Ảnh minh họa.
Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng
Nghị định số 161/2026/NĐ-CP được ban hành trên cơ sở Luật Tổ chức Chính phủ số 63/2025/QH15, Bộ luật Lao động số 45/2019/QH14, Nghị quyết số 142/2024/QH15 và Nghị quyết số 265/2025/QH15 của Quốc hội khóa XV, theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Nội vụ.
Nghị định quy định mức lương cơ sở áp dụng đối với người hưởng lương, phụ cấp và chế độ tiền thưởng áp dụng đối với người hưởng lương làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội trực thuộc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức xã hội thực hiện nhiệm vụ được Nhà nước giao, ở trung ương, ở cấp tỉnh, ở cấp xã (xã, phường, đặc khu trực thuộc cấp tỉnh), ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt và lực lượng vũ trang.
Đối tượng áp dụng mức lương cơ sở gồm: cán bộ, công chức từ trung ương đến cấp xã theo quy định của Luật Cán bộ, công chức; viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của Luật Viên chức; người làm việc theo chế độ hợp đồng lao động trong cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập thuộc trường hợp được áp dụng hoặc có thỏa thuận xếp lương theo Nghị định số 204/2004/NĐ-CP; người làm việc trong chỉ tiêu biên chế tại các hội được ngân sách nhà nước hỗ trợ kinh phí hoạt động theo Nghị định số 126/2024/NĐ-CP; sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng, công chức quốc phòng và lao động hợp đồng thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam; sĩ quan, hạ sĩ quan hưởng lương, công nhân công an và lao động hợp đồng thuộc Công an nhân dân; người làm việc trong tổ chức cơ yếu; hạ sĩ quan, binh sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam và hạ sĩ quan, chiến sĩ nghĩa vụ Công an nhân dân; người hoạt động không chuyên trách ở thôn và tổ dân phố.
Đáng chú ý, đối tượng áp dụng chế độ tiền thưởng được giới hạn hơn so với đối tượng áp dụng mức lương cơ sở. Đó là người hưởng lương quy định tại các điểm a, b, c, d, đ, e và g khoản 1 Điều 2 (không bao gồm các đối tượng hưởng phụ cấp, sinh hoạt phí).
Mức lương cơ sở 2.530.000 đồng/tháng
Theo Điều 3 của Nghị định, từ ngày 01/7/2026, mức lương cơ sở là 2.530.000 đồng/tháng, thay thế mức lương cơ sở quy định tại Nghị định số 73/2024/NĐ-CP. Mức lương cơ sở là căn cứ để tính mức lương trong các bảng lương, mức phụ cấp và thực hiện các chế độ khác theo quy định của pháp luật; tính mức hoạt động phí, sinh hoạt phí; tính các khoản trích và các chế độ được hưởng theo mức lương cơ sở.
Đối với các cơ quan, đơn vị đang được áp dụng cơ chế tài chính, thu nhập đặc thù ở trung ương theo điểm c khoản 6.2 Nghị quyết số 142/2024/QH15, Nghị định quy định thực hiện bảo lưu phần chênh lệch giữa tiền lương và thu nhập tăng thêm tháng 6/2026 với tiền lương từ ngày 01/7/2026 sau khi sửa đổi hoặc bãi bỏ cơ chế tài chính, thu nhập đặc thù. Trong thời gian chưa sửa đổi hoặc bãi bỏ các cơ chế này, mức tiền lương và thu nhập tăng thêm hàng tháng được tính theo mức lương cơ sở 2.530.000 đồng/tháng theo cơ chế đặc thù, bảo đảm không vượt quá mức tiền lương và thu nhập tăng thêm được hưởng tháng 6/2026 (không bao gồm phần tăng thêm do điều chỉnh hệ số tiền lương ngạch, bậc khi nâng ngạch, nâng bậc).
Đối với các cơ quan, đơn vị đang bảo lưu phần chênh lệch giữa tiền lương và thu nhập tăng thêm tháng 6/2024 với tiền lương từ ngày 01/7/2024, thực hiện giảm phần chênh lệch bảo lưu tương ứng với tỷ lệ tăng lương cơ sở từ ngày 01/7/2026. Trường hợp tính theo nguyên tắc nêu trên mà mức tiền lương và thu nhập tăng thêm từ ngày 01/7/2026 thấp hơn mức tiền lương theo quy định chung thì thực hiện chế độ tiền lương theo quy định chung.
Nghị định cũng xác lập nguyên tắc điều chỉnh dài hạn: Chính phủ điều chỉnh mức lương cơ sở sau khi báo cáo Quốc hội xem xét, quyết định phù hợp với khả năng ngân sách nhà nước, chỉ số giá tiêu dùng và tốc độ tăng trưởng kinh tế của đất nước.
Chế độ tiền thưởng gắn với kết quả công tác
Chế độ tiền thưởng được thực hiện trên cơ sở thành tích công tác đột xuất và kết quả theo dõi, đánh giá, xếp loại chất lượng hàng năm. Tiền thưởng được dùng để thưởng đột xuất theo thành tích công tác và thưởng định kỳ hàng năm, căn cứ theo kết quả theo dõi, đánh giá hàng quý, 06 tháng và xếp loại chất lượng hàng năm của từng người trong danh sách trả lương của cơ quan, đơn vị.
Việc thực hiện căn cứ vào Quy chế tiền thưởng do người đứng đầu đơn vị lực lượng vũ trang (theo quy định của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an); người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền quản lý hoặc được phân cấp thẩm quyền quản lý cán bộ, công chức; và người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập xây dựng, ban hành. Quy chế tiền thưởng được gửi cho cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp để quản lý, kiểm tra và thực hiện công khai trong cơ quan, đơn vị.
Quy chế tiền thưởng phải bao gồm các nội dung: phạm vi và đối tượng áp dụng; tiêu chí thưởng theo thành tích công tác đột xuất và căn cứ theo kết quả theo dõi, đánh giá hàng quý, 06 tháng, xếp loại chất lượng hàng năm; mức tiền thưởng cụ thể đối với từng trường hợp, không nhất thiết phải gắn với mức lương theo hệ số lương của từng người; quy trình, thủ tục xét thưởng; và các quy định khác theo yêu cầu quản lý của cơ quan, đơn vị nếu cần thiết.
Về nguồn lực, quỹ tiền thưởng hàng năm nằm ngoài quỹ khen thưởng theo quy định của Luật Thi đua, khen thưởng và được xác định bằng 10% tổng quỹ tiền lương (không bao gồm phụ cấp) theo chức vụ, chức danh, ngạch, bậc và cấp bậc quân hàm của các đối tượng trong danh sách trả lương của cơ quan, đơn vị. Đến hết năm ngân sách, kể cả thời gian chỉnh lý quyết toán, nếu cơ quan, đơn vị không sử dụng hết quỹ tiền thưởng của năm thì hủy dự toán (đối với trường hợp dư dự toán) hoặc nộp ngân sách nhà nước (đối với trường hợp dư tạm ứng).
Nguồn kinh phí thực hiện
Đối với các bộ, cơ quan trung ương, nguồn kinh phí gồm: 10% tiết kiệm chi thường xuyên (trừ các khoản tiền lương, phụ cấp theo lương, khoản có tính chất lương và các khoản chi cho con người theo chế độ) của dự toán năm 2026 tăng thêm so với dự toán năm 2025 đã được cấp có thẩm quyền giao; tối thiểu 40% số thu được để lại theo chế độ năm 2026 sau khi trừ các chi phí liên quan trực tiếp, riêng số thu từ cung cấp dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh, y tế dự phòng và dịch vụ y tế khác của cơ sở y tế công lập sử dụng tối thiểu 35%; và nguồn thực hiện cải cách tiền lương năm 2025 chưa sử dụng hết chuyển sang (nếu có).
Đối với các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, nguồn kinh phí gồm: 70% tăng thu ngân sách địa phương năm 2025 so với dự toán được Thủ tướng Chính phủ giao; 50% tăng thu ngân sách địa phương dự toán các năm 2026, 2025, 2024 so với dự toán năm trước; 10% tiết kiệm chi thường xuyên (gồm các phần dự toán chi thường xuyên năm 2023, 2024, 2025, 2026 theo nguyên tắc tăng thêm so với năm liền trước); nguồn thực hiện cải cách tiền lương đến hết năm 2025 còn dư chuyển sang; kinh phí ngân sách địa phương tiết kiệm chi hỗ trợ hoạt động thường xuyên do tinh giản biên chế, sắp xếp tổ chức bộ máy thực hiện mô hình chính quyền địa phương 02 cấp; và tối thiểu 40% số thu được để lại theo chế độ năm 2026 (riêng lĩnh vực y tế công lập tối thiểu 35%). Các khoản tăng thu nêu trên không kể thu tiền sử dụng đất, xổ số kiến thiết, thu cổ phần hóa và thoái vốn doanh nghiệp nhà nước do địa phương quản lý và các khoản được loại trừ theo Nghị quyết của Quốc hội, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
Ngân sách trung ương bổ sung phần kinh phí còn thiếu do điều chỉnh mức lương cơ sở và thực hiện chế độ tiền thưởng năm 2026 cho các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan khác ở trung ương và các tỉnh, thành phố sau khi đã thực hiện các nguồn nêu trên. Riêng các đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư (nhóm 1) và tự bảo đảm chi thường xuyên (nhóm 2) tự bảo đảm kinh phí thực hiện theo Nghị định số 60/2021/NĐ-CP và Nghị định số 111/2025/NĐ-CP.
Trách nhiệm tổ chức thực hiện
Nghị định quy định rõ trách nhiệm của từng cơ quan. Bộ Nội vụ hướng dẫn thực hiện các quy định về mức lương cơ sở đối với các đối tượng hưởng lương, phụ cấp trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội và hội. Bộ Quốc phòng, Bộ Công an hướng dẫn thực hiện đối với các đối tượng thuộc phạm vi quản lý.
Bộ Tài chính hướng dẫn việc xác định nhu cầu, nguồn và phương thức chi thực hiện mức lương cơ sở và chế độ tiền thưởng, phạm vi trích số thu được để lại; hướng dẫn việc chi tiền lương và thu nhập đối với các cơ quan, đơn vị đang thực hiện cơ chế tài chính, thu nhập đặc thù ở trung ương trong thời gian chưa sửa đổi hoặc bãi bỏ; đồng thời tổng hợp nhu cầu nguồn và trình cấp có thẩm quyền bổ sung kinh phí còn thiếu. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này. Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026; Nghị định số 73/2024/NĐ-CP ngày 30/6/2024 hết hiệu lực kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực.
Với cách tiếp cận đồng bộ, vừa điều chỉnh mức lương cơ sở, vừa thiết lập chế độ tiền thưởng gắn với kết quả công tác, đồng thời xác định rõ nguồn kinh phí và phân định trách nhiệm của từng cơ quan, Nghị định số 161/2026/NĐ-CP tạo hành lang pháp lý đầy đủ, minh bạch để các bộ, ngành, địa phương tổ chức triển khai đúng, đủ, kịp thời. Đây cũng là bước cụ thể hóa định hướng trả lương, thưởng theo vị trí việc làm và hiệu quả công việc, góp phần động viên, khuyến khích đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang yên tâm công tác, nâng cao chất lượng phục vụ Nhân dân./.
Thu Thảo
Tin tức cùng chuyên mục
Bài viết cùng tác giả