Nguồn lực đặc thù cho kết nối thị trường lao động
Đáng chú ý, trong Quý I/ 2026, tỷ lệ thất nghiệp trong nhóm thanh niên vẫn ở mức cao, khoảng 8,86%, dù đã giảm nhẹ so với quý trước. Tại khu vực thành thị, tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động là 2,46%, nhích lên so với cả quý trước lẫn cùng kỳ. Đa số lao động thất nghiệp tập trung vào nhóm không có bằng cấp, chứng chỉ (chiếm 60%). Trong khi đó, lao động có trình độ đại học trở lên chiếm gần 20%, phần còn lại thuộc các nhóm trình độ cao đẳng, trung cấp hoặc có chứng chỉ nghề.
Theo quy định hiện hành, người lao động và người sử dụng lao động đều đóng 1% tiền lương làm căn cứ tham gia quỹ. Nguồn quỹ này không chỉ phục vụ chi trả trợ cấp thất nghiệp mà còn dành một phần đáng kể cho các hoạt động tư vấn, giới thiệu việc làm và hỗ trợ đào tạo nghề.
Chính đặc điểm này đã tạo nên sự khác biệt của BHTN so với các chính sách an sinh khác. Nếu như trước đây, trợ cấp thất nghiệp chủ yếu mang tính hỗ trợ ngắn hạn thì hiện nay, BHTN được định hướng như một công cụ chủ động thúc đẩy thị trường lao động vận hành hiệu quả hơn. Người lao động không bị “đứt gãy” hoàn toàn khỏi thị trường mà được dẫn dắt quay trở lại thông qua hệ thống dịch vụ việc làm.
![]()
Trong quý I, gần 23.000 người hưởng bảo hiểm thất nghiệp đã được giới thiệu việc làm, hơn 5.800 người được hỗ trợ học nghề. Đây được xem là giải pháp lâu dài nhằm giúp người lao động, đặc biệt là nhóm trung niên, nâng cao kỹ năng và sớm quay lại thị trường. Đồng thời là nguồn dữ liệu lớn về lao động đang cần việc làm, nếu được khai thác hiệu quả sẽ trở thành “đầu vào” quan trọng cho các hoạt động kết nối cung - cầu.
Một trong những kênh quan trọng để sử dụng nguồn lực BHTN là hệ thống trung tâm dịch vụ việc làm. Đây là nơi tiếp nhận hồ sơ hưởng trợ cấp; thực hiện tư vấn nghề nghiệp, giới thiệu việc làm và tổ chức các phiên giao dịch lao động.
Thông qua quá trình tiếp nhận và xử lý hồ sơ, hệ thống này nắm bắt khá đầy đủ thông tin về trình độ, kỹ năng, kinh nghiệm và nhu cầu của người lao động. Trên cơ sở đó, các trung tâm dịch vụ việc làm tiến hành kết nối với doanh nghiệp đang có nhu cầu tuyển dụng, tạo ra dòng chảy thông tin hai chiều.
Trong năm 2025, khi số lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ đạt khoảng 29,6% lực lượng lao động , việc phân loại và kết nối đúng đối tượng trở nên đặc biệt quan trọng. Những lao động có kỹ năng phù hợp được giới thiệu trực tiếp tới doanh nghiệp, trong khi nhóm lao động còn thiếu kỹ năng sẽ được định hướng tham gia các khóa đào tạo ngắn hạn từ nguồn kinh phí BHTN.
Đáng chú ý, nhiều địa phương đã tổ chức các phiên giao dịch việc làm định kỳ, chuyên đề hoặc trực tuyến, tạo điều kiện để người lao động tiếp cận cơ hội việc làm một cách nhanh chóng. Đây là mô hình giúp rút ngắn khoảng cách giữa cung và cầu lao động, giảm chi phí tìm kiếm việc làm cho cả hai phía.
Đào tạo nghề: “Cầu nối mềm” giữa thất nghiệp và việc làm
Điểm nhấn trong việc sử dụng nguồn lực BHTN là hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao kỹ năng nghề. Trước thực trạng thị trường lao động đang chuyển dịch mạnh theo hướng công nghiệp và dịch vụ, nhu cầu về lao động có kỹ năng ngày càng cao, trong khi một bộ phận người lao động mất việc lại chưa đáp ứng được yêu cầu mới.
Tỷ lệ lao động qua đào tạo có xu hướng tăng, song vẫn còn khoảng hơn 60% lao động chưa có bằng cấp, chứng chỉ chính quy. Đây cũng là yếu tố tạo ra khoảng cách đáng kể giữa cung và cầu lao động, nhất là ở các ngành có hàm lượng công nghệ cao.
![]()
Nguồn kinh phí từ BHTN được sử dụng để hỗ trợ học nghề cho người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp. Các khóa đào tạo thường được thiết kế ngắn hạn, gắn với nhu cầu tuyển dụng thực tế của doanh nghiệp. Nhờ đó, người lao động có thể nhanh chóng thích ứng với yêu cầu mới của thị trường. Đặc biệt, việc kết hợp giữa đào tạo và giới thiệu việc làm đã tạo thành một chu trình khép kín: từ tiếp nhận, hỗ trợ , nâng cao kỹ năng và kết nối việc làm. Đây chính là cơ chế giúp BHTN phát huy hiệu quả trong việc điều tiết thị trường lao động.
Sự phát triển của công nghệ số đang mở ra hướng tiếp cận mới trong việc kết nối cung – cầu lao động. Các sàn giao dịch việc làm trực tuyến, cơ sở dữ liệu quốc gia về lao động và hệ thống thông tin thị trường lao động đang từng bước được hoàn thiện.
Luật Việc làm năm 2025 (có hiệu lực từ năm 2026) đã đặt nền tảng pháp lý cho việc xây dựng hệ thống thông tin thị trường lao động đồng bộ, liên thông giữa các địa phương. Khi dữ liệu về người lao động và nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp được số hóa và cập nhật thường xuyên, việc kết nối sẽ trở nên nhanh chóng, chính xác và minh bạch hơn.
Hiện nay, nguồn dữ liệu từ hệ thống BHTN, bao gồm hồ sơ người lao động thất nghiệp, nhu cầu học nghề, lịch sử việc làm đã trở thành một phần quan trọng của hệ sinh thái dữ liệu lao động quốc gia. Đây là cơ sở để phân tích xu hướng, dự báo nhu cầu và đưa ra các chính sách điều tiết phù hợp.
Mặc dù đã đạt được nhiều kết quả tích cực, việc kết nối cung - cầu lao động thông qua nguồn lực BHTN vẫn còn một số hạn chế. Tình trạng mất cân đối cục bộ giữa cung và cầu lao động vẫn còn diễn ra, đặc biệt ở các ngành đòi hỏi kỹ năng cao. Một bộ phận người lao động chưa chủ động tham gia các hoạt động đào tạo, nâng cao kỹ năng; trong khi đó, doanh nghiệp cũng gặp khó khăn trong việc tìm kiếm lao động phù hợp.
Để nâng cao hiệu quả, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước, trung tâm dịch vụ việc làm và doanh nghiệp. Đồng thời, cần tăng cường đầu tư cho hệ thống thông tin thị trường lao động, đẩy mạnh chuyển đổi số và nâng cao chất lượng dịch vụ tư vấn, giới thiệu việc làm. Bên cạnh đó, việc thiết kế các chương trình đào tạo nghề cần gắn chặt hơn với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp, tránh tình trạng đào tạo không phù hợp dẫn đến lãng phí nguồn lực.
Có thể nói, việc khai thác hiệu quả nguồn lực từ BHTN, kết hợp với chuyển đổi số và nâng cao chất lượng dịch vụ việc làm, sẽ góp phần hình thành một thị trường lao động hiện đại, linh hoạt và bền vững hơn trong giai đoạn phát triển mới của đất nước./.
Thục Quyên
Tin tức cùng chuyên mục
Bài viết cùng tác giả