Tiếng Việt
Tiếng Việt Tiếng Anh

Kinh nghiệm quốc tế về khung pháp lý cho thị trường giao dịch carbon - Các thách thức pháp lý và bài học cho Việt Nam

Ngày đăng: 19/01/2026   19:16
Đọc bài viết
Mặc định Cỡ chữ
Tóm tắt: Trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu, thị trường giao dịch carbon đã trở thành công cụ kinh tế then chốt giúp các quốc gia hiện thực hóa cam kết Net Zero. Việt Nam, trong quá trình xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý về thị trường, đang gặp nhiều thách thức và cần dựa trên cơ sở kinh nghiệm từ những quốc gia đã phát triển trên lĩnh vực này. Bài viết dưới đây sẽ phân tích các khung pháp lý của ba thị trường giao dịch carbon là Liên minh Châu Âu, Trung Quốc và Ấn Độ, từ đó chỉ ra các vấn đề pháp lý cần được hoàn thiện trong thời gian tới.

Từ khóa: Thị trường giao dịch carbon, Net Zero, khung pháp lý, thách thức pháp lý.

Abstract: In the context of global climate change, carbon trading markets have emerged as a key economic instrument enabling countries to realize their Net Zero commitments. Vietnam, in the process of developing and refining the legal framework for this market, is facing numerous challenges and needs to draw on the experiences of countries that have already advanced in this field. This article analyzes the legal frameworks of three carbon trading markets-the European Union, China, and India-thereby identifying legal issues that need to be further improved in the coming period.

Keywords: Carbon trading market, Net Zero, legal framework, legal challenges.

Ảnh minh họa

Đặt vấn đề

Sự chuyển dịch từ những dự báo sang khủng hoảng hiện hữu trong biến đổi khí hậu toàn cầu đã buộc cộng đồng quốc tế phải siết chặt các cam kết trong Thỏa thuận Paris, hướng tới mục tiêu trung hòa carbon vào năm 2050. Trong lộ trình này, thị trường giao dịch carbon không đơn thuần là một giải pháp kinh tế mà còn đóng vai trò là một định chế bổ trợ then chốt nhằm tối ưu hóa nguồn lực giảm phát thải. Với vai trò là nơi các giao dịch carbon diễn ra, thị trường đã tạo động lực pháp lý - tài chính, thúc đẩy các doanh nghiệp giảm thiểu khí thải thông qua cơ chế mua bán hạn ngạch và tín chỉ. Tuy nhiên, cơ chế này rất phức tạp, đòi hỏi sự vận hành quản lý một cách thống nhất, minh bạch.

Nhìn vào kinh nghiệm của các quốc gia tiêu biểu về thị trường giao dịch carbon như Liên minh Châu Âu (EU) hay các nước láng giềng khu vực như Trung Quốc và Ấn Độ, ta có thể thấy, quyền phát thải không chỉ dừng lại ở một chỉ số kỹ thuật môi trường mà đã được định hình rạch ròi dưới hình hài một loại tài sản tài chính đặc thù, được vận hành qua những bộ lọc rủi ro tinh vi như cơ chế dự trữ ổn định thị trường (MSR) hay cơ chế phân bổ hạn ngạch tập trung dựa trên hiệu suất thực tế. Nền tảng pháp lý vững chắc kết hợp với cơ chế điều tiết của thị trường giúp cho các giao dịch carbon được minh bạch, thống nhất, tạo niềm tin cho các nhà đầu tư và các tổ chức tài chính.

Tại Việt Nam, dù Chính phủ đã bước đầu định hình được khung pháp lý thông qua hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật như Luật Bảo vệ môi trường 2020, Nghị định 06/2022/NĐ-CP và gần đây là các bước đi chiến lược tại Nghị định 119/2025/NĐ-CP, hành lang pháp lý vẫn còn tồn tại những lỗ hổng. Những nút thắt về tính đồng bộ trong hệ thống đo đạc, báo cáo và thẩm định (MRV), sự thiếu vắng các quy định chi tiết về cơ chế giám sát giao dịch và quản lý rủi ro xuyên biên giới đang đặt ra những thách thức không nhỏ. Đặc biệt, việc thiếu vắng một khung định nghĩa chuẩn xác về quyền sở hữu đối với hạn ngạch phát thải và các chế tài trách nhiệm liên quan tạo ra rủi ro pháp lý không nhỏ đối với các nhà đầu tư, các tổ chức tài chính hay các cơ quan có thẩm quyền khi liên quan đến các giao dịch vay có bảo đảm, các thủ tục về đến thuế của các đối tượng giao dịch trên thị trường.

Những thách thức pháp lý đối với thị trường giao dịch carbon tại Việt Nam

Đầu tiên, thách thức liên quan đến khoảng trống quản trị.

Việt Nam đã thiết lập mô hình quản trị thị trường carbon dựa trên sự phối hợp đa

ngành, trong đó Bộ Nông nghiệp Môi trường giữ vai trò điều hành chính, phối hợp cùng Bộ Tài chính và các bộ chuyên ngành để quản lý sàn giao dịch và hạ tầng tài chính. Hệ thống kỹ thuật được vận hành bởi Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX) và Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ Chứng khoán Việt Nam (VSDC), đảm bảo tính đồng bộ trong giao dịch và thanh toán. Tuy nhiên, khung pháp lý hiện tại vẫn bộc lộ những hạn chế về cơ chế ra quyết định chung và thiếu quy trình phân cấp xử lý các sự cố kỹ thuật hoặc hành vi thao túng thị trường. Ngoài ra, việc thiếu các quy chuẩn khoa học quốc tế trong xác định hạn ngạch và sự thiếu hụt các quy định về liên kết thị trường xuyên biên giới đang là những rào cản chính cần được tháo gỡ để hoàn thiện hệ thống.

Tiếp theo, thách thức về việc xác định bản chất pháp lý của hạn ngạch phát thải và

tín chỉ carbon.

Hiện nay, hệ thống pháp luật Việt Nam vẫn chưa đưa ra định nghĩa cụ thể về bản chất pháp lý của hạn ngạch phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon, dù các văn bản hiện hành đã xác định đây là đối tượng giao dịch trên thị trường và được Chính phủ cấp phát cho các cơ sở phát thải trọng điểm hoặc được tạo ra từ các hoạt động giảm phát thải. Sự thiếu hụt về định danh tài sản này tạo ra một khoảng trống pháp lý đáng kể, gây khó khăn cho việc áp dụng các chính sách thuế, đặc biệt là trong việc phân loại lợi nhuận giao dịch thuộc nhóm thuế thu nhập doanh nghiệp thông thường hay thuế lãi vốn, cũng như tính khả thi của việc áp dụng thuế giá trị gia tăng (VAT). Bên cạnh đó, tính bất định về mặt pháp lý còn hạn chế khả năng vốn hóa các công cụ này, khiến các tổ chức tín dụng gặp rào cản khi xem xét hạn ngạch và tín chỉ carbon như một loại tài sản bảo đảm hợp pháp cho các khoản vay hoặc giao dịch tài chính phức tạp. Hơn nữa, trong kịch bản doanh nghiệp giải thể hoặc phá sản, việc thiếu quy định về quyền sở hữu và cơ chế thanh lý các công cụ carbon này làm phức tạp quá trình thu hồi tài sản của các bên liên quan. Do đó, việc hoàn thiện khung pháp lý nhằm xác lập rõ ràng bản chất tài sản của hạn ngạch và tín chỉ carbon là yêu cầu cấp thiết để tối ưu hóa hiệu quả vận hành của thị trường, thúc đẩy dòng vốn đầu tư và đảm bảo tính minh bạch trong thực thi các nghĩa vụ môi trường.

Thách thức liên quan đến cơ chế ổn định thị trường

Ngoài ra, việc thiếu cơ chế ổn định thị trường cũng đang gây nhiều khó khăn, khi các nhà đầu tư và các bên có nghĩa vụ tuân thủ có thể xem thị trường là thiếu ổn định và có rủi ro cao, từ đó làm chậm quá trình phát triển của thị trường giao dịch.Việc thiết lập các công cụ điều tiết như biên độ giá trần - giá sàn hoặc các quỹ dự phòng bình ổn là yêu cầu cấp thiết để kiểm soát các cú sốc cung - cầu ngoài dự kiến. Trong trường hợp dư cung hạn ngạch mà không có các rào cản kỹ thuật này, thị trường dễ rơi vào trạng thái biến động giá cực đoan, tạo điều kiện cho các hành vi đầu cơ và thao túng trục lợi phát sinh. Đặc biệt, tình trạng sụt giảm giá trị carbon sâu không chỉ làm sụt giảm giá trị của các tài sản thế chấp bằng tín chỉ, mà còn kích hoạt rủi ro thanh khoản dây chuyền cho cả hệ thống tổ chức tín dụng và doanh nghiệp. Hệ quả là niềm tin của các bên liên quan đối với thị trường carbon bị suy giảm, gây cản trở lộ trình chuyển đổi kinh tế xanh và các nỗ lực tuân thủ khí hậu trong dài hạn.

Cuối cùng, thách thức liên quan đến tính thanh khoản

Với các quy định hiện hành liên quan đến hạn ngạch và tín chỉ, có thể thấy được rủi ro thanh khoản các đối tượng này vẫn còn thấp. Trong giai đoạn từ năm 2025 đến hết năm 2028, để hỗ trợ doanh nghiệp làm quen với thị trường, Chính phủ quy định toàn bộ hạn ngạch phát thải khí nhà kính trong giai đoạn này sẽ được nghiên cứu, xem xét phân bổ miễn phí 100% cho các cơ sở thuộc một số lĩnh vực phát thải lớn. Ngoài ra, tỷ lệ tối đa để cơ sở có thể vay mượn lượng hạn ngạch được phân bổ cho giai đoạn kế tiếp để thực hiện nghĩa vụ nộp trả cho giai đoạn hiện tại là 15%, còn tỷ lệ sử dụng tín chỉ carbon để bù trừ nghĩa vụ giảm phát thải tối đa đang là 30%. Việc phân bổ miễn phí kết hợp với các cơ chế tuân thủ linh hoạt có thể làm giảm nhu cầu giao dịch thực tế, các doanh nghiệp có thể hoàn thành nghĩa vụ tuân thủ mà không cần tham gia giao dịch, dẫn đến hoạt động thị trường ở mức rất thấp. Một ví dụ điển hình là thị trường giao dịch carbon Liên minh Châu Âu vào giai đoạn đầu. Điều này gây ra rất nhiều hệ luỵ, khi các doanh nghiệp không còn động lực để tích cực chuyển xanh công nghệ sản xuất, hạn chế tối đa nỗ lực tối ưu hoá chi phí tuân thủ. Các doanh nghiệp cũng không còn động lực để mua đi bán lại tín chỉ và hạn ngạch, dẫn đến sự đóng băng dòng vốn.

Kinh nghiệm của một số quốc gia tiêu biểu về xây dựng khung pháp lý và quản lý thị trường giao dịch carbon

Liên minh Châu Âu

Căn cứ pháp lý thị trường giao dịch carbon của Liên minh Châu Âu dựa trên các Chỉ thị EU 2003/87 sửa đổi bổ sung bởi Chỉ thị EU 2023/959 về thiết lập một hệ thống giao dịch hạn ngạch phát thải khí nhà kính trong Liên minh. Có tổng cộng 31 quốc tham gia vào hệ thống giao dịch khí thải (EU ETS), bao gồm 27 quốc gia thành viên EU, 3 quốc gia thuộc Hiệp hội Thương mại tự do Châu Âu gồm Iceland, Liechtenstein và Na Uy, cùng với Bắc Ireland trong lĩnh vực sản xuất điện[1]. Đây là khung pháp lý chung cho Liên minh, ngoài ra các quốc gia sẽ phải xây dựng khung pháp lý nội địa cụ thể.

Đối tượng chủ yếu được giao dịch trên ETS bao gồm hạn ngạch phát thải và tín chỉ carbon. Trước đây, EU "đóng cửa" với tín chỉ bên ngoài để ép các doanh nghiệp phải tự cắt giảm phát thải bằng công nghệ, thay vì dùng tiền mua tín chỉ rẻ từ nước ngoài, nhằm giảm thiểu sự rò rỉ carbon. Vì thế, các tín chỉ carbon đủ điều kiện giao dịch trên EU ETS là các tín chỉ phát thải từ các cơ chế nội khối, được Nghị viện Châu Âu và Hội đồng thông qua dựa trên đề xuất của Ủy ban để sử dụng cho các hoạt động nội địa[2]. Mới đây, từ tháng 11/2025, EU tuyên bố sẽ mở cửa và chốt mua tín chỉ quốc tế để bù trừ phát thải, tối đa 5% tổng lượng phát thải để phát triển cả kinh tế lẫn môi trường[3].

Liên minh Châu Âu xác định bản chất pháp lý của hai đối tượng giao dịch trong thị trường giao dịch carbon một cách khái quát. Cả tín chỉ carbon và hạn ngạch phát thải đều được coi là công cụ tài chính, ngoài ra, hạn ngạch còn được coi là một công cụ hành chính vì gắn liền với quyền được phát thải của Nhà nước cũng như được quản lý bởi cơ quan có thẩm quyền[4]. Việc xác định như vậy ảnh hưởng tích cực tới tài chính doanh nghiệp, bởi họ có thể dùng số hạn ngạch và tín chỉ chưa sử dụng để thế chấp vay vốn ngân hàng, giúp tối ưu hóa nguồn vốn lưu động, đặc biệt là các doanh nghiệp xanh có dư thừa hạn ngạch có thể chuyển hóa lợi thế môi trường thành dòng tiền mặt phục vụ sản xuất. Ngoài ra, việc xác định bản chất pháp lý giúp minh bạch hoá giao dịch, giảm thiểu các rủi ro pháp lý trong nhiều trường hợp như tranh chấp hay phá sản. Nếu một doanh nghiệp phá sản, các hạn ngạch và tín chỉ carbon sẽ được xác định rõ là một phần của khối tài sản thanh lý để trả nợ cho các chủ nợ.

Định chế tuân thủ & ổn định giá (Market Stability Reserve - MSR) cũng là một điểm nổi bật của thị trường giao dịch carbon của Liên minh Châu Âu. MSR là cơ chế tự điều chỉnh, vận hành dựa trên quy tắc chung chứ không trao quyền cho Uỷ ban Châu Âu hay một quốc gia thành viên nào, tác động vào khối lượng hạn ngạch được đấu giá chứ không tác động trực tiếp vào giá hạn ngạch. Cụ thể, trong trường hợp ngoài thị trường tồn tại quá nhiều hạn ngạch (vượt quá ngưỡng 1096 triệu), cơ chế này sẽ tự điều chỉnh, rút bớt hạn ngạch khỏi thị trường và ngược lại bơm thêm hạn ngạch vào thị trường nếu khan hiếm (dưới 400 triệu hạn ngạch). Ngoài ra, từ năm 2023, để đảm bảo lượng hạn ngạch trong dự trữ không tích lũy quá mức và gây bất ổn thị trường, các quy định mới quy định rằng số lượng hạn ngạch nắm giữ trong MSR vượt quá mức 400 triệu sẽ không còn giá trị (bị hủy bỏ vĩnh viễn)[5].  Cơ chế này giúp cho giá của carbon luôn duy trì ở mức cao, loại bỏ tình trạng giá ảo, giảm thiểu rủi ro đầu cơ và thao túng thị trường. Ngoài ra, MSR gián tiếp đảm bảo nguồn thu ngân sách từ việc đấu giá hạn ngạch luôn ổn định và ở mức cao. Nguồn tiền thu được từ đấu giá sẽ được chuyển vào các quỹ Đổi mới và quỹ Hiện đại hoá để hỗ trợ ngược lại các doanh nghiệp chuyển đổi xanh, tạo thành một vòng tuần hoàn tài chính hiệu quả.

Trung Quốc

Quy định tạm thời về Quản lý giao dịch phát thải carbon của Trung Quốc năm 2024 (Interim Regulations on the Administration of Carbon Emissions Trading 2024) hiện tại là khung pháp lý mang tính hiệu lực cao nhất, quy định về quản lý giao dịch phát thải carbon. Trung Quốc áp dụng mô hình phân bổ hạn ngạch dựa trên cường độ phát thải, nhưng đã có kế hoạch chuyển đổi dần sang mô hình giới hạn tổng lượng phát thải giống như Liên minh Châu Âu.

Đối tượng giao dịch trên thị trường của Trung Quốc bao gồm cả hạn ngạch phát thải và tín chỉ carbon. Với cả hai đối tượng pháp luật quốc gia đều xác định là quyền tài sản và quyền môi trường, ngoài ra hạn ngạch còn được xác định là một công cụ quản trị bởi nó là một loại "giấy phép" được cơ quan nhà nước (Bộ Sinh thái và Môi trường - MEE) cấp phát để áp đặt nghĩa vụ tuân thủ bắt buộc đối với các doanh nghiệp phát thải trọng điểm, thể hiện quyền lực quản lý của nhà nước trong việc kiểm soát tổng lượng phát thải quốc gia.  Cơ quan Quản lý tài chính Quốc gia (NFRA) đã ban hành Ý kiến hướng dẫn về phát triển tài chính công nghệ, tài chính xanh..., trong đó đề xuất phát triển các hình thức cầm cố và thế chấp đối hạn ngạch phát thải và tín chỉ carbon. Các cơ quan tài chính bao gồm Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBOC) và NFRA cũng đang tích cực hướng dẫn hỗ trợ tài chính cho sự phát triển của thị trường carbon. Cơ quan Thuế Nhà nước (STA) đã ban hành văn bản làm rõ hướng dẫn thực hiện các chính sách thuế giá trị gia tăng (VAT) áp dụng cho giao dịch phát thải carbon, qua đó làm rõ hơn về cách xử lý thuế và tài chính đối với giao dịch phát thải carbon[6]. Có thể thấy, Trung Quốc đã chính thức ban hành các hướng dẫn để biến hạn ngạch và tín chỉ carbon thành một loại tài sản thế chấp hợp pháp nhằm thúc đẩy tài chính xanh.

Ngoài ra, việc có sự phân cấp kết hợp chặt chẽ giữa trung ương và địa phương trong việc quản lý thị trường, chẳng hạn như có Hệ thống rà soát dữ liệu ba cấp bao gồm: Quốc gia, tỉnh và thành phố; Phân cấp quản lý trong việc tuân thủ và hoàn trả hạn ngạch; cơ quan địa phương thực hiện xử lý vi phạm các cơ sở thuộc đối tượng vi phạm, cơ quan trung ương thực hiện xử lý vi phạm các cơ quan địa phương vi phạm,.. giúp thị trường giao dịch được thống nhất, đảm bảo dữ liệu phát thải luôn được minh bạch, xác thực. Sự phân cấp kết hợp này khiến các giao dịch liên quan đến tín chỉ và hạn ngạch sẽ không bị biến động giá quá nhiều và bất ngờ, củng cố niềm tin các nhà đầu tư và các tổ chức tín dụng[7]. Với những hành vi thao túng thị trường carbon, Trung Quốc đã có những hình thức xử lý rất nghiêm ngặt, ngoài phạt hành chính còn xử lý hình sự và dân sự[8], kết hợp với các biện pháp bổ trợ khác như công khai thông tin, cưỡng chế thực hiện[9].

Ấn Độ

Ấn Độ đang thiết lập Cơ chế giao dịch tín chỉ carbon (Carbon credit trading scheme - CCTS) trong khuôn khổ thị trường carbon Ấn Độ nhằm giảm phát thải khí nhà kính.. Theo Báo cáo tình trạng và xu hướng định giá carbon năm 2025 của Ngân hàng Thế giới, Ấn Độ đã nổi lên như một nhân tố đáng chú ý trong số các nền kinh tế mới nổi trong việc thúc đẩy các khuôn khổ định giá carbon và các công cụ tài chính khí hậu[10].

Đối tượng giao dịch trên thị trường carbon bao gồm nhiều loại, nổi bật là tín chỉ carbon được chia ra làm hai trường hợp: Chứng chỉ tín chỉ carbon được cấp cho các cơ sở doanh nghiệp bắt buộc giảm phát thải và đã thành công, và tín chỉ carbon tự nguyện trong các dự án được Chính phủ Ấn Độ phê duyệt. Về khía cạnh pháp lý, chứng chỉ carbon được hiểu là công cụ pháp lý cụ thể biểu thị quyền sở hữu đối với một lượng tín chỉ carbon nhất định, do Chính phủ Trung ương cấp phát thông qua cơ chế đăng ký quốc gia để có thể giao dịch trên thị trường. Như vậy, chứng chỉ không chỉ là bằng chứng về cam kết giảm phát thải mà còn là một loại tài sản mà pháp luật công nhận. Tín chỉ carbon, trong khuôn khổ pháp luật quốc gia, được xác định là tài sản vô hình di động mang tính định chế. Điều này phản ánh bản chất kép của nó: vừa là một quyền được nhà nước bảo hộ nhằm thực hiện chính sách môi trường, vừa là một tài sản mà doanh nghiệp có quyền sở hữu, giao dịch và thậm chí dùng làm tài sản bảo đảm theo quy định pháp luật. Nhìn chung, cả hai đối tượng đều được quy định là công cụ pháp lý và tài sản vô hình di động[11].

Ấn Độ áp dụng mô hình dựa theo cường độ phát thải, thay vì đặt ra một giới hạn cứng về tổng lượng phát thải giống Liên minh Châu Âu. Với mô hình này, mỗi thực thể được chỉ định một mức chuẩn hiệu suất để hạn chế phát thải. Điều này mang lại sự linh hoạt cho các nền kinh tế đang phát triển nhanh. Tuy nhiên, do lượng tín chỉ phụ thuộc vào sản lượng và hiệu suất thực tế, nên việc thiết lập chuẩn đúng đắn là rất quan trọng để cân bằng thị trường. Mục tiêu cường độ ban đầu dự kiến chỉ giảm khoảng 3% trung bình các ngành, điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc có cơ chế ổn định bổ sung. Một số điều trong Cơ chế giao dịch tín chỉ carbon có thể gây tác dụng ngược dù ý định ban đầu là tích cực, như cơ chế tích trữ không giới hạn có thể gây bất ổn giá tín chỉ carbon. Nguyên do là vì cơ chế này cho phép các cơ sở, doanh nghiệp giữ lại tín chỉ để dùng sau, giúp giảm chi phí tuân thủ theo thời gian. Tuy nhiên kết hợp với cường độ giảm phát thải còn thấp sẽ gây ra thặng dư tín chỉ, làm giảm giá tín chỉ trên thị trường.

Ấn Độ có Cơ chế điều chỉnh giá hoặc nguồn cung (PSAM) là khuôn khổ minh bạch, điều chỉnh nguồn cung tín chỉ. Tuy nhiên, cơ chế này không đặt mục tiêu về số lượng tín chỉ trong thị trường ngay từ đầu, chỉ trong trường hợp thị trường mất cân bằng do thặng dư hoặc thiếu hụt kéo dài, cơ chế này mới được kích hoạt. Không giống với MSR của Liên minh Châu Âu, tín chỉ của Ấn Độ được cấp sau thẩm định, và quốc gia này cũng không có hệ thống đấu giá để điều chỉnh nguồn cung linh hoạt[12].

Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Từ các thách thức pháp lý và kinh nghiệm thị trường carbon từ một số quốc gia, một số khuyến nghị dành cho việc hoàn thiện khung pháp lý cho Việt Nam:

Thứ nhất, khẩn trương thiết lập mô hình quản lý tập trung nhưng phân cấp hiệu quả. Việt Nam cần thiết lập một cơ chế phối hợp liên bộ ngành có tính ràng buộc pháp lý cao hơn, nhằm đảm bảo sự thống nhất tuyệt đối giữa hệ thống đăng ký quốc gia và sàn giao dịch. Việc xây dựng các quy trình quản lý rủi ro nghiêm ngặt và phân cấp xử lý sai lệch dữ liệu dựa trên các thuật toán giám sát thời gian thực, đồng thời áp dụng các quy chuẩn đo đạc, báo cáo và thẩm định (MRV) theo tiêu chuẩn quốc tế sẽ giúp tăng tính minh bạch và khả năng liên kết xuyên biên giới. Cuối cùng, việc áp dụng cơ chế "hậu kiểm" và quy định cụ thể chế tài xử lý vi phạm nghiêm ngặt đối với hành vi vi phạm, kết hợp với lộ trình chuyển đổi dần từ cấp phát hạn ngạch miễn phí sang đấu giá, sẽ giúp tối ưu hóa hiệu quả vận hành và tạo tín hiệu giá ổn định cho các định chế tài chính tham gia thị trường.

Thứ hai, Việt Nam cần khẩn trương xác lập một khung định nghĩa chuẩn xác về bản chất pháp lý của hạn ngạch phát thải và tín chỉ carbon, thay vì chỉ dừng lại ở việc coi chúng là đối tượng giao dịch. Việc công nhận các công cụ này là một loại tài sản đặc thù hoặc quyền tài sản, tương tự như cách tiếp cận trong pháp luật dân sự hiện đại sẽ tạo tiền đề để đồng bộ hóa hệ thống thuế, giúp cơ quan quản lý phân định rạch ròi giữa thuế thu nhập thông thường và thuế tài sản, từ đó loại bỏ các rủi ro về thuế chồng chéo cho doanh nghiệp. Xét theo phương diện tài chính, định danh tài sản giúp ngân hàng thương mại có căn cứ tích hợp tín chỉ carbon vào danh mục tài sản bảo đảm hợp pháp, cho phép áp dụng các biện pháp thế chấp và xử lý nợ theo quy trình chuẩn. Trong trường hợp doanh nghiệp phá sản hay giải thể, một cơ chế định danh minh bạch sẽ bảo vệ quyền lợi hợp pháp của chủ nợ, biến hạn ngạch và tín chỉ carbon thành tài sản có khả năng thanh lý thực tế.

Ngoài ra, Việt Nam cần sớm tích hợp các công cụ điều tiết linh hoạt để bảo vệ tính bền vững của thị trường carbon. Việt Nam có thể học hỏi kinh nghiệm của Liên minh Châu Âu, xây dựng một cơ chế dự trữ ổn định thị trường, tự động cho phép điều chỉnh lượng hạn ngạch lưu thông dựa trên số lượng hạn ngạch đã được xác định trước. Thay vì can thiệp hành chính trực tiếp, việc sử dụng cơ chế sẽ giúp hấp thụ lượng cung dư thừa, từ đó ngăn chặn sự sụp đổ của giá carbon và bảo vệ giá trị cho các tài sản thế chấp tại ngân hàng. Đồng thời, các nhà lập pháp nên thiết lập mức giá trần - giá sàn hợp lý để doanh nghiệp duy trì động lực đầu tư công nghệ xanh, ngăn ngừa cú sốc chi phí. Việc này không chỉ giúp triệt tiêu tâm lý đầu cơ trục lợi mà còn cung cấp niềm tin cho các định chế tài chính, đảm bảo rằng tín chỉ carbon có thể vận hành như một loại tài sản đầu tư an toàn trong dài hạn.

Cuối cùng, Việt Nam cần thực hiện một lộ trình chuyển đổi quyết liệt từ cơ chế cấp phát miễn phí sang đấu giá từng phần. Việc này sẽ tạo ra áp lực tài chính thực tế, buộc doanh nghiệp phải bước vào sàn giao dịch để tìm kiếm nguồn cung, thay vì chỉ dựa vào sự hỗ trợ của Nhà nước. Song song đó, tỷ lệ bù trừ hạn ngạch cần được tinh chỉnh theo hướng giảm dần theo thời gian để kích thích giao dịch, tránh tình trạng doanh nghiệp tích trữ carbon quá mức. Các đơn vị phát thải sẽ tích cực tối ưu hóa công nghệ sản xuất, chủ động mua đi bán lại trên thị trường, làm luân chuyển dòng vốn. Trong một tương lai xa hơn, Việt Nam có thể học tập kinh nghiệm từ Liên minh Châu Âu trong việc cắt giảm các biện pháp bù trừ ngoại lai, có nghĩa là mua bán tín chỉ carbon quốc tế để bù trừ hạn ngạch, khi thị trường đã đạt đến độ ổn định, nhằm tập trung dòng vốn vào việc giao dịch hạn ngạch nội khối.



[2] Khoản 3 Điều 30 Chỉ thị EU 2003/87 sửa đổi bổ sung bởi Chỉ thị EU 2023/959

[3] Vnexpress, Net Zero, 06/11/2025, EU chốt mua tín chỉ quốc tế để bù trừ phát thải, https://vnexpress.net/eu-chot-mua-tin-chi-quoc-te-de-bu-tru-phat-thai-4960580.html, truy cập 04/01/2026

[4] Directive 2014/65/EU (MiFID II)

[5]Directive 2003/87/EU supplemented and amended by Directive 2023/959/EU

[6] Ministry of Ecology and Environment of the People’s Republic of China, 09/2025, Progress Report of China’s National Carbon Market (2025)

[7] Ministry of Ecology and Environment of the People’s Republic of China, 09/2025, Progress Report of China’s National Carbon Market (2025)

[8] Article 187 China Civil Code

[9] Ministry of Ecology and Environment of the People’s Republic of China, 09/2025, Progress Report of China’s National Carbon Market (2025)

[10] AgriGate- An International Multidisciplinary e-Magazine, Volume 05, Issue No.08, 08/2025, Carbon trading in India

[11] IJIRCT, Volume 11 Issue 6, Dr. Swarup Mukherjee, Associate Professor of Law ICFAI University Tripura, 11/12/2025, Carbon Credits as Property in India: Legal Status, Ownership, and Enforcement under Emerging Climate Regulation

[12] World Economic Forum, 10/11/2025, Why India’s carbon market needs a price stability mechanism for its new Carbon Credit Trading Scheme, https://www.weforum.org/stories/2025/11/why-india-s-carbon-market-needs-a-price-stability-mechanism/, truy cập 04/01/2026

Tạ Nguyễn Anh Thư - SV K47 ngành Luật Kinh tế Chất lượng cao, Đại học Luật Hà Nội

Bài viết cùng tác giả