác xã và chuỗi giá trị. Xác định đồng thời nhu cầu lao động, yêu cầu về kỹ năng và phương án đào tạo, bồi dưỡng phù hợp; ưu tiên đào tạo gắn với cam kết tuyển dụng, sử dụng lao động hoặc phương án tự tạo việc làm, phát triển sản xuất, kinh doanh, góp phần bảo đảm người lao động sau đào tạo có khả năng tham gia và duy trì việc làm bền vững.
Ba là, đa dạng hóa phương thức đào tạo và nâng cao khả năng tiếp cận.
Phát triển các hình thức đào tạo linh hoạt, ngắn hạn, theo mô-đun, lưu động, tại chỗ, chú trọng thực hành và hướng dẫn trực tiếp tại nơi làm việc phù hợp với điều kiện của người lao động và đặc điểm sản xuất, kinh doanh tại vùng đồng bào DTTS&MN; tăng cường đào tạo theo đặt hàng, đào tạo lại và nâng cao kỹ năng nghề, kỹ năng số, kỹ năng mềm, quản trị và khởi sự kinh doanh.
Phát triển nội dung, tài liệu và phương thức đào tạo dễ hiểu, trực quan, chú trọng thực hành; sử dụng tiếng DTTS khi phù hợp, tạo thuận lợi cho người lao động vùng sâu, vùng xa và các nhóm còn gặp rào cản về ngôn ngữ, trình độ học vấn và điều kiện tiếp cận đào tạo.
Huy động nghệ nhân, thợ giỏi, chuyên gia, người có kinh nghiệm của doanh nghiệp, hợp tác xã và cơ sở sản xuất, kinh doanh tham gia đào tạo, thực hành và truyền nghề; phát huy vai trò của già làng, trưởng bản, người có uy tín trong cộng đồng và các tổ chức chính trị - xã hội ở cơ sở trong tuyên truyền, vận động, định hướng và hỗ trợ người lao động tiếp cận các chương trình đào tạo, học nghề và phát triển kỹ năng phù hợp với nhu cầu việc làm, sinh kế và điều kiện của địa phương.
Bốn là, tăng cường liên kết đào tạo với thực tập, tuyển dụng và theo dõi kết quả việc làm.
Phát triển liên kết giữa cơ sở giáo dục - đào tạo, giáo dục nghề nghiệp, doanh nghiệp, hợp tác xã và địa phương theo chuỗi định hướng nghề nghiệp - đào tạo - thực hành, thực tập - tuyển dụng, tự tạo việc làm - theo dõi sau đào tạo; tăng cường kết nối người học với các cơ hội việc làm tại địa phương và ngoài địa phương phù hợp với nhu cầu.
Phát huy vai trò của các trường dự bị đại học dân tộc trong tạo nguồn nhân lực DTTS chất lượng cao, tăng cường kỹ năng số, kỹ năng mềm, khởi nghiệp, định hướng nghề nghiệp và kết nối với các cơ sở giáo dục đại học, doanh nghiệp, hợp tác xã và địa phương.
Thứ nhất, phát triển thông tin thông tin thị trường lao động và nâng cao năng lực hệ thống dịch vụ việc làm.
Phát triển hệ thống thông tin TTLĐ theo hướng đồng bộ, liên thông và khai thác hiệu quả các hệ thống, cơ sở dữ liệu hiện có; nâng cao chất lượng thu thập, cập nhật, chia sẻ, phân tích và dự báo cung - cầu lao động. Tăng cường liên kết, chia sẻ thông tin giữa cơ quan quản lý nhà nước, trung tâm DVVL, chính quyền cấp xã, cơ sở giáo dục - đào tạo, cơ sở giáo dục nghề nghiệp, doanh nghiệp, hợp tác xã và các chủ thể sử dụng lao động. Đẩy mạnh chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ trong cung cấp thông tin TTLĐ và DVVL; ưu tiên kết nối và khai thác các cơ sở dữ liệu, nền tảng hiện có, không trùng lặp.
Thứ hai, đa dạng hóa và nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ việc làm.
Phát triển phương thức cung cấp DVVL đa dạng, kết hợp giữa trực tiếp và trực tuyến; tổ chức các phiên giao dịch việc làm trực tiếp, lưu động và trực tuyến, tăng cường đưa thông tin, tư vấn và DVVL đến cấp xã, thôn, bản và cộng đồng, phù hợp với điều kiện của từng địa bàn.
Phát huy vai trò của chính quyền cấp xã, cán bộ cơ sở, già làng, trưởng bản, người có uy tín trong cộng đồng, các tổ chức chính trị - xã hội tại địa bàn trong tuyên truyền, cung cấp và chuyển tải thông tin TTLĐ, vận động, hướng dẫn người lao động tiếp cận các DVVL và kết nối với các cơ quan, tổ chức cung cấp dịch vụ phù hợp; phát triển giao diện và phương thức cung cấp thông tin đơn giản, dễ sử dụng, phù hợp với đặc điểm ngôn ngữ, văn hóa và khả năng tiếp cận của người dân vùng đồng bào DTTS&MN.
Thứ ba, tăng cường kết nối cung - cầu và hỗ trợ người lao động tiếp cận việc làm bền vững.
Tăng cường cơ chế phối hợp giữa cơ quan quản lý nhà nước, trung tâm DVVL, chính quyền cấp xã, cơ sở giáo dục, giáo dục nghề nghiệp, doanh nghiệp, dịch vụ việc làm và các chủ thể sử dụng lao động trong kết nối cung - cầu lao động. Tăng cường hỗ trợ người lao động trước, trong và sau quá trình dịch chuyển, nhất là lao động ở địa bàn khó khăn, thông qua cung cấp thông tin về TTLĐ, doanh nghiệp tuyển dụng và doanh nghiệp dịch vụ, hợp đồng, điều kiện làm việc, quyền lợi của người lao động, tư vấn pháp lý và kết nối với các chính sách, dịch vụ hỗ trợ phù hợp theo quy định; hỗ trợ kết nối việc làm, đào tạo lại, khởi sự kinh doanh và tự tạo việc làm đối với lao động trở về địa phương.
Khuyến khích doanh nghiệp có giải pháp thu hút, sử dụng và giữ chân lao động có kỹ năng, ưu tiên sử dụng lao động địa phương và lao động người DTTS; hỗ trợ phụ nữ, thanh niên, người DTTS, người khuyết tật và các nhóm yếu thế tiếp cận bình đẳng thông tin, DVVL và cơ hội việc làm bền vững.
Thứ tư, theo dõi, đánh giá hiệu quả dịch vụ việc làm dựa trên kết quả.
Theo dõi, đánh giá hiệu quả hoạt động của hệ thống DVVL vùng đồng bào DTTS&MN trên cơ sở kết quả của người lao động sau khi được tư vấn, giới thiệu và kết nối việc làm; chú trọng khả năng tiếp cận việc làm, kết quả kết nối, khả năng duy trì việc làm và mức độ phù hợp của việc làm với nhu cầu, kỹ năng của người lao động.
Theo dõi kết quả kết nối việc làm theo các nhóm lao động và hình thức việc làm, bao gồm việc làm tại địa phương, việc làm ngoài địa phương và đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; sử dụng kết quả theo dõi và phản hồi của người lao động, người sử dụng lao động để đánh giá chất lượng DVVL và điều chỉnh phương thức tư vấn, giới thiệu, kết nối cung - cầu lao động.
Kết luận
Nghiên cứu về xu hướng thị trường lao động và việc làm tại vùng đồng bào DTTS&MN ở Việt Nam cho thấy những chuyển biến tích cực nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức mang tính chiến lược trong giai đoạn hiện nay. Sự phát triển của kinh tế số, hội nhập quốc tế cùng việc triển khai các Chương trình Mục tiêu quốc gia đã và đang mở ra nhiều cơ hội mới, thúc đẩy lực lượng lao động vùng DTTS&MN dịch chuyển dần từ sản xuất nông nghiệp tự cấp, tự túc sang các ngành công nghiệp, dịch vụ và du lịch sinh thái - văn hóa. Dự báo được xu hướng và quá trình vận động của thị trường kinh tế, lao động và việc làm sẽ từng bước thúc đẩy mở rộng thị trường lao động trong khu vực này./.
-----------------------------------------------
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Quyết định số 806/QĐ-BNNMT ngày 11/3/2026 công bố kết quả hộ nghèo năm 2025 theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2022 - 2025.
2. Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, 2025.
3. Cục Thống kê (2025), Dự báo dân số Việt Nam giai đoạn 2024-2074; Cục Thống kê (2026), Thông cáo báo chí tình hình lao động, việc làm quý IV và năm 2025.
4. World Bank (2025), Viet Nam 2045: Institutions for a High-Income Future; World Bank (2018), Vietnam's Future Jobs: Leveraging Mega-trends for Greater Prosperity.
5. ILO (2025), World Employment and Social Outlook: Trends 2025.
6, 8, 9. Tổng cục Thống kê, Điều tra thực trạng kinh tế - xã hội của 53 dân tộc thiểu số năm 2024.
7. Nguồn: số liệu của Tổng cục Thống kê (nay là Cục Thống kê thuộc Bộ Tài chính).
ThS Hoàng Thị Hoa Lý - Viện Chiến lược và Chính sách Dân tộc - Tôn giáo, Học viện Dân tộc và Tôn giáo, Bộ Dân tộc và Tôn giáo
ThS Phạm Thị Bảo Hà - Chuyên gia tư vấn
ThS Dương Hiền Dịu - Học viện Dân tộc và Tôn giáo, Bộ Dân tộc và Tôn giáo
.
Tin tức cùng chuyên mục
Bài viết cùng tác giả