Tóm tắt: Ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp là cách thức để nâng cao năng suất, chất lượng nông sản, đáp ứng nhu cầu ngày càng khắt khe của khách hàng, thị trường. Các công nghệ sinh học, nhà kính, tưới nhỏ giọt, cảm biến, tự động hoá, internet vạn vật (IoT),... đã giúp các hộ nông dân, các hợp tác xã nông nghiệp tiết kiệm chi phí, giảm thiểu ảnh hưởng của thời tiết, nâng cao khả năng cạnh tranh, góp phần bảo vệ môi trường. Có thể khẳng định: khoa học và công nghệ thực sự là một trong những giải pháp quan trọng, là xu hướng tất yếu của nền nông nghiệp Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế, sự bùng nổ của công nghệ thông tin cùng với diện tích đất sản xuất bị thu hẹp do đô thị hoá, biến đổi khí hậu và tăng dân số.
Abstract: The application of high technology in agricultural production is a method for boosting productivity and the quality of agricultural products, satisfying the increasingly stringent demands of customers, businesses, and the market. Technologies like biological science, nanotech, sensors, automation, precision irrigation, and the Internet of Things (IoT) have helped farming households and agricultural cooperatives save costs, minimize environmental impact, enhance competitiveness, and protect the environment. It can be asserted that science and technology are truly a vital solution and a key trend for Vietnamese agriculture, particularly in the context of global integration, the explosion of information technology, the narrowing of productive land due to urbanization, and the adverse effects of climate change and population growth.
Từ khoá: Công nghệ cao, lĩnh vực trồng trọt, hợp tác xã nông nghiệp, vùng miền núi phía Bắc.
Keywords: High technology, cropping sector, agricultural cooperatives, northern mountainous region.
Vùng miền núi phía Bắc là địa bàn chiến lược đặc biệt quan trọng về kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh và môi trường sinh thái của cả nước. Đây cũng là vùng hội tụ nhiều thách thức lớn, định hình một bối cảnh đặc thù cho phát triển nông nghiệp. Về mặt tự nhiên, miền núi phía Bắc là vùng có địa hình hiểm trở, bị chia cắt mạnh, với nhiều đỉnh núi cao. Điều kiện canh tác khắc nghiệt, quỹ đất bằng phẳng cho sản xuất quy mô lớn cực kỳ khan hiếm. Về mặt kinh tế - xã hội, đây hiện là "vùng nghèo" với 80% dân số đang sinh sống phụ thuộc trực tiếp vào sản xuất nông nghiệp, là vùng chịu tác động nặng nề nhất của biến đổi khí hậu[i]. Các hiện tượng thời tiết cực đoan như rét đậm, rét hại, sương muối, hạn hán và đặc biệt là mưa lũ, lũ quét, sạt lở đất ngày càng gia tăng về tần suất và cường độ; tác động trực tiếp làm giảm năng suất cây trồng, tăng nguy cơ bùng phát dịch bệnh, gây thiệt hại nghiêm trọng cho sản xuất nông nghiệp.
Bức tranh toàn cảnh ứng dụng công nghệ cao tại các hợp tác xã nông nghiệp vùng miền núi phía Bắc cho thấy: Vùng này "sở hữu" số lượng lớn các hợp tác xã, hợp tác xã nông nghiệp, đứng thứ nhất cả nước về số lượng hợp tác xã song số lượng thành viên ít, quy mô thành viên nhỏ: Về mặt số lượng thành viên chỉ đứng thứ 4/6 vùng trong cả nước[ii]. Khác với các hợp tác xã nông nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng, chủ yếu là các hợp tác xã thuần nông, chuyên canh lúa, rau màu, với quy mô hàng nghìn, hàng trăm thành viên/hợp tác xã thì phần lớn các hợp tác xã nông nghiệp vùng miền núi phía Bắc có quy mô nhỏ, trung bình mỗi hợp tác xã nông nghiệp chỉ có 35 người. Đối với các hợp tác xã nông nghiệp thành lập sau khi có Luật hợp tác xã năm 2012, thường có quy mô từ 7- 15 thành viên; Một số hợp tác xã nông nghiệp mới thành lập theo Luật hợp tác xã năm 2023 chỉ có 05 thành viên. Sự sụt giảm này có thể phản ánh quá trình tái cấu trúc lại thành viên theo quy định của Luật hợp tác xã 2023, tập trung vào các thành viên thực chất, có đóng góp và hưởng lợi trực tiếp từ hợp tác xã, thay vì chỉ "đánh trống ghi tên".
Bên cạnh đó, khả năng thu hút thành viên, người lao động của các hợp tác xã nông nghiệp vùng miền núi phía Bắc không cao so với các khu vực kinh tế khác. Tâm lý làm việc cho hợp tác xã chỉ mang tính chất ngắn hạn, tạm thời do thu nhập thấp, chưa ổn định và phần lớn chưa được tham gia bảo hiểm xã hội. Do đó, tạo ra sự trì trệ, thiếu cố gắng phấn đấu trong một bộ phận lớn người lao động. Lao động có tay nghề cao trong các hợp tác xã đang dần bị mai một, chưa được trẻ hóa để thay thế kịp thời hoặc bị thu hút sang các loại hình khác có sức hấp dẫn hơn. Các lao động trẻ, sinh viên tốt nghiệp cao đẳng, đại học cũng không mặn mà tham gia hợp tác xã nông nghiệp mặc dù họ chưa tìm kiếm được việc làm.
Có thể thấy, kiến thức về công nghệ cao của các hợp tác xã nông nghiệp còn hạn chế, cần được đào tạo, tập huấn nâng cao. Trong số thành viên "có biết" và "biết ít" về công nghệ cao, 14% cho rằng công nghệ cao là công nghệ thông tin; 13% cho rằng công nghệ cao là các quy trình canh tác tiên tiến, canh tác hữu cơ; 12% cho rằng công nghệ cao là tự động hoá và cơ giới hoá; 6% cho rằng công nghệ cao là nhà màng, nhà lưới và chỉ có 28% thành viên và 35% cán bộ chủ chốt hợp tác xã nông nghiệp cho rằng công nghệ cao là tất cả các yếu tố trên.
Mặc dù vậy, phần lớn thành viên hợp tác xã đều cho rằng: "Nhiều mô hình nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, mô hình liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ ở địa phương đã giúp nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, ổn định đầu ra, nâng cao thu nhập cho các thành viên hợp tác xã" và "Phát triển mô hình nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao sẽ đem lại hiệu quả kinh tế tích cực". Có tới 64% số hộ thành viên chưa có dự định ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp trong tương lai với lý do khó khăn về nguồn lực, vốn, lao động và thị trường tiêu thụ sản phẩm; Chỉ có 36% số hộ thành viên có dự định ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp trong tương lai, với các ý tưởng ứng dụng nhà màng, nhà lưới để trồng rau; Trồng cây dược liệu dưới tán rừng, áp dụng công nghệ tưới nhỏ giọt; Sử dụng máy phát cỏ, bón phân và tưới nước tự động.
Mới chỉ có 10% hợp tác xã nông nghiệp vùng miền núi phía Bắc ứng dụng công nghệ sinh học trong trồng trọt. Ảnh minh họa
Tuy nhiên, việc ứng dụng công nghệ cao của các hợp tác xã nông nghiệp vùng miền núi phía Bắc chủ yếu tập trung vào các công nghệ sản xuất nền tảng (cơ giới hoá, nhà màng, nhà lưới, công nghệ tin học). Số lượng hợp tác xã nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao để thu thập dữ liệu, phân tích và hoạch định sản xuất (IoT, Big Data) hay các công nghệ tự động hoá còn thấp. Chỉ có 10% hợp tác xã nông nghiệp vùng miền núi phía Bắc ứng dụng công nghệ sinh học trong trồng trọt thông qua việc tạo giống mới, sử dụng phân bón sinh học, phân hữu cơ vi sinh và các chế phẩm sinh học. Phần lớn các giống cây trồng mới, phân bón vi sinh và chế phẩm sinh học là do các hợp tác xã nông nghiệp tự mua ngoài (59%). Có 37% số lượng các hợp tác xã nông nghiệp tự chọn, tạo giống thông qua việc cấy, ghép; 4% hợp tác xã nông nghiệp được Nhà nước hỗ trợ giống cây và phân bón thông qua các chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững và chương trình phát triển KTXH vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Bên cạnh đó, các hợp tác xã nông nghiệp sử dụng phân bón vi sinh, phân hữu cơ vi sinh để cải tạo đất, tăng cường dinh dưỡng và giảm thiểu ô nhiễm môi trường và ứng dụng các chế phẩm sinh học phòng trừ sâu bệnh, thay thế cho các loại thuốc hóa học, giúp bảo vệ sức khỏe con người và hệ sinh thái. 24% hợp tác xã nông nghiệp vùng miền núi phía Bắc ứng dụng công nghệ tự động hoá trong lĩnh vực trồng trọt. Trong đó: 7% ứng dụng công nghệ tưới tự động và 17% ứng dụng cơ giới hóa vào các khâu của quá trình sản xuất, thu hoạch, sơ chế, chế biến (máy cấy, cắt cỏ, làm đất, gieo trồng; ứng dụng dây chuyền phân loại sản phẩm; bảo quản lạnh, sấy than hoa. 47% hợp tác xã nông nghiệp vùng miền núi phía Bắc ứng dụng kỹ thuật canh tác, nuôi trồng bảo quản. Trong đó: 16% sử dụng các giống cây trồng năng suất, chất lượng cao; 18% áp dụng các quy trình canh tác tiên tiến (VietGAp, GlobalGAP, ...) và canh tác hữu cơ; 13% hợp tác xã nông nghiệp ứng dụng công nghệ vật liệu mới (nhà màng, nhà lưới, trồng cây trên giá thể, ...)[iii].
Ngày 4 tháng 5 năm 2024, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 369/QĐ-TTg, phê duyệt Quy hoạch vùng trung du và miền núi phía Bắc thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050[iv]. Quy hoạch này đặt ra mục tiêu chiến lược đưa vùng miền núi phía Bắc trở thành "vùng phát triển xanh, bền vững và toàn diện". Đặc biệt, về định hướng phát triển nông nghiệp, Quyết định 369/QĐ-TTg chỉ rõ mục tiêu phát triển "nông nghiệp giá trị cao, hữu cơ, đặc sản, xanh, tuần hoàn".
Để hiện thực hóa định hướng chiến lược trên, cần các giải pháp đồng bộ để tháo gỡ các rào cản.
Thứ nhất, khơi thông dòng vốn tín dụng cho các hợp tác xã nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Nhà nước cần mở rộng các gói tín dụng chuyên biệt, quy mô lớn, ưu đãi lãi suất phục vụ sản xuất nông nghiệp sạch, nông nghiệp công nghệ cao. Thúc đẩy các mô hình tài chính mới, ví dụ như "Quỹ tín dụng chuyển đổi số" dành riêng cho hợp tác xã, hỗ trợ chi trả chi phí phần mềm, thuê bao nền tảng quản lý vùng trồng, truy xuất nguồn gốc... để giảm áp lực đầu tư ban đầu.
Thứ hai, tháo gỡ nút thắt đất đai, khắc phục rào cản về quy mô đất canh tác. Các địa phương vùng miền núi phía Bắc cần quyết liệt thực thi các chính sách "dồn điền, đổi thửa" và tập trung đất đai, đồng thời nghiên cứu ban hành các cơ chế đặc thù cho việc tích tụ đất đai trên địa hình dốc. Hoàn thiện và thực thi hiệu quả chính sách miễn, giảm tiền thuê đất, thuê mặt nước cho các hợp tác xã nông nghiệp sử dụng đất làm mặt bằng xây dựng trụ sở, nhà kho, cơ sở dịch vụ, đặc biệt là các dự án chế biến sâu.
Thứ ba, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tại chỗ. Đây là giải pháp mang tính chiến lược, dài hạn. Thay vì chỉ trông chờ thu hút nhân lực từ nơi khác đến, cần tập trung đào tạo và "giữ chân" nhân lực tại chỗ. UBND các tỉnh cần tăng cường "đặt hàng" đào tạo, liên kết chặt chẽ với các trường đại học, viện nghiên cứu để đào tạo nguồn nhân lực theo đúng nhu cầu phát triển các sản phẩm chủ lực của địa phương.
Thứ tư, củng cố liên kết 4 Nhà và phát triển thị trường. Nâng cao vai trò "nhạc trưởng" của chính quyền địa phương và Liên minh hợp tác xã Việt Nam. Các cơ quan này phải chủ động, quyết liệt trong vai trò "bà đỡ", tổ chức xúc tiến thương mại, quảng bá, giới thiệu sản phẩm (trong và ngoài nước), và kết nối thị trường cho hợp tác xã. Đẩy nhanh xây dựng các nền tảng số dùng chung cho hợp tác xã, tích hợp các công cụ quản lý vùng trồng, truy xuất nguồn gốc, logistics và đưa sản phẩm lên các sàn thương mại điện tử.
Kết luận
Trong bối cảnh toàn cầu hoá kinh tế và cuộc CMCN 4.0 đang tác động mạnh mẽ, đặt ra yêu cầu đổi mới căn bản phương thức phát triển của các quốc gia, phương thức SXKD, nhận thức và hành vi của mỗi cá nhân, tổ chức, DN, hợp tác xã. Ứng dụng công nghệ cao trong trồng trọt tại các hợp tác xã nông nghiệp khu vực miền núi phía Bắc là một xu thế tất yếu, vừa là cơ hội lớn, vừa là thách thức bao trùm. Định hướng mới của Chính phủ tại Quyết định 369/QĐ-TTg 10 yêu cầu một sự chuyển dịch chiến lược sang "nông nghiệp đặc sản, hữu cơ, tuần hoàn". Đây là cơ hội để miền núi phía Bắc biến bất lợi (địa hình, khí hậu) thành lợi thế (sản phẩm khác biệt).
[i] Xem https://vaas.vn/vi/video/tim-loi-giai-bai-toan-canh-tac-ben-vung-mien-nui-phia-bac
[ii] Xem Báo cáo của cơ quan Liên minh HTX Việt nam, tháng 6 năm 2025.
[iii] Xem Các số liệu trong Báo cáo kết quả điều tra của Trường Bồi dưỡng cán bộ, năm 2025
[iv] Xem https://vanban.chinhphu.vn/?pageid=27160&docid=210177
Vũ Thị Bích Hà, Trường Bồi dưỡng cán bộ, Liên minh Hợp tác xã Việt Nam
Bình luận
Tin tức cùng chuyên mục